rèm cửa tphcm

rèm cửa sổ

rèm vải

rèm cuốn

rèm roman

rèm văn phòng

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

rèm cầu vồng

Rèm vải phòng khách

rèm vải chống nắng

Rèm cửa sổ

Rèm vải

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cuốn

Rèm văn phòng

Rèm gia đình

Rèm cầu vồng

Rèm sáo gỗ

Rèm sáo nhôm

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cầu vồng

Rèm cuốn

Rèm gỗ

Rèm lá dọc

màn cửa đẹp

rèm vải

rèm gia đình

rèm văn phòng

rèm cầu vồng

rèm cuốn

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

màn cửa hcm

màn cửa

màn vải

màn cuốn

màn cầu vồng

màn cầu vồng

màn cửa

màn vải đẹp

rèm cửa tphcm

rèm động cơ

rèm cuốn

rèm vải phòng khách

rèm vải phòng ngủ

rèm cầu vồng

rèm sáo

rèm nhôm

rèm roman

rèm sáo gỗ

rèm gỗ màu đen hà nội

rèm roman chống nắng hà nội

rèm vải cản nắng chống cháy

rèm cuốn chống cháy

rèm y tế kháng khuẩn

rèm cầu vồng kháng khuẩn

rèm cuốn in tranh trường học

rèm sáo nhựa giả gỗ

rèm cuốn không cẩn khoan tường

rèm phòng tắm giá rẻ

rèm cuốn xuyên sáng nhà hàng

rèm cửa

rèm cửa

Author Archives: khoahx

Toàn văn Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa XII

“NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế


I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện và đạt được kết quả bước đầu. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý. Mô hình tăng trưởng từng bước chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu; năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và năng lực cạnh tranh quốc gia được cải thiện. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Nguồn nhân lực và khoa học – công nghệ có bước phát triển. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, quan tâm đầu tư.
Cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng đạt kết quả bước đầu, không để xảy ra tình trạng đổ vỡ, mất an toàn hệ thống. Nợ xấu và các ngân hàng yếu kém đang từng bước được xử lý. Quản trị doanh nghiệp nhà nước và quản lý vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục được hoàn thiện. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá; vốn đầu tư nhà nước tiếp tục được bảo toàn và phát triển. Hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, bước đầu hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải.
Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, phương thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới; sản xuất công nghiệp từng bước được phục hồi; giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá. Hội nhập kinh tế quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả tích cực; đã hoàn tất việc đàm phán, ký kết một số hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA).
Tuy nhiên, nhìn chung mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm được đổi mới; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng thấp. Phương thức phân bổ nguồn lực xã hội chưa có sự thay đổi rõ rệt; năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp còn thấp. Kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, bội chi ngân sách còn lớn, nợ công tăng nhanh, nợ chính phủ đã vượt trần cho phép, áp lực trả nợ lớn.
Việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được cải thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều trở ngại. Việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại còn nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cơ cấu lại nền kinh tế triển khai chậm, thiếu đồng bộ, chưa thật sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; chưa gắn kết chặt chẽ giữa tổng thể với các trọng tâm. Cơ cấu lại đầu tư chưa gắn với cơ cấu lại tài chính ngân sách nhà nước, bảo đảm an toàn nợ công. Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn; nợ xấu tiềm ẩn trong nền kinh tế còn cao, an toàn hệ thống còn nhiều bất cập; thiếu cơ chế xử lý dứt điểm, triệt để các tổ chức tín dụng yếu kém và nợ xấu. Ðổi mới, sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chưa đạt yêu cầu, tỉ lệ vốn được cổ phần hoá thấp; quản trị doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém.
Cơ cấu lại nông nghiệp chưa thực sự gắn với xây dựng nông thôn mới; sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún, phân tán; liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ còn nhiều bất cập; sự tham gia và đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa thực chất, hiệu quả thấp.
Cơ chế, chính sách điều phối phát triển vùng chưa đủ mạnh. Sự phát triển giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng còn thiếu tính liên kết, bị giới hạn bởi địa giới hành chính; chưa phát huy được các lợi thế cạnh tranh của từng địa phương và của toàn vùng; một số vùng kinh tế trọng điểm chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa phát huy được vai trò đầu tàu, trở thành trung tâm kết nối cho phát triển kinh tế vùng.
Những yếu kém, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đầy đủ, có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ. Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế ở các cấp, các ngành và địa phương còn thụ động, chậm trễ. Đột phá về thể chế, nhất là thể chế thị trường các yếu tố sản xuất để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực phát triển còn bất cập. Đổi mới, hoàn thiện thể chế bên trong và hội nhập với bên ngoài chưa được tiến hành đồng bộ; hội nhập quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.
II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
1- Quan điểm, định hướng đổi mới
– Đổi mới mô hình tăng trưởng là để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện về cả kinh tế, xã hội và môi trường. Không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái.
– Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trí sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại, mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước.
Tuỳ theo tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực và địa phương mà kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo. Chuyển dần từ tăng chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực.
– Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; cơ cấu lại đầu tư công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công; cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công.
– Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay. Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Toàn hệ thống chính trị và toàn dân, nhất là đội ngũ trí thức, các doanh nhân, doanh nghiệp cần chủ động, sáng tạo, tích cực tham gia và có nhiều đóng góp to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
2- Một số mục tiêu cụ thể
– Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP.
– Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016 – 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.
– Giai đoạn 2016 – 2020, hằng năm có khoảng 30 – 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2020.
– Đến năm 2020, tỉ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỉ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.
– Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 30 – 35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.
III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN
1- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô
Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước và nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; xử lý có hiệu quả nợ xấu của nền kinh tế gắn với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém.
2- Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược
2.1- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là:
– Hoàn thiện thể chế về cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp nhà nước; thể chế về tài sản và quyền về tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ tài sản); thể chế về thị trường các yếu tố sản xuất, bảo đảm để thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực; thực hiện phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường vào những ngành, lĩnh vực và vùng có hiệu quả cao, có tác động lan toả. Khắc phục tư tưởng bao cấp, xin – cho, ỷ lại của các cấp, ngành, địa phương và trong xã hội.
– Phát triển thị trường tài chính một cách cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; giữa thị trường vốn cổ phiếu và trái phiếu; giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; giữa dịch vụ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; quan tâm phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và tín dụng tiêu dùng.
– Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư theo mức độ hiệu quả kinh tế dự tính của dự án. Có chính sách thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh, tạo niềm tin để doanh nghiệp, người dân, kiều bào ta ở nước ngoài đầu tư vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.
– Khuyến khích và tạo thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, phát triển doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, tăng cường kết nối và phát huy tác động lan toả với các khu vực kinh tế trong nước.
– Hoàn thiện luật pháp liên quan về đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp; phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất, bao gồm cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, nhất là đối với đất nông nghiệp.
– Tiếp tục hoàn thiện luật pháp về lao động và thị trường lao động; tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động ở trong nước.
– Hoàn thiện chính sách, luật pháp, nâng cao năng lực thực thi pháp luật về môi trường; khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt quan tâm các khu vực trọng điểm; giám sát các vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
– Nghiên cứu, xây dựng thể chế vượt trội cho những địa phương, vùng kinh tế động lực, khu hành chính – kinh tế đặc biệt để thực hiện tốt vai trò đầu tàu, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
2.2- Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án. Tập trung vốn đầu tư công và các nguồn vốn đầu tư khác để thực hiện một số dự án đầu tư hạ tầng trọng điểm và tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Sớm triển khai xây dựng một số khu hành chính – kinh tế đặc biệt; ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh.
2.3- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực hiện tốt cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; coi trọng đào tạo đại học và trên đại học, cao đẳng và dạy nghề theo chuẩn khu vực và quốc tế. Tạo chuyển biến nhanh và rõ nét trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế; nâng cao năng lực, trình độ quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hoá, giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề công lập; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề.
3- Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế
– Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ. Thực hiện cơ chế đối ứng hợp tác công – tư để doanh nghiệp khai thác có hiệu quả các dự án đổi mới công nghệ, sáng tạo, nghiên cứu và phát triển.
– Tiếp tục phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo. Xây dựng và thực hiện chính sách nhập khẩu công nghệ.
– Xây dựng, vận hành có hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu và thực hành tốt nhất về năng suất lao động để theo dõi tình hình thực hiện và phân tích, đánh giá, dự báo.
4- Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm
4.1- Về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước
– Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Xác định cụ thể phạm vi, ngành nghề đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cơ cấu lại danh mục vốn đầu tư nhà nước trong các ngành, nghề theo quy định.
– Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư của Nhà nước một cách công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước; có cơ chế kiểm soát phù hợp nguồn vốn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp; các doanh nghiệp cổ phần hoá phải niêm yết trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu; thu hút nhà đầu tư chiến lược có năng lực, giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị doanh nghiệp một cách thực chất.
– Xây dựng Đề án thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định; sớm xoá bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, uỷ ban nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế.
– Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện biện pháp phá sản doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.
– Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ việc vay nợ và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới.
4.2- Về cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng
– Tiếp tục lành mạnh hoá tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế. Từng bước xử lý và xoá bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo trong các tổ chức tín dụng có liên quan; đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của các ngân hàng thương mại.
– Ban hành các quy định hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; giao thẩm quyền và nâng cao năng lực của Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ; đồng thời, bố trí nguồn lực phù hợp để xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu trong nền kinh tế.
– Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, quản trị rủi ro các tổ chức tín dụng. Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; xử lý căn bản và triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống.
4.3- Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công
– Rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá xây dựng, suất đầu tư của các ngành kinh tế. Thực hiện cơ cấu lại đầu tư công gắn với cơ cấu lại tài chính, ngân sách nhà nước và nợ công; thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch vay, trả nợ công.
– Công khai, minh bạch thông tin và tăng cường giám sát đối với đầu tư công. Triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Tập trung tháo gỡ vấn đề chi ngân sách, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài. Xác định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư.
4.4- Đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập
– Tiếp tục thực hiện giao quyền tự chủ đầy đủ về tài chính, tổ chức, biên chế và hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công lập; tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, điều chỉnh giá các loại dịch vụ công theo cơ chế thị trường; chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập. Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ công; phát triển thị trường dịch vụ công có sự quản lý, điều tiết phù hợp của Nhà nước.
– Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện hạch toán như doanh nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện, cổ phần hoá các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện, trừ các bệnh viện, trường học; giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động kém hiệu quả; không để cổ phần hoá thành tư nhân hoá và xã hội hoá thành thương mại hoá dịch vụ công.
4.5- Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
– Nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học – công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; chuyển mạnh từ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang sản xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả, có giá trị gia tăng cao, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng để lựa chọn phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng và cả nước.
– Tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả đã được kiểm chứng; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong nước và ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn; có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
– Phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, góp phần tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
– Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam; có chính sách phù hợp để phát triển và tiêu thụ đối với các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, có lợi thế quốc gia, lợi thế địa phương và các đặc sản vùng, miền.
– Tiếp tục đầu tư phát triển, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; tăng cường năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, hợp tác sử dụng có hiệu quả, bền vững nguồn nước xuyên quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái.
4.6- Cơ cấu lại một cách thực chất các ngành công nghiệp
– Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia, tạo khuôn khổ chính sách đồng bộ, trọng tâm, đột phá hướng vào tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
– Tập trung vào những ngành công nghiệp nền tảng, có lợi thế cạnh tranh và có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng nhanh, bền vững; lựa chọn sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chủ lực để ưu tiên phát triển, cơ cấu lại; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng mạnh năng suất nội bộ ngành, tăng hàm lượng công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm.
– Chú trọng phát triển công nghiệp sản xuất linh kiện, cụm linh kiện, thúc đẩy một số mặt hàng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị, phân phối toàn cầu.
4.7- Thực hiện cơ cấu lại và phát triển nhanh các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP
– Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ tiềm năng, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như tài chính, ngân hàng, hàng hải, logistics, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hàng không, dịch vụ thương mại; dịch vụ giáo dục, đào tạo; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ; các loại dịch vụ kiểm toán, tư vấn, pháp lý…
– Thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển du lịch quốc gia, tạo chuyển biến mạnh để đến năm 2020 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
5- Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế
– Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại để làm nòng cốt, mũi nhọn phát triển kinh tế, cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, nâng cao sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.
– Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp chính thức có đăng ký, giảm dần và thu hẹp quy mô kinh doanh phi chính thức.
– Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm cơ bản gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; đổi mới cách thức quản lý và thái độ làm việc của cán bộ, công chức theo hướng hỗ trợ và phục vụ doanh nghiệp; công khai, minh bạch, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước, xử lý nghiêm các tiêu cực, nhũng nhiễu.
6- Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá
– Hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực thực thi các quy hoạch phát triển kinh tế vùng; nâng cao năng lực các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong chỉ đạo tổ chức thực hiện các quy hoạch phát triển vùng và chỉ đạo, giám sát liên kết, phối hợp phát triển kinh tế giữa các địa phương trong vùng.
– Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và hình thành thể chế điều phối phát triển kinh tế theo vùng. Các địa phương trong vùng phối hợp xây dựng các đề án, thoả thuận phối hợp, liên kết phát triển kinh tế – xã hội; phối hợp ban hành và thực hiện chính sách thu hút đầu tư, xúc tiến đầu tư, ưu tiên các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh.
– Thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị, hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế đô thị, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý của chính quyền đô thị. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể đô thị quốc gia với tầm nhìn đến năm 2050.
7- Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh
– Chính sách quốc phòng, an ninh phải tạo thuận lợi và hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời, phát triển kinh tế phải góp phần gia tăng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tiên tiến, hiện đại. Các dự án phát triển kinh tế, xã hội trong các khu vực phòng thủ, tuyến biên giới và vị trí chiến lược phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
– Ưu tiên phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành khai thác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển; khai thác và chế biến hải sản, các dịch vụ hậu cần nghề cá; du lịch biển, đảo. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ sản xuất và đời sống vùng biển, đảo. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người dân định cư lâu dài trên các đảo.
8- Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước
– Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng xây dựng nhà nước quản lý và phục vụ; đồng thời, tăng cường khả năng điều tiết, giám sát, kiểm tra và thanh tra theo mức độ rủi ro và tuân thủ pháp luật của đối tượng quản lý; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật.
– Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện điện tử hoá nghiệp vụ quản lý nhà nước và xã hội hoá việc xây dựng các dữ liệu thông tin quản lý nhà nước.
– Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế gắn với cải cách tiền lương; đổi mới mạnh mẽ quy trình, phương thức tổ chức tuyển dụng, sử dụng, trả lương, đánh giá, đề bạt cán bộ; thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ chủ yếu dựa trên thành tích, kết quả công việc; tăng cường trách nhiệm giải trình của người đứng đầu đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của đơn vị.
– Tăng cường năng lực các cơ quan chức năng quản lý và giám sát thị trường. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, liêm chính, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Các ban đảng Trung ương, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; xác định nhiệm vụ, chủ trương, các giải pháp phù hợp, cụ thể thực hiện ngay trong phạm vi tổ chức, cơ quan, đơn vị, ngành và địa phương.
2- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp hỗ trợ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tăng cường giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
3- Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương:
– Xây dựng kế hoạch hành động với lộ trình và phân công cụ thể trách nhiệm cho các tổ chức, đơn vị thực hiện phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực, địa phương và đơn vị.
– Tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách và trọng tâm sau:
+ Đẩy mạnh cơ cấu lại đầu tư công; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tham nhũng, lãng phí, nợ đọng xây dựng cơ bản.
+ Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; thực hành triệt để tiết kiệm chi tiêu trong khả năng của nền kinh tế, chỉ vay trong khả năng trả nợ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước.
+ Xử lý có hiệu quả các tổ chức tín dụng yếu kém, tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu của nền kinh tế một cách căn bản và triệt để; từng bước xử lý và xoá bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo; đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của các ngân hàng thương mại.
+ Đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư nhà nước một cách minh bạch, thực chất, thận trọng theo cơ chế thị trường; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ không thể phục hồi.
+ Đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại và giao quyền tự chủ đầy đủ cho các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Phát huy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ và phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng.
+ Tập trung, tích tụ ruộng đất, cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới có hiệu quả, phù hợp với thực tế biến đổi khí hậu.
4- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch tham gia và giám sát kết quả thực hiện Nghị quyết.
5- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các cơ quan thông tin, báo chí tổ chức tuyên truyền sâu, rộng và liên tục về Nghị quyết, kết quả thực hiện, những cách làm sáng tạo, điển hình tốt; phê bình những cá nhân, tổ chức chần chừ, thiếu tích cực, thụ động hoặc thực hiện không đạt kết quả như yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.

6- Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban cán sự đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nguồn : Laodong.com.vn

Tầm cao thợ mỏ và chiều sâu nguồn than – Phần III: Khi thợ mỏ thực sự làm chủ vùng than

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Ngày 10/10, bộ đội ta tiến vào Hà Nội, nhưng Hải Phòng và vùng Mỏ nằm trong khu vực tập kết của quân Pháp, phải sau 300 ngày mới được tiếp quản.

Không khí sản xuất than những năm đầu giải phóng. Ảnh: T.L

Ba trăm ngày đó ở Cẩm Phả – Hòn Gay vô cùng lộn xộn. Người Pháp lo thu gom, tháo dỡ thiết bị, quân phỉ của Voàng A Sáng tràn về cướp phá, cùng với những gia đình thiên chúa giáo quyết đi vào Nam đang cố vận động thêm nhiều bạn bè thợ mỏ cùng đi. Chủ mỏ muốn đem đi tất cả những loại thiết bị hiện đại, còn tốt và cho phá toàn bộ hệ thống vận tải đường trục, băng tải , máng cào, các trạm biến thế, nhà ga, đường sắt, cầu tàu…

Tổ chức Đảng, Công đoàn cơ sở, dù không thể ngăn cản mọi việc làm của người Pháp, nhưng đã vận động công nhân cương quyết đấu tranh giữ lại bằng được những thiết bị tối tân nhất và ghi chép cẩn thận mọi hành vi phá dây chuyền sản xuất. Hàng trăm thợ mỏ Đèo Nai túc trực suốt ngày đêm quanh các trạm đường trục, quanh chiếc máy xúc A1/7 với anh Nguyễn Tiến Tràng – người trực tiếp lái máy đã cho dán niêm phong quanh chiếc máy và cử người thay nhau nằm trong chiếc gầu xúc 4,6 khối canh phòng. Hàng trăm thợ mỏ cầm gậy, búa vây quanh 5 chiếc xe Eclis 27 tấn chở nặng đất đá, phủ bạt kín mít. Hầu như toàn bộ thợ cơ khí được giao nhiệm vụ tháo dỡ thiết bị đã được cha mẹ, vợ con vận động buộc phải nghỉ việc ở nhà. Chủ mỏ đành bất lực phải để lại nguyên vẹn chiếc máy xúc và cả đội xe vận tải của Mỹ sản xuất vô cùng quý giá.

Ngày 8/4/1955, Hiệp định về chuyển giao vùng than Hòn Gay – Cẩm Phả đã được đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết với đại diện Công ty Than Bắc Kỳ (SFCT). Ngày 9/4/1955, SFCT ký hợp đồng nhượng lại tất cả máy móc, thiết bị, kho tàng, vật tư dự trữ cho Bộ Công Thương Việt Nam. Ngày 25/4/1955, những tên lính viễn chinh cuối cùng lên tàu rời khỏi bến Hòn Gay. Bộ đội ta tiến vào tiếp quản vùng Mỏ trong niềm hân hoan chào đón của hàng vạn thợ mỏ.

Việc khôi phục sản xuất than là nhiệm vụ cấp bách vô cùng khó khăn nên Chính phủ đã xin phép Hồ Chủ tịch cho thuê các kỹ sư người Pháp trực tiếp điều hành. Bác đồng ý và chỉ thị cần trọng dụng lại những viên chức đã làm cho người Pháp, nhất là người giàu kinh nghiệm. Sau khi nghe báo cáo là các kỹ sư Pháp ra điều kiện nhanh nhất cũng phải mất hai năm, Bác lắc đầu, nói: “Chỉ hai tháng thôi! Chậm nhất là đến 2/9 phải chở được than Hòn Gay – Cẩm Phả về Hà Nội. Phải động viên mọi năng lực sáng tạo của thợ mỏ, nhất là những thợ bậc cao dày dạn kinh nghiệm”. Bác quyết định dành cho vùng Mỏ một cơ chế đặc biệt, đặt tên là Đặc khu Hồng Quảng (gộp tên cũ Quảng Yên và Hồng Gai theo cách gọi của thợ mỏ chứ không phải là Hòn Gay như người Pháp vẫn dùng). Tuy nhiên vì hai chữ Hòn Gay đã trở thành địa danh có thương cảng lớn nên trong các văn bản của Chính phủ vẫn sử dụng là Hòn Gai (thay chữ Y bằng chữ I ).

Ngày 15/5/1955, Xí nghiệp Than Hòn Gai được thành lập và chính thức hoạt động từ ngày 6/6/1955, nhưng công cuộc khôi phục sản xuất đã được các công trường, nhà máy thực hiện ngay từ đầu tháng 5. Chính phủ giao cho Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng và TP. Hà Nội chọn những cán bộ, sỹ quan, công nhân giỏi nghề, dày dạn kinh nghiệm chi viện toàn diện cho khu Mỏ. Trong số cán bộ trung ương tăng cường cho vùng than đợt đầu tiên có nhiều trí thức là sĩ quan quân đội và cán bộ miền Nam tập kết đầy nhiệt huyết như ông Trương Quang Đẩu – giám đốc đầu tiên của mỏ Cẩm Phả (cha ruột của nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa); ông Nguyễn Tất Dần – một nhà quản lý kinh tế nổi tiếng chặt chẽ, tài trí; các ông: Văn Tôn, Phan Lục, Nguyễn Duyệt học ở Liên Xô… đã trở thành lực lượng nòng cốt đầu tiên của vùng than trên con đường phát triển mới. Đặc biệt, Hà Nội đã chi viện cho khu Mỏ 300 thanh niên lái xe và thợ cơ khí giỏi tham gia vào lực lượng xung kích phục hồi sản xuất.

Khó khăn lớn nhất là phục hồi hệ thống đường trục vận chuyển than và hệ thống thiết bị sàng tuyển bốc rót than ở hai bến Hòn Gay, Cẩm Phả. Người Pháp dù đã có đường ôtô lên khai trường Đèo Nai, có nhiều xe vận tải lớn, nhưng vẫn chọn phương án chuyển than từ đỉnh Đèo Nai xuống bằng hệ thống đường trục với xe goòng kéo tời chạy trên đường ray theo độ dốc lớn vừa rẻ tiền, vừa nhanh và dễ sử dụng, phù hợp với phụ nữ điều khiển. Trước khi tháo chạy, họ đã chặt vụn những cuộn cáp khổng lồ, phá tan hệ thống quang lật, máng ga, băm các cuộn dây mô tơ điện, thậm chí đào cả các trụ bê tông. Hệ thống nhà sàng, đống bến, cầu pooctic rót than cũng bị tháo dỡ, phá hoại rất nặng nề. Nặng nhất là hệ thống điện cao thế, hạ thế bị “băm nát”, mà theo các kỹ sư Pháp được Chính phủ trọng dụng lại đánh giá, phải mất 20 – 24 tháng mới có thể khôi phục được. Điều làm họ kinh ngạc nhất là người thợ điện Lê Văn Hiển ở Cửa Ông đã nhanh chóng đấu nối lại được toàn bộ hệ thống điện chỉ trong hơn 1 tháng. Sau này ông và ông Hồ Xây Dậu ở Cọc Sáu là hai thợ mỏ đầu tiên được phong Anh hùng Lao động.

Cuối cùng thì hệ thống đường Đèo Nai cũng đã chở được những tấn than đầu tiên chỉ sau hơn hai tháng . Ngày 19/8/1955, kỷ niệm 10 năm Cách mạng tháng Tám thành công, tàu than đầu tiên đã về đến Hà Nội báo công với Bác Hồ.

Thực ra từ tháng 10/1954, các công trường than Quán Triều (Thái Nguyên) đã chở hàng ngàn tấn than về bảo đảm cho nhà máy điện Yên Phụ hoạt động và mỏ than Mạo Khê không nằm trong khu “300 ngày” đã ra than ngay từ khi Hà Nội được tiếp quản. Nhờ những nỗ lực sáng tạo phi thường của hơn ba vạn thợ mỏ mà năm 1955, dù chỉ thực sự sản xuất trong 5 tháng, toàn ngành Than vẫn khai thác được 440 ngàn tấn. Phong trào thi đua “Phá kỷ lục” sôi động khắp các công trường, phân xưởng cùng phong trào học bổ túc văn hóa và các hội diễn văn nghệ, thi đấu thể thao diễn ra thường xuyên, tạo nên khí thế mới khi người thợ mỏ thực sự làm chủ vùng than. Năm 1956, sản lượng than đã vượt qua mốc 1 triệu tấn (là sản lượng cao nhất thời thịnh vượng của chủ mỏ Pháp). Để phù hợp với sức phát triển cơ khí hóa vùng than, Chính phủ đã cho thành lập cơ quan Tổng giám đốc Khu mỏ Hồng Quảng do ông Trịnh Nguyên – Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đặc Khu kiêm Tổng giám đốc. Tháng 8/1960, thành lập Công ty Than Hồng Gai với 8 xí nghiệp trực thuộc (tách hai mỏ Cẩm Phả, Hòn Gai) gồm 3 mỏ cơ khí lộ thiên: Cọc Sáu, Đèo Nai, Hà Tu; hai mỏ hầm lò: Hà Lầm, Thống Nhất; hai xí nghiệp Bến Hòn Gai, Bến Cửa Ông và Xí nghiệp Vận tải ôtô Cẩm Phả. Đáp ứng tốc độ cơ khí hóa, Chính phủ cho phép mở các trường đào tạo công nhân, mời các chuyên gia Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan… sang giúp đỡ. Những thiết bị khai thác hiện đại nhất của Liên Xô, Tiệp Khắc đã nhanh chóng được đưa vào sử dụng ở 3 mỏ lộ thiên.

Đây là thời kỳ cả nước hướng về vùng than với niềm tự hào to lớn vì không chỉ có đủ than tiêu dùng mà ngành Than đã tạo được nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. Chỉ sau hơn 5 năm đã sản xuất được hơn 9 triệu tấn than, trong đó xuất khẩu được trên 5,26 triệu tấn.

Nguồn : Baocongthuong.com.vn

Tầm cao thợ mỏ và chiều sâu nguồn than – Phần II: Cuộc tổng đình công vĩ đại

Sau Cách mạng tháng Mười Nga cùng sự hình thành Quốc tế Cộng sản và sự ra đời của tổ chức Đảng, Công đoàn ở vùng Than đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần đấu tranh đòi quyền lợi trong lực lượng thợ mỏ.

Hàng năm, vào ngày 12/11, lãnh đạo và các cán bộ ngành Than đều đến dâng hoa tại Tượng đài kỷ niệm cuộc Tổng đình công vĩ đại

Ngày 7/11/1927, người cộng sản trẻ tuổi Ngô Huy Tăng đã treo lá cờ đỏ búa liềm trên cầu Pooctic số 4 Cửa Ông, công khai kỷ niệm 10 năm Cách mạng tháng Mười Nga, khiến tư bản bản Pháp phải giật mình hoảng sợ. Mật thám Sở Mỏ điên cuồng lùng sục, bắt bớ, đàn áp mọi cuộc tụ họp. Chúng tung tiền mua chuộc, đào tạo một số phu làm nội gián, chỉ điểm, phân hóa đội ngũ thợ mỏ. Nhưng càng đàn áp, thợ mỏ càng đoàn kết và khi có một bộ phận trí thức đã được tổ chức cho đi “vô sản hóa”, tờ báo THAN – tiếng nói đầu tiên của thợ mỏ ra đời. Ngày 1/5/1930, cờ đỏ búa liềm tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ cùng nhiều cuộc đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện điều kiện lao động diễn ra khắp nơi. Ở mỗi khai trường có thêm một hai tên cai người Pháp luôn cầm roi da, xích sắt sẵn sàng quất vào bất cứ ai chểnh mảng, kêu ca. Ở mỗi lán thợ, mật thám cài một, hai tên tay sai luôn theo dõi từng cử chỉ, hành động của “những kẻ cầm đầu”. Nhà tù mọc lên ngay cạnh văn phòng Công ty Than Bắc Kỳ (SFCT) gần bến phà Hòn Gay và nhiều nơi khác. Thường là những đường lò độc đạo chỉ có một cửa ra vào. Nuôi tù là điều các chủ mỏ không bao giờ nghĩ tới nên mật thám Sở Mỏ đã thẳng tay đàn áp hơn là bắt giam.

Sau Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại, cuộc khủng bố trắng đã diễn ra khắp đất nước và vùng Mỏ là nơi bị đàn áp quyết liệt nhất. Hàng loạt thợ mỏ ưu tú đã bị thủ tiêu trong lò sâu, dìm xác xuống vịnh, không cần xét xử. Đến năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp giành được thắng lợi, buộc Chính phủ Pháp phải nơi lỏng hà khắc với các thuộc địa. Các tổ chức Đảng và Công đoàn được khôi phục lại nhanh chóng ở vùng than với những phương sách hành động mới với khẩu hiệu: “Đoàn kết – Đồng tâm – Kiên cường – Bất khuất”. Một số cuộc đình công lẻ tẻ diễn ra ở Mạo Khê, Cái Đá, Lộ Trí… Đỉnh điểm là chiều ngày 12/11/1936, một tên cai người Pháp đánh chết một thợ cơ khí Cẩm Phả, đông đảo phu mỏ đã khiêng xác người thợ lên đặt trước nhà chủ mỏ đòi “nợ máu phải trả bằng máu”. Số người đấu tranh khắp các lán thợ ùn ùn kéo đến quá đông, mật thám Sở Mỏ phải nhờ trại lính đưa quân đến nhưng không dám nổ súng vì phu mỏ cầm xà beng, cuốc gậy dàn hàng ngang với khí thế sục sôi căm thù. Đêm xuống, hàng ngàn ngọn đuốc rừng rực cháy sáng cả một góc trời. Tổ chức Đảng, Công đoàn nhận thấy đây là thời cơ để vận động toàn thể công nhân vùng Than đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi. Một bản kiến nghị đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi cải thiện điều kiện lao động, đòi được phát dụng cụ, quần áo, chăm sóc y tế… nhanh chóng được thảo ra và in trên giấy dó, phát cho các đoàn biểu tình. Ngay trong đêm 12, rạng sáng ngày 13/12, toàn bộ thợ mỏ ở Cẩm Phả – Hòn Gay đều nhận được mật lệnh đình công. Để bảo đảm cho thợ mỏ có đủ lương thực, thực phẩm trong thời gian đình công, tổ chức Công đoàn đã cử người có uy tín đến từng gia đình tiểu thương vận động bán chịu gạo và thực phẩm cho thợ mỏ.

Cuộc Tổng đình công của hơn ba vạn thợ mỏ chính thức diễn ra sáng ngày 13/11, nhanh chóng lan sang Quảng Yên, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội. Công sứ Quảng Yên cho điều thêm lính ra Cẩm Phả, nhưng không thể đàn áp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc đó vừa dạy học, vừa làm báo đã đi xe đạp xuống mỏ viết bài về cuộc tổng đình công đăng trên tờ Lao Động và khẳng định: “Đây là cuộc tổng đình công vĩ đại nhất của lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, có tiếng vang lớn đối với thế giới, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng, góp phần phát triển tổ chức Đảng, tổ chức Công đoàn và các cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước, khiến cho thực dân Pháp phải lo sợ”.

Sang đến ngày thứ 6, tình hình cuộc đình công của hơn ba vạn thợ mỏ đã nhận được sự hưởng ứng của thợ thuyền và nhân dân Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Sài Gòn. Thống sứ Bắc Kỳ vội vàng xuống Hòn Gay khuyên các chủ mỏ chấp nhận yêu sách của công nhân để nhanh chóng lập lại trật tự. Ngày 20/11, SFCT chính thức ký cam kết tăng lương, chấp thuận bảo đảm đời sống và cải thiện điều kiện làm việc. Tầm vóc thợ mỏ vùng Than được nâng cao trong tầm nhìn của cả dân tộc, trong vị thế cách mạng Việt Nam và cả trong quan niệm mới của tư bản Pháp. Thợ mỏ ngẩng cao đầu, phanh ngực áo, nhảy múa trong tiếng trống, tiếng nhị, thi nhau hát chèo thâu đêm. Nhà thờ cũng rung chuông mừng. Đền chùa mở toang cửa mời thợ mỏ đến tụng kinh hỉ xả.

Những người Pháp có văn hóa, có nhân phẩm bừng tỉnh sau cơn mê muội. Họ đã nhận ra sức mạnh vĩ đại và vẻ đẹp của những người phu mỏ lấm lem. Các kỹ sư, viên chức người Pháp thay đổi ngay thái độ đối xử và cách xưng hô. Chủ mỏ ra lệnh từ nay không được đánh đập, chửi rủa phu mỏ. Lần đầu tiên một số thợ được phát quần áo, mũ nhựa, ủng, găng tay đắt tiền. Những cải thiện của chủ mỏ đã làm cho cuộc sống người thợ dễ thở hơn và người Pháp cũng nhận được nhiều lợi ích. Sản lượng của vùng than năm 1939 đã đạt được một triệu tấn, tăng gần gấp đôi. Đây là năm làm ăn thịnh vượng nhất của chủ mỏ Pháp tại Việt Nam.

Thế chiến thứ hai bùng nổ, nước Pháp bị Đức chiếm đóng, rồi Nhật hất Pháp ở Đông Dương nhưng không ảnh hưởng nhiều đến tình hình khai thác than của SFCT. Ngay cả khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập ở vùng Than thì việc sản xuất than vẫn nằm trong tay chủ mỏ Pháp vì là đất nhượng địa và vì công ăn việc làm của hơn ba vạn thợ mỏ. Song, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, hàng trăm thợ mỏ ưu tú đã gia nhập quân đội và Đại đội Hồ Chí Minh đã ra đời do ông Trịnh Nguyên làm Đại đội trưởng, phối hợp với lực lượng của tướng Nguyễn Bình tại Đệ tứ Chiến khu Đông Triều đã có nhiều trận đánh lịch sử. Đáng kể nhất là trận đánh tàu Craysar trên vịnh Hạ Long và trận đánh hạ đồn Hà Lầm đêm 25/12/1946 với gương hy sinh của chú bé Nguyễn Văn Thuộc và tài trí của thợ mỏ Nguyễn Văn Lai.

Khi không công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ đã viện trợ cho Pháp hàng tỷ USD để mở rộng chiến tranh Việt Nam. SFCT nhận được nhiều thiết bị khai thác than của Mỹ, trong đó có máy xúc Bysuris A1/7 và đoàn xe vận tải lớn Eclis hiện đại nhất lúc đó. Người Pháp chọn lọc rất kỹ những người thợ có trình độ, đáng tin cậy đào tạo điều khiển thiết bị mới, chúng canh phòng rất kỹ lưỡng vì sợ biệt động đội của Việt Minh phá hoại. Thực tế đã xảy ra những vụ phá hoại, mất nhiều thuốc nổ, kíp mìn, xăng dầu mà mật thám biết chắc đã được chở bằng thuyền ra chiến khu cho bộ đội. Chủ mỏ Pháp liên tục tăng lực lượng mật thám, xin chi viện nhiều tên sừng sỏ mà Chánh mật thám Sở Mỏ Giooc Ray là một kẻ gian manh vô cùng tàn bạo. Với bất cứ ai bị nghi ngờ có quan hệ với Việt Minh, hắn đều cho tra tấn đủ nhục hình. Chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Đồng đã bị bắn chết khi dám nhổ bọt vào mặt hắn. Chính Giooc Ray đã đích thân tra tấn 5 nữ công nhân trẻ tuổi rồi nửa đêm cho vào bao tải ra nhấn chìm họ ở Vũng Đục. Biết rõ việc này, nhiều kỹ sư Pháp rất bất bình.

Thời gian gần đây, con trai vị kỹ sư trưởng Pháp thời đó trở lại thăm Cẩm Phả đã đến thắp hương tưởng niệm 5 nữ công nhân anh hùng. Gặp tôi, anh nói rằng, cha anh và những người Pháp chân chính luôn yêu quý, ca ngợi những người thợ mỏ Việt Nam hiền hậu, thông minh, sáng tạo, nhưng rất bất khuất, kiên cường.

Nguồn : Baocongthuong.com.vn

Tầm cao thợ mỏ và chiều sâu nguồn than – Phần I: Sự ra đời của ngành than

Khai thác than là ngành công nghiệp ra đời sớm nhất Việt Nam với đội ngũ công nhân hùng mạnh, kiên cường. Càng khai thác xuống sâu, đòi hỏi công nghệ càng phải hiện đại và tri thức thợ mỏ càng phải được nâng lên tầm cao mới. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – truyền thống ngành Than, cũng là kỷ niệm 22 năm thành lập Tập đoàn Vinacomin, Báo Công Thương trân trọng gửi đến bạn đọc bút ký nhiều kỳ của nhà văn – nhà báo Võ Khắc Nghiêm – người đã gắn bó với thợ mỏ hơn nửa thế kỷ. Ban biên tập và tác giả mong nhận được ý kiến của đông đảo bạn đọc; đặc biệt là cán bộ, công nhân ngành Than.

Năm 1961, tôi may mắn được Nhà xuất bản Thanh Niên và Khu đoàn Đặc khu Hồng Quảng tin cậy giao cho viết tập hồi ký “Đất Mỏ Anh hùng” nhân kỷ niệm 25 năm cuộc Tổng đình công của hơn ba vạn thợ mỏ ngày 12/11/1936. Tôi vui mừng vì có điều kiện tiếp xúc nhiều tư liệu, gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng để không chỉ hoàn thành tập hồi ký mà còn tích lũy vốn sống cho quá trình làm báo, viết văn lâu dài ở vùng than.

Nhà văn – nhà báo Võ khắc Nghiêm

Năm 1883, người Pháp đánh chiếm vùng than Hòn Gay-Cẩm Phả và ép Triều đình nhà Nguyễn bán vùng than cho họ với giá 400 đồng tiền vàng Mễ Tây Cơ vào năm 1884. Ngày 4/4/1888, Công ty Than Bắc Kỳ (SFCT) của tư bản Pháp được thành lập, mở đầu cho việc khai thác than quy mô công nghiệp lớn. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, đây chính là thời điểm ra đời của ngành Than Việt. Mãi đến năm 2006, nhân kỷ niệm 70 năm ngày hội truyền thống 12/11, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) mới kỳ công tìm hiểu đầy đủ khởi nguồn của hòn than Việt Nam khi tìm được sớ tâu của Tổng đốc Tôn Thất Bật và chỉ dụ của vua Minh Mạng tận Cố đô Huế về việc cho khai thác loại “đá cháy”. Sau này tôi được biết rõ hơn ông tổ của thợ mỏ ngành Than có gốc gác tận Đông Triều, gần Yên Tử linh thiêng – nơi vẫn còn thờ Miếu Mỏ và đền thờ Bà Chúa Kẽm (lấy kẽm đúc tiền). Từ đầu thập niên 1820, dân xã Yên Lãng – Đông Triều, thuộc tỉnh Hải Yên đã đào được loại “đá cháy” dùng đốt thay củi, từng đào mười vạn cân nộp về kinh đô. Vua Minh Mạng không muốn bắt dân lao khổ, nhưng Tổng đốc Hải Yên năn nỉ vì mất mùa, dân khó khăn, xin tình nguyện đào than thuê lấy tiền nuôi thân, vua mới chịu ra chỉ dụ cho khai thác và nhắc nhở: “Các người phải thận trọng, chớ sơ suất để an úy lòng trẫm muốn ra ân cho dân”. Đó là ngày 6/12 năm Minh Mạng thứ 20-Kỷ Hợi (1839)- tức ngày 10/1/1840 dương lịch. Tập đoàn TKV đã tìm được chính xác nơi khai thác than đầu tiên và lấy ngày Vua Minh Mạng ra chỉ dụ là ngày ra đời của ngành Than Việt Nam là một việc làm có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Hiện tại, Khu di tích bảo tồn Yên Lãng rộng trên 50 ha với 44 hạng mục công trình đang được TKV hoàn thiện.

Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của người Pháp đối với sự phát triển của ngành Than Việt Nam trong hơn 70 năm. Cho dù mục đích của tư bản Pháp là vơ vét tài nguyên, bóc lột tàn bạo, thì việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tay nghề giỏi và tạo dựng một bộ máy cai trị có văn hóa cùng những công trình công cộng tân thời – nhất là kiến trúc, văn học, âm nhạc, nếp sống công nghiệp, kể cả tín ngưỡng thiên chúa giáo… Đây là vùng đất nhượng địa duy nhất mang tính bán đứt toàn bộ tài nguyên ở Việt Nam, thậm chí còn đặc biệt bởi sự rộng lớn, đa dạng tài nguyên và Hạ Long mênh mông.

Sau khi biến vùng mỏ thành đất riêng, tư bản Pháp đã đổ khá nhiều tiền vào đầu tư khai thác than ngày càng rộng lớn, hiện đại. Đến đầu thế kỷ 20, chủ mỏ Pháp đã đầu tư vào Mạo Khê trên 20 triệu Franc và gần 100 triệu Franc vào Hòn Gay-Cẩm Phả. Thời kỳ Toàn quyền Paul Doumer cho xây cầu Long Biên, mở Cảng Hải Phòng, SFCT được khuyến khích mở cảng chuyên dùng Hòn Gay, Cửa Ông cùng hệ thống sàng tuyển, bốc rót và đường sắt chở than tân tiến. Bên cạnh việc tuyển mộ phu mỏ khắp các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Công ty Than Đá Bắc Kỳ hùng hồn tuyên bố sẽ biến vùng than trở thành miền đất văn minh hiện đại với cuộc sống tươi đẹp nhất Việt Nam. Chính phủ Pháp hiểu rõ giá trị của loại than Antrasit nhiệt lượng cao của Việt Nam là loại “bánh mì” đặc biệt cho cuộc cách mạng công nghiệp toàn thế giới đang rầm rộ phát triển luyện kim, phát triển máy hơi nước với sự cạnh tranh của tàu hỏa, tàu thủy và cả xe hơi nên đã chỉ thị cho Bộ Thuộc địa Pháp dành cho SFCT nhiều quyền hạn trong vùng đất nhượng địa, không chịu sự quản lý của Công sứ Quảng Yên, Thống sứ Bắc Kỳ. Bộ máy hành chính, quân sự chỉ hỗ trợ khi chủ mỏ yêu cầu. Hệ thống mật thám Sở Mỏ có quyền lực rất lớn và không phụ thuộc hệ thống chính quyền.

Những năm đầu, việc khai thác than lộ vỉa khá dễ dàng, việc mở lò đào than cũng đơn giản, thường là mở lò bằng, chống đỡ bằng vì gỗ lấy từ rừng quanh mỏ. Các chủ mỏ thực hiện chế độ quản lý, cai trị riêng với hệ thống quản lý gọn nhẹ mà vô cùng hiệu quả thông qua lực lượng chủ thầu, cai ký người Việt. Họ tự tuyển dụng, tự đào tạo phu mỏ, tự bảo đảm đời sống, an ninh… Người Pháp chỉ giám sát, chỉ đạo về phương hướng khai thác, kỹ thuật bóc tách vỉa than, mở mò, chống lò, vận chuyển than. Việc thanh toán lương thông qua các chủ thầu, tính theo khối lượng sản phẩm. Sau khi thăm dò kỹ trữ lượng than và tài nguyên biển Đông Bắc, người Pháp không chỉ mở thêm nhiều khai trường hầm lò mà còn đầu tư cho khai thác cơ khí lộ thiên. Cùng với các nhà máy: Cơ khí Cẩm Phả, Cơ khí Hòn Gay, Nhà sàng Cửa Ông được xây dựng thuộc vào loại hiện đại nhất thập niên những năm 1920 (tồn tại cho tận ngày nay, được cải tạo, nâng cấp vẫn phát huy tác dụng), tư bản Pháp đã chọn những kỹ sư giỏi nhất đưa sang đào tạo cho đội ngũ thợ cơ khí người Việt. Họ cho mở mang đường phố, mở trường tiểu học, rạp hát, rạp chiếu bóng, xây nhà thờ ở Hòn Gay, Cẩm Phả Mỏ, Cẩm Phả Bến (Cửa Ông), Núi Trọc (Đèo Nai), mở tuyến xe lửa chở than và chở thợ vào mỏ Hà Tu, Hà Lầm, xây dựng đường ôtô trên khắp núi mỏ… Chủ mỏ có chế độ ưu đãi cho các nhà buôn vào bán hàng với giá cả do họ duyệt, cho phép các chủ thầu tạm ứng gạo, lương cho phu mỏ, mở trường học dạy tiếng Pháp cho những người thợ giỏi trung thành với chủ và tỏ ra rộng rãi với tầng lớp trung lưu, nhất là lực lượng cai ký, chủ thầu vui lòng làm tay sai đắc lực.

Thời kỳ đầu, dường như chủ mỏ Pháp không phải quá bận tâm quản lý phu mỏ vì đã có đám cai ký chủ thầu dù lương trả cho phu mỏ rất thấp thì vẫn còn hơn làm ruộng rất nhiều và không bị bắt đi lính, đi phu sang Tân Thế Giới, nên nhiều thanh niên nông thôn ra làm phu mỏ với nhiều hoài bão đổi đời. Tuy nhiên, công việc đào lò ngày càng khó khăn, nhọc nhằn, nguy hiểm; phu mỏ càng đông; chủ thầu, cai ký càng trở nên tàn bạo, keo kiệt. Nhiều vụ tai nạn sập lò chết người đã xảy ra ở Cái Đá, Lộ Trí và nhiều lò nhỏ không được chủ mỏ cứu mà có chỗ còn bị vùi lấp bằng bê tông như một ngôi mộ tập thể. Điều kiện lao động nặng nhọc cộng với thời tiết khắc nghiệt, đời sống khó khăn, lán trại bẩn thỉu đã dẫn đến dịch bệnh, không có thuốc men khiến thân phận người phu mỏ dần trở nên bi đát, dù ốm đau vẫn phải cố lê lết đội than. Dẫu vậy, những cuộc đấu tranh, khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở khắp ba miền trong hơn hai mươi năm đầu thế kỷ 20 vẫn chưa ảnh hưởng gì nhiều đến vùng Than dưới sự quản lý riêng của chủ mỏ Pháp.

Nguồn : baocongthuong.com.vn

Lào Cai mở rộng cửa đầu tư

Lào Cai là địa phương có thế mạnh về môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh, nhiều năm đứng top đầu cả nước về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 198 dự án đầu tư, với tổng số vốn đầu tư là 49.200 tỷ đồng, trong đó có 40 dự án đang triển khai xây dựng.

Trong quá trình hoạt động, các dự án này luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực của UBND tỉnh, các địa phương và ngành chức năng tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc về vốn, tiếp cận đất đai, cung ứng điện nước, đầu tư cơ sở hạ tầng… và đề xuất với các cơ quan trung ương có biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước (gang thép, DCP) giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh. Cụ thể tình hình triển khai một số dự án lớn trên địa bàn như sau:

Dự án Mở rộng nâng công suất nhà máy luyện đồng Lào Cai

Dự án do Tổng Công ty khoáng sản – TKV làm chủ đầu tư đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐGTĐMT); được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy chứng nhận đầu tư (CNĐT) công suất 20.000 tấn đồng kim loại/năm; 84.556 tấn H2SO4/năm; 1.395 kg vàng thỏi/năm và 616 kg bạc thỏi/năm.

Hiện nay, đơn vị đang tổ chức lựa chọn nhà thầu lập Thiết kế kỹ thuật bản vẽ thi công – dự toán xây dựng công trình và lựa chọn nhà thầu quốc tế; trình Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh Lào Cai về hồ sơ thuê đất tại vị trí xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với diện tích 54,23 ha. Đơn vị đã thực hiện và hoàn thành xong công tác bồi thường, GPMB và hỗ trợ tái định cư; đã thi công san gạt mặt bằng và một số hạng mục công trình hạ tầng (đường giao thông, điện phục vụ thi công,…). Dự kiến: Quý 3/2016 khởi công xây dựng công trình chính; Quý 3/2017 xây dựng hoàn thành; Quý 1/2018 chạy sản xuất thử và quý 3/2018 đưa nhà máy đi vào hoạt động chính thức.

Dự án Khai thác mở rộng và nâng công suất khu mỏ – tuyển Sin Quyền

Dự án do Tổng Công ty khoáng sản – TKV làm chủ đầu tư đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy CNĐT công suất khai thác 2,5 triệu tấn quặng/năm; công suất chế biến: 44.200 tấn/năm tinh quặng hàm lượng 23% Cu; Hồ sơ thiết kế cơ sở đã được Bộ Công Thương thẩm định. Hiện nay, đơn vị đang hoàn thiện và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản, thực hiện bồi thường GPMB nhà máy chế biến. Thời gian thực hiện dự án: Hoàn thành: Quý 3/2017 và đưa nhà máy đi vào hoạt động chính thức: Quý 4/2017.

Dự án Khai thác mỏ đồng Vi Kẽm, huyện Bát Xát

Dự án do Tổng công ty Khoáng sản – TKV làm Chủ đầu tư đã được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy CNĐT với công suất khai thác: 350.000 tấn quặng nguyên khai/năm.

Hiện tại, đơn vị đã thực hiện xong báo cáo ĐGTĐMT; thiết kế cơ sở và đang hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấp phép khai thác khoáng sản. Dự kiến, quý 3/2019 chính thức đưa mỏ đi vào hoạt động.

Dự án khai thác, chế biến mỏ graphit Nậm Thi

Dự án do Công ty Cổ phần CARAT làm chủ đầu tư, đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác khoáng sản và phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; cho thuê đất để triển khai dự án.

Đơn vị đã hoàn thiện công tác đền bù GPMB; triển khai xong xây dựng cơ bản mỏ và xây dựng nhà máy tuyển, đang điều chỉnh công nghệ của nhà máy tuyển nâng chất lượng sản phẩm từ 85% C lên trên 95% C, chuyển từ lò đứng đốt than sang lò sấy bằng dầu diezel, từ thải bùn nước sang thải khô và đã xây dựng xong Nhà máy chế biến, chuẩn bị đi vào hoạt động chính thức.

Dự án khai thác và tuyển đồng Tả Phời

Dự án do Công ty CP đồng Tả Phời – VINACOMIN làm chủ đầu tư, được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác khoáng sản công suất khai thác 1 triệu tấn quặng nguyên khai/năm, chế biến: 35.000 tấn/năm hàm lượng 23%Cu/năm. Hiện nay, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tiền cấp quyền khai thác, báo cáo ĐGTĐMT; hồ sơ thiết kế cơ sở. Dự kiến, quý 4/2016 sẽ hoàn thành công tác xây dựng cơ bản mỏ và đưa mỏ đi vào hoạt động khai thác. Nhà máy tuyển dự kiến đi vào hoạt động chính thức vào cuối quý 2/2017 – đầu quý 3/2017.

Dự án khai thác mỏ apatit Tam Đỉnh – Làng Phúng

Dự án do Công ty CP Đầu tư apatit Tam Đỉnh – Lào Cai làm chủ đầu tư hiện đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, phê duyệt tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy CNĐT; được Sở Công Thương thẩm định thiết kế cơ sở. Đơn vị đã hoàn thành công tác khảo sát lựa chọn địa điểm xây dựng Nhà máy tuyển quặng apatit loại 3 Làng Phúng và đang tiếp tục khảo sát vị trí hồ thải quặng đuôi.

Dự án khai thác, chế biến mỏ graphit Bảo Hà, huyện Bảo Yên

Dự án do Công ty Cổ phần khoáng sản Sông Đà Lào Cai làm chủ đầu tư hiện đã được UBND tỉnh Lào Cai cấp quyết định chủ trương đầu tư và phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; được Sở Công Thương Lào Cai thẩm định thiết kế cơ sở. Hồ sơ cấp giấy phép khai thác khoáng sản đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Công ty đang thực hiện công tác GPMB và xin điều chỉnh quy mô đầu tư giảm từ 165,5ha xuống còn 111ha và thay đổi tiến độ đầu tư cho phù hợp với thực tế.

Dự án khai thác mỏ Apatit Làng Mô, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng

Dự án do Công ty Cổ phần đầu tư Vạn Thắng làm chủ đầu tư hiện đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, phê duyệt tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy CNĐT; được Sở Công Thương thẩm định thiết kế cơ sở. Đơn vị đang triển khai thực hiện công tác đền bù, GPMB và tái định cư, xin cấp giấy phép xây dựng. Quý 2/2016 khởi công xây dựng cơ bản mỏ và dự kiến quý 4/2016 bắt đầu đưa mỏ đi vào khai thác chính thức.

Dự án khai thác mỏ Apatit Phú Nhuận, xã Văn Sơn, xã Võ Lao, huyện Văn Bàn và xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng

Dự án do Công ty Cổ phần vật tư nông sản làm chủ đầu tư hiện đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; cấp Giấy CNĐT; được Sở Công Thương thẩm định thiết kế cơ sở, đơn vị đang trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép khai thác mỏ.

Dự án Nhà máy sản xuất phốt pho vàng 20.000 tấn/năm

Dự án do Công ty Cổ phần phốt pho apatit Việt Nam làm chủ đầu tư tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; được UBND tỉnh Lào Cai cấp Giấy CNĐT; được Sở Công Thương thẩm định thiết kế cơ sở. Hiện đơn vị đang trình thẩm định thiết kế bản vẽ thi công – dự toán xây dựng công trình của từng hạng mục, triển khai hoàn thành trên 50% khối lượng xây dựng nhà máy và dự kiến cuối năm 2016 đưa nhà máy đi vào hoạt động.

Dự án Nhà máy sản xuất phốt pho vàng 9.800 tấn/năm

Dự án do Công ty Cổ phần Nam Tiến Lào Cai làm chủ đầu tư đặt tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; cấp Giấy CNĐT; được Sở Công Thương thẩm định thiết kế cơ sở. Đơn vị đang trình thẩm định thiết kế bản vẽ thi công – dự toán xây dựng công trình của từng hạng mục; đang triển khai xây dựng nhà máy hoàn thành khoảng 85%, chuẩn bị đưa vào hoạt động.

Dự án Nhà máy sản xuất phốt pho vàng 9.800 tấn/năm

Dự án do Công ty TNHH phốt pho vàng Việt Nam làm chủ đầu tư đặt tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; cấp Giấy CNĐT. Hiện đơn vị đang triển khai xây dựng nhà máy hoàn thành khoảng 80%, dự kiến cuối năm 2016 đưa nhà máy đi vào hoạt động.

Dự án Nhà máy sản xuất Axit thực phẩm 20.000 tấn/năm và muối khác 40.000 tấn/năm

Dự án do Công ty Cổ phần hóa chất Bảo Thắng làm chủ đầu tư, đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt báo cáo ĐGTĐMT; cấp quyết định chủ trương đầu tư. Hiện đơn vị đang triển khai xây dựng nhà máy hoàn thành khoảng 70%, dự kiến cuối năm 2016 đưa nhà máy đi vào hoạt động.

Các dự án khác: Nhà máy DAP số 3 đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho Tập đoàn Thaigoup triển khai tại Lào Cai, hiện đơn vị đã khảo sát sơ bộ và đang lập phương án xin chủ trương đầu tư nhà máy và khai thác sớm Khai trường 27,28,29 mỏ apatit để chủ động nguyên liệu cho nhà máy. Nhà máy nhiệt điện công suất 100MW thu nhiệt thừa và than do Công ty CP hóa chất Đức Giang làm chủ đầu tư; doanh nghiệp đang đề nghị Bộ Công Thương bổ sung quy hoạch phát triển điện lực làm cơ sở triển khai dự án.

Trong lĩnh vực thủy điện, theo Quy hoạch thủy điện vừa nhỏ tỉnh Lào Cai, trên địa bàn tỉnh còn 71 công trình thuỷ điện với tổng công suất lắp máy 1059,75MW. Đến nay UBND tỉnh đã chấp thuận cho 42 nhà đầu tư khảo sát lập dự án đầu tư 70 công trình thủy điện với tổng công suất lắp máy 1056,75MW, trong đó có 34 dự án đã hoàn thành với tổng công suất lắp máy 569,8MW, 14 dự án đã khởi công thi công với tổng công suất lắp máy 247,5MW, 13 dự án được cấp Giấy CNĐT (hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án) nhưng chưa khởi công với tổng công suất lắp máy 178,55MW, 09 dự án đang khảo sát lập dự án với tổng công suất lắp máy 60,9MW, 01 công trình chưa có nhà đầu tư với công suất lắp máy 3MW. Tổng số vốn đầu tư cho các dự án thủy điện là 26.400 tỷ đồng.

Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, UBND tỉnh Lào Cai đang tích cực triển khai một số dự án lớn như: sân bay Lào Cai; đường nối dài cao tốc Lào Cai – Sa Pa; mở rộng khu kinh tế cửa khẩu trong đó động lực là khu Kim Thành – Ngòi Phát; quy hoạch khu du lịch Sa Pa; thi công đường từ mỏ sắt Quý Sa tới Tằng Loỏng; nghiên cứu đề xuất triển khai nối rẽ đường sắt từ ga Xuân Giao tới Tằng Loỏng, lối mở đường cao tốc tại đầu cầu Phố Lu; thành lập thêm khu công nghiệp phía tây thành phố và mở rộng khu công nghiệp Tằng Loỏng… Tỉnh cũng triển khai nhiều giải pháp: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính, thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại các sở, ngành, địa phương có liên quan; giảm thời gian triển khai thủ tục hành chính; không sách nhiễu, phiền hà và nâng cao chất lượng dịch vụ công; thường xuyên tổ chức các hoạt động gặp gỡ tiếp xúc với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc để đảm bảo hoạt động đầu tư và sản xuất diễn ra thuận lợi; đẩy mạnh thực hiện việc thu hút và quản lý đầu tư, quy hoạch ngành nghề theo hướng ổn định, bền vững; kiên quyết từ chối chấp thuận đầu tư và từng bước chấm dứt hoạt động các dự án có ảnh hưởng xấu đến môi trường, xã hội; huy động, phân bổ hợp lý nguồn lực và thực hiện xã hội hóa đầu tư để hình thành nên các khu công nghiệp.

Bước sang năm 2016 có nhiều cơ hội và thách thức, song với khí thế thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, năm đầu của kế hoạch 5 năm, tỉnh Lào Cai quyết tâm phát huy tốt các thế mạnh sẵn có của địa phương, xây dựng tỉnh có tốc độ phát triển ổn định, bền vững.

Vân Anh

Nguồn : Tapchicongthuong.vn

Quyết định đúng đắn, lợi ích lâu dài

Quyết định số 862/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về việc “áp thuế tạm thời đối với phôi thép và thép dài nhập khẩu được coi là quyết định đúng đắn, mang lại lợi ích lâu dài cho cả ngành thép. Đó là khẳng định của ông Mai Văn Hà – Giám đốc Công ty CP Thép Hòa Phát trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương – về vấn đề này.


Hòa Phát sử dụng quy trình luyện kim khép kín theo chuỗi liên hoàn với suất đầu tư thấp, khấu hao nhỏ, chi phí giá thành ở mức thấp và cạnh tranh

Thưa ông, có nhiều ý kiến cho rằng, Quyết định số 862/QĐ-BCT ra đời làm lợi cho một số DN sản xuất phôi, thép. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Trước hết, phải khẳng định, quyết định áp thuế tự vệ tạm thời của Bộ Công Thương là đúng đắn và kịp thời. Quyết định này không phải bảo vệ lợi ích riêng của bất cứ một doanh nghiệp (DN) nào, mà là lợi ích của cả ngành thép trong nước trước sự đe dọa của hàng nhập khẩu ngày càng gia tăng với cường độ mạnh.

Đây là sự bảo hộ của nhà nước ở mức hợp lý cho ngành công nghiệp thép- một ngành công nghiệp xương sống của đất nước, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Không riêng Việt Nam mà ở các nước trên thế giới, nếu nhập khẩu thép từ nước ngoài vào tăng 30%/năm thì phải áp dụng biện pháp tự vệ ngay tức thì. Trong khi đó, tại Việt Nam, sản lượng phôi thép năm 2015 nhập khẩu tăng gấp 3 lần bình thường, ở các nước không cho phép xảy ra chuyện này.

Ông Mai Văn Hà – Giám đốc Thép Hòa Phát

Ông nghĩ sao khi nhiều ý kiến cho rằng, một số DN sản xuất kinh doanh thép luôn đưa ra con số thua lỗ lớn, phần lớn đổ lỗi do sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá rẻ. Tại sao thép Hòa Phát vẫn đạt lợi nhuận cao? Điều đó cho thấy Quyết định số 862 là không cần thiết, gây ảnh hưởng đến DN, người tiêu dùng?

Hòa Phát khác hẳn các DN khác trong ngành thép bởi kinh doanh đa ngành nghề, nhưng với thép lại là lĩnh vực cốt lõi, trong đó có hai sản phẩm là thép xây dựng và ống thép. Chính vì vậy, lợi nhuận chúng tôi có được là tổng hợp của nhiều ngành hàng khác nhau nên không thể so sánh với DN chuyên sản xuất thép. Bên cạnh đó, hầu hết các ngành hàng của Hòa Phát đều có chi phí giá thành ở mức thấp và cạnh tranh. Đối với thép xây dựng, Hòa Phát sử dụng quy trình luyện kim khép kín với nhiều công đoạn khác nhau như luyện than coke, thiêu kết, vê viên, luyện gang, luyện thép…theo chuỗi liên hoàn với suất đầu tư thấp, khấu hao nhỏ. Lợi nhuận được tích tụ từ nhiều khâu chứ không đơn thuần thể hiện qua sản phẩm cuối cùng. Do vậy, khó có thể tính toán lãi, lỗ, dù trong giai đoạn trước mắt Hòa Phát chưa chịu thiệt hại lớn, nhưng trong thời buổi hội nhập thế giới như hiện nay, thị trường diễn biến khôn lường, thép Trung Quốc tràn về quá lớn, chưa kể tới thép nhập từ các nước khác đã gây khó khăn cho các DN. Chính vì vậy, chúng ta không thể để tới khi “mất bò mới lo làm chuồng”.

Để bảo vệ hàng trong nước, vừa qua, các DN đã đệ đơn lên các cấp – đó là việc làm hoàn toàn đúng đắn. Thiết nghĩ, chúng tôi cũng là thành viên trong ngôi nhà thép nên cùng đứng đơn với các DN thép khác để có thêm tiếng nói bảo vệ lợi ích chung cho toàn ngành một cách lâu dài. Việc làm đó hoàn toàn dựa trên việc nhận dạng rõ nguy cơ đe dọa từ sản phẩm nhập khẩu ồ ạt của Trung Quốc.

Ngược lại, một số ít DN thép khác không đầu tư nhà máy sản xuất phôi, mà chỉ xây dựng nhà máy cán thép, hoặc có đầu tư nhà máy sản xuất phôi nhưng không sản xuất, mà tranh thủ nhập phôi giá rẻ nên đã phản đối biện pháp tự vệ, nguyên nhân chính vì sợ ảnh hưởng tới lợi ích ngắn hạn của chính DN. Đó chỉ là số ít, không thể đại diện cho lợi ích của toàn ngành thép.

Nói về lâu dài, nếu Việt Nam cứ mãi sống nhờ vào nguồn phôi nhập khẩu, tới khi các nước xuất khẩu đều tăng giá, khi đó sẽ khó có thể tự cứu mình, chưa nói đến phát triển trong dài hạn.

Xin khẳng định lại, quyết định áp thuế tự vệ tạm thời của Bộ Công Thương là cần thiết. Bởi nếu không có sự can thiệp hợp lý từ phía cơ quan quản lý nhà nước thì rất nguy hiểm cho cả ngành công nghiệp thép trong nước. Trong khi đó, cả thế giới đang dựng những rào cản tối đa để ngăn chặn thép bán giá rẻ của Trung Quốc, nhằm tránh khỏi nguy cơ đỗ vỡ. Một minh chứng cho thấy, gần đây nhất, nhà sản xuất thép lớn nhất Ấn Độ (Tata) đã phải đóng cửa nhà máy tại Anh do không thể chịu được hàng bán phá giá từ Trung Quốc, bởi quốc gia này đang dư thừa hàng trăm triệu tấn thép cả thành phẩm (thép cây, thép cuộn) và bán thành phẩm (phôi thép), nhiều gấp mười lần công suất của cả ngành thép Việt Nam. Vì vậy, họ chỉ cần “ra tay” là bao công sức của cả ngành thép Việt Nam gây dựng hơn 20 năm qua sẽ đổ bể, đó là hậu quả khôn lường.

Ngoài ra, nhiều nước châu Âu cũng tăng cường các biện pháp kỹ thuật như tự vệ thương mại, áp thuế chống bán phá giá… để bảo vệ sản xuất trong nước. Vậy, tại sao Việt Nam lại phản đối việc làm vì lợi ích lâu dài của cả ngành thép? Bất kỳ chính sách nào cũng có hai mặt, nhưng phải xét trên lợi ích tổng thể toàn ngành để hướng tới sự phát triển lâu dài và bền vững.

Để tạo sự đồng thuận giữa các DN sản xuất, kinh doanh thép trong nước, tránh tạo sức ép dư luận xã hội và tăng sức cạnh tranh cho ngành thép trong nước. Theo ông, biện pháp cao nhất ở đây là gì?

Theo tôi, điều đầu tiên các DN trong ngành thép phải nghĩ đến lợi ích tổng thể của toàn ngành, về lâu dài phải có sự đồng thuận trong các chính sách liên quan đến sự phát triển của ngành. Nếu chỉ vì tham lợi ích trước mắt, tư duy làm ăn chộp giật thì ngành thép hay bất cứ ngành nào cũng đều không thể bền vững, nguy cơ phụ thuộc vào nước ngoài rất cao.

Chúng ta phải đồng tâm, phấn đấu bằng mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm, đổi mới công nghệ liên tục mới có thể đứng vững trên thị trường. Quan điểm của chúng tôi là sản xuất thép trên một chặng đường dài, không nhìn vào hiện tượng. Do đó, việc áp thuế tự vệ là để bảo vệ toàn bộ ngành thép Việt Nam, áp thuế để DN có thời gian chuẩn bị, giảm giá thành sản phẩm…, không phải đợi đến hết 200 ngày lại đối phó cách khác. Đây cũng là cơ hội cho các DN sản xuất phôi, thép trước đây vốn gặp khó khăn phải đóng cửa, hoặc sản xuất cầm chừng để phục hồi sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong nước.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn : baocongthuong.com.vn

Chế độ nâng bậc lương, nâng ngạch và kéo dài thời gian nâng lương

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Lê Minh Chuẩn đã ký quyết định số 818/QĐ-TKV về việc ban hành hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương của Công ty mẹ – Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Quyết định có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.

Theo Điều 6 của quyết định này, chế độ nâng bậc lương, nâng ngạch và kéo dài thời gian nâng lương được tính như sau:

1. Điều kiện xét để nâng bậc lương hàng năm: Thường xuyên hoàn thành công việc được giao về số lượng, chất lượng theo hợp đồng lao động đã ký kết; không trong thời gian thi hành kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động và nội quy lao động của TKV.

– Đối với viên chức quản lý: có thời gian giữ bậc 1 từ 4 năm trở lên (đủ 48 tháng); hoàn thành nhiệm vụ hàng năm.

– Đối với viên chức chuyên môn, nghiệp vụ: Chuyên viên chính, kỹ sư chính trở lên có thời gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 4 năm (đủ 48 tháng). Chuyên viên, kỹ sư có thời gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 3 năm (đủ 36 tháng) và khi xếp bậc cuối cùng của ngạch có thời gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 4 năm (đủ 48 tháng). Cán sự, kỹ thuật viên và nhân viên: nâng từ bậc 1 lên bậc 2 và bậc 2 lên bậc 3 có thời gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 2 năm (đủ 24 tháng); các bậc còn lại có lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 3 năm (đủ 36 tháng); khi xếp bậc cuối cùng của ngạch có thời gian giữ bậc lương hiện hưởng tại doanh nghiệp là 4 năm (đủ 48 tiếng).

– Đối với công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh

+ Thang lương, bậc lương 7 bậc: Bậc 1 lên bậc 2 có thời gian 2 năm (đủ 24 tháng); bậc 2 lên bậc 3, bậc 3 lên bậc 4 có thời gian 3 năm (đủ 36 tháng); bậc 4 lên bậc 5 có thời gian 4 năm (đủ 48 tháng); bậc 5 lên bậc 6 và bậc 6 lên bậc 7 có thời gian 5 năm (đủ 60 tháng).

+ Thang lương, bảng lương 6 bậc: Bậc 1 lên bậc 2 có thời gian 2 năm (đủ 24 tháng); bậc 2 lên bậc 3, bậc 3 lên bậc 4 có thời gian 3 năm (đủ 36 tháng); bậc 4 lên bậc 5 có thời gian đủ 4 năm (48 tháng); bậc 5 lên bậc 6 có thời gian 5 năm (đủ 60 tháng).

+ Thang lương, bảng lương 4 bậc hoặc 5 bậc: Bậc 1 lên bậc 2, bậc 2 lên bậc 3 có thời gian 3 năm (đủ 36 tháng); các bậc còn lại có thời gian 4 năm (đủ 48 tháng); khi xếp bậc cuối cùng của ngạch phải có đủ thời gian là 5 năm (đủ 60 tháng).

2. Trường hợp được nâng lương sớm, rút ngắn thời hạn nâng lương, nâng ngạch: – Vận dụng theo các điều kiện quy định tại Thông tư số 18/2008/TT-BLĐTBXH ngày 16/9/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các văn bản điều chỉnh, bổ sung của Nhà nước.

– Người lao động được tặng bằng khen của Tổng Giám đốc Tập đoàn và tương đương thì được rút ngắn tối đa 6 tháng thời hạn xét nâng bậc lương.

– Thời điểm tính hưởng bậc lương mới đối với những người được nâng bậc lương sớm và rút ngắn thời hạn nâng bậc lương thực hiện như sau: Những người được nâng bậc lương sớm thì được hưởng bậc lương mới kể từ ngày có quyết định và được bảo lưu thời gian giữ bậc lương cũ để tính thời gian nâng bậc lương lần tiếp theo. Những người được rút ngắn thời gian nâng bậc lương thì được hưởng bậc lương mới kể từ ngày có quyết định nâng bậc lương sớm và thời gian nâng bậc lương tiếp theo kể từ ngày có quyết định hưởng bậc lương mới.

3. Trường hợp kéo dài thời hạn xét nâng bậc lương: thực hiện theo quy định của pháp luật lao động và nội quy lao động của TKV

4. Nâng ngạch lương: Thường xuyên hoàn thành công việc được giao về số lượng, chất lượng theo hợp đồng lao động đã ký kết; không trong thời gian thi hành kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động và nội quy lao động của TKV; có thời gian giữ bậc lương cuối của ngạch tại doanh nghiệp 4 năm (đủ 48 tháng); đơn vị còn đủ chỉ tiêu nâng ngạch lương theo cơ cấu ngạch viên chức đã được phê duyệt.

P.V

Nguồn : Vinacomin.vn

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6 năm 2016

Bắt đầu từ tháng 6/2016, nhiều quy định, chính sách liên quan đến ngành Công Thương sẽ có hiệu lực thi hành như: Quy chế giám sát tài chính đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu; Hướng dẫn thu, nộp, quản lý sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quản quản lý Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, v.v… Quy chế giám sát tài chính đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu

Từ ngày 1/6/2016, Quyết định 1885/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Quy chế này quy định cụ thể việc giám sát tài chính đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty TNHH một thành viên và Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu theo quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước (sau đây gọi là Nghị định 87/2015/NĐ-CP), Thông tư số 200/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước (sau đây gọi là Thông tư 200/2015/TT-BTC) đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty cổ phần có vốn nhà nước (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.

Đối tượng áp dụng của Quyết định là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên – Công ty mẹ của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con (sau đây gọi chung là Công ty mẹ) do Bộ Công Thương quyết định thành lập hoặc được giao quản lý; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Bộ Công Thương quyết định thành lập; Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ Công Thương làm đại diện chủ sở hữu.

Việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn và hàng năm của doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 33, Nghị định 91/2015/NĐ-CP. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, năng lực của doanh nghiệp và nhu cầu thị trường, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm tiếp theo gửi Bộ Công Thương trước ngày 15 tháng 7 hàng năm.

Việc lập kế hoạch tài chính dài hạn và hàng năm của doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 33, Nghị định 91/2015/NĐ-CP. Căn cứ vào kế hoạch tài chính dài hạn và kế hoạch sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính năm tiếp theo, gửi Bộ Công Thương và Bộ Tài chính trước ngày 31 tháng 7. Kế hoạch tài chính được lập theo Biểu mẫu hướng dẫn tại Điều 9, Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp. Bộ Công Thương sẽ xem xét và có ý kiến chính thức bằng văn bản để doanh nghiệp hoàn chỉnh kế hoạch tài chính. Kế hoạch tài chính sau khi hoàn chỉnh là kế hoạch chính thức làm cơ sở cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan tài chính cùng cấp giám sát đánh giá quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, v.v …

Hướng dẫn thu, nộp, quản lý sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Từ ngày 13/06/2016, Thông tư 66/2016/TT-BTC (Thông tư 66) của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 12/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Theo đó, Thông tư 66 hướng dẫn thu, nộp, quản lý sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo Nghị định số 12/2016/NĐ-CP. Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản; các cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân liên quan trong việc quản lý, thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải nộp hồ sơ khai phí bảo vệ môi trường với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp cùng nơi kê khai nộp thuế tài nguyên. Trường hợp trong tháng không phát sinh phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, người nộp phí vẫn phải kê khai và nộp tờ khai nộp phí với cơ quan Thuế. Trường hợp tổ chức thu mua gom khoáng sản phải đăng ký nộp thay người khai thác thì tổ chức đó có trách nhiệm nộp hồ sơ khai phí bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý cơ sở thu mua khoáng sản. Thời hạn kê khai phí bảo vệ môi trường với cơ quan thuế chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo. Người nộp phí phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là loại khai theo tháng và quyết toán năm. Khai quyết toán phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản bao gồm khai quyết toán năm và khai quyết toán đến thời Điểm chấm dứt hoạt động khai thác khoáng sản, chấm dứt hoạt động thu mua gom khoáng sản, chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt hợp đồng chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp. Đối với trường hợp người nộp phí thuộc diện bị ấn định số phí phải nộp, thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn. Địa Điểm kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than là Cục thuế địa phương nơi người nộp phí đặt văn phòng Điều hành chính. Đồng tiền nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là đồng Việt Nam. Ngoài các quy định trên, việc khai phí, nộp phí, quyết toán phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.

Các trường hợp sau đây được áp dụng mức thu phí đối với khai thác khoáng sản tận thu theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 12/2016/NĐ- CP: Hoạt động khai thác khoáng sản còn lại ở bãi thải của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ; Hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân không nhằm Mục đích khai thác khoáng sản, nhưng có chức năng, nhiệm vụ hoặc có đăng ký kinh doanh, trong quá trình hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hoặc theo chuyên ngành đã đăng ký mà thu được khoáng sản (ví dụ thu được cát trong quá trình nạo vét lòng sông, cảng biển; thu được đất, đá trong quá trình xây dựng các công trình thủy điện, giao thông hoặc xây dựng các trường bắn). Các trường hợp khác không thuộc quy định tại Điểm a) và b) Khoản này thì không được áp dụng theo mức phí đối với khai thác khoáng sản tận thu. Cách tính phí đối với khai thác khoáng sản tận thu được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư này.

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, không kể dầu thô và khí thiên nhiên, khí than là Khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản theo Luật bảo vệ môi trường và Luật ngân sách nhà nước, theo các nội dung cụ thể sau đây: Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản; Khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra; Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản. Phí bảo vệ môi trường đối với dầu thô và khí thiên nhiên, khí than là Khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Ngân sách nhà nước. Nơi có hoạt động khai thác khoáng sản quy định tại Điều này là nơi thực tế diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản và các khu vực bị ảnh hưởng do hoạt động khai thác khoáng sản theo địa bàn quản lý của cấp xã và cấp huyện.

Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quản quản lý Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả

Từ ngày 21/06/2016, Quyết định 19/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quản quản lý Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Theo Quyết định 19, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và phân công trách nhiệm trong Quy chế này chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thuộc lĩnh vực Bộ, ngành mình quản lý theo nguyên tắc: Bảo đảm đúng quy định của pháp luật hiện hành về chức năng, nhiệm vụ đối với công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; Mỗi địa bàn, lĩnh vực do một cơ quan chịu trách nhiệm chính, chủ trì và tổ chức phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; các cơ quan khác có trách nhiệm phối hợp, tham gia với lực lượng chủ trì theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Trường hợp phát hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả trên địa bàn hoặc lĩnh vực cơ quan khác chủ trì thì cơ quan phát hiện thông báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm chủ trì xử lý để phối hợp hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ theo chức năng nhiệm vụ được phân công.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chỉ đạo và tổ chức công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn, địa phương mình trực tiếp quản lý. Trưởng Ban Chỉ đạo 389 địa phương giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia giao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng chức năng thuộc thẩm quyền chủ động tổ chức việc phối hợp hoạt động, trong đó có phân định cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả theo từng chuyên đề, lĩnh vực và địa bàn cụ thể, chịu trách nhiệm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được phân công.

Quy định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả

Tử ngày 26/06/2016, Quyết định 20/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Quyết định này quy định về việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và vật chứng vụ án, một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án bị tịch thu theo quy định của pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Ngoài kinh phí quản lý hành chính được ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho các cơ quan, đơn vị chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả (bao gồm quỹ tiền lương, chi hoạt động thường xuyên, chi nghiệp vụ đặc thù, chi mua sắm tài sản, trang thiết bị làm việc), các cơ quan, đơn vị chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả còn được ngân sách nhà nước bố trí thêm kinh phí hỗ trợ hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả.

Đối với các cơ quan, đơn vị vừa có hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, vừa có hoạt động xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự trong các lĩnh vực khác thì việc hỗ trợ kinh phí hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản tịch thu của các vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả được áp dụng theo quy định tại Quyết định này; đối với hoạt động xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự trong các lĩnh vực khác thì thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành.

Trong quá trình thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản tịch thu, nếu vụ việc có nhiều lực lượng cùng tham gia thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả có trách nhiệm căn cứ vào tính chất phức tạp của vụ việc và mức độ tham gia của từng cơ quan, đơn vị để xem xét, quyết định việc thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản tịch thu đảm bảo phù hợp, hiệu quả và công khai.

Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương

Nguồn : Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương

Chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2016

Văn phòng Chính phủ vừa công bố thông tin về một số chính sách mới của Chính phủ liên quan đến nhiều lĩnh vực có hiệu lực từ tháng 5/2016.

Chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2016

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Theo Nghị định số 12/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản có hiệu lực từ 1/5/2016, mức phí bảo vệ môi trường đối với dầu thô là 100.000 đồng/tấn; đối với khí thiên nhiên, khí than 50 đồng/m3. Riêng khí thiên nhiên thu được trong quá trình khai thác dầu thô (khí đồng hành) 35 đồng/m3.

Nghị định cũng quy định cụ thể biểu khung mức phí bảo vệ môi trường đối với khai thác quặng khoáng sản kim loại (từ 10.000 đồng – 270.000 đồng/tấn); khoáng sản không kim loại (từ 1.000 – 90.000/m3 hoặc tấn).

Mức phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản tận thu bằng 60% mức phí của loại khoáng sản tương ứng.

Chính sách đối với binh sĩ dự bị hạng hai

Nghị định số14/2016/NĐ-CP ngày 15/3/2016 quy định ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân đối với công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự; công dân thuộc diện miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến và việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai có hiệu lực từ 01/5/2016.

Theo đó, trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu, binh sĩ dự bị hạng hai được hưởng nhiều chế độ, chính sách như: Chế độ phụ cấp; tiêu chuẩn quân trang, bảo đảm y tế và đồ dùng sinh hoạt; tiêu chuẩn ăn; trợ cấp gia đình trong thời gian tập trung huấn luyện; chế độ, chính sách khi ốm đau, bị tai nạn rủi ro, bị thương hoặc chết…

Hình ảnh trái chuẩn mực đạo đức không được đưa lên mạng

Có hiệu lực từ 01/5/2016, Nghị định số 15/2016/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu quy định rõ: Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp, người mẫu không được phổ biến, lưu hành hình ảnh cá nhân… và thực hiện các hành vi trái với giá trị, chuẩn mực đạo đức trên mạng viễn thông.

Quy định về quản lý, sử dụng ODA

Có hiệu lực từ 2/5/2016, Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/03/2016 quy định về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sửa đổi quy định về hình thức xử phạt trục xuất

Có hiệu lực từ 2/5/2016, Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Điều kiện kinh doanh khí

Có hiệu lực từ 15/5/2016, Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 về kinh doanh khí thay thế Nghị định số 107/2009/NĐ-CP ngày 26/11/2009 về kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng và Điều 2 Nghị định số 118/2011/NĐ-CP ngày 16/12/2011 sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hoá lỏng. Nghị định mới điều chỉnh một số quy định về kinh doanh khí và điều kiện kinh doanh khí tại thị trường Việt Nam.

Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính

Có hiệu lực từ ngày 15/5/2016, Nghị định số 20/2016/NĐ-CP ngày 30/3/2016 quy định về xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, UBND cấp tỉnh, các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu này.

Sử dụng dịch vụ hỏa táng được hỗ trợ chi phí

Theo Nghị định 23/2016/NĐ-CP ngày 5/4/2016 về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng có hiệu lực từ 27/05/2016, người sử dụng dịch vụ hỏa táng được hỗ trợ chi phí hỏa táng, chi phí vận chuyển và các chi phí khác.

Quy định về quản lý vật liệu xây dựng

Nghị định 24a/2016/NĐ-CP ngày 5/04/2016 về quản lý vật liệu xây dựng có hiệu lực từ 26/5/2016. Nghị định này quy định các hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng bao gồm: Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng; hoạt động đầu tư, sản xuất vật liệu xây dựng, quản lý chất lượng, kinh doanh vật liệu xây dựng,…

Đình Dũng

Nguồn : Baocongthuong.com.vn

Thiếu giải pháp công nghệ hậu khai thác

Triển lãm quốc tế “Công nghệ khai thác và khôi phục tài nguyên khoáng sản tại Việt Nam (Mining 2016 Vietnam)” sẽ diễn ra từ ngày 29 – 31/3 tại Trung tâm Triển lãm quốc tế Hà Nội. Theo thông tin từ cuộc họp báo giới thiệu triển lãm, các nhà triển lãm chủ yếu giới thiệu, trưng bày các giải pháp công nghệ cho phần khai thác, còn về hậu khai thác (khôi phục tài nguyên) không thấy quan tâm.

Máy móc, công nghệ trưng bày tại Triển lãm Mining Vietnam 2014

Theo số liệu thống kê, năm 2015, chỉ số phát triển ngành công nghiệp Việt Nam tăng trưởng 9,39% so với năm 2014, trong đó, ngành sản xuất khai thác khoảng sản tăng 6,5%. Trong ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, gần 90% quy mô là công nghiệp khai thác than. Mục tiêu đề ra của ngành Than Việt Nam theo quy hoạch, đến năm 2020, khai thác đạt 60- 65 triệu tấn than, năm 2030 đạt 70-75 triệu tấn. Năm 2015, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã khai thác đạt 100% kế hoạch sản xuất than nguyên khai và tiêu thụ 35,5 triệu tấn.

Công nghiệp khai khoáng nói chung và khai thác than nói riêng đều tăng trưởng, cùng với mục tiêu dài hạn được xác định như trên, hệ quả tất yếu sẽ kéo theo nhu cầu về công nghệ, thiết bị và các giải pháp cho sản xuất tăng theo. “Có cầu ắt có cung”, đây là lý do các nhà tổ chức triển lãm tiếp tục tổ chức Mining tại Việt Nam và được sự ủng hộ, bảo trợ của nhiều bộ, ngành liên quan.

Do nhu cầu phát triển kinh tế, đất nước cần nguồn năng lượng lớn, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng nhằm giảm dần sử dụng năng lượng hóa thạch tác động đến môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu đã và đang được chú trọng. Tuy nhiên, các giải pháp đa dạng hóa năng lượng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, vì vậy công nghiệp khai thác than – khoáng sản Việt Nam phải tiếp tục mở rộng về quy mô.

Mining 2016 Vietnam có thể coi là diễn đàn và cơ hội có ý nghĩa với ngành Than – Khoáng sản Việt Nam, thế nhưng, hầu như không thấy có các giải pháp cho khâu khôi phục môi trường, tài nguyên hậu khai thác được quảng bá, giới thiệu. Lý giải sự thiếu vắng này, ông TB Tee – Phó trưởng đại diện Công ty Dịch vụ triển lãm Singapore tại Việt Nam (đơn vị tổ chức triển lãm)- cho rằng: Bảo vệ môi trường là thách thức lớn trong ngành khai thác khoáng sản. Một vế là nhu cầu phát triển kinh tế cần năng lượng, một vế là sản xuất phải đảm bảo không ô nhiễm môi trường. Điều này rất khó cho sự lựa chọn phát triển của Việt Nam hiện nay. Thế giới đã có công nghệ khai thác than và khoáng sản không gây quá nhiều ô nhiễm môi trường, nhưng chi phí rất lớn. Không biết các doanh nghiệp khoáng sản Việt Nam và người dân có sẵn sàng trả cho chi phí công nghệ cao và theo đó kéo theo giá năng lượng cao hay không? Mining 2016 Vietnam được tổ chức giúp cho các bên liên quan gặp nhau để cập nhật các giải pháp mới, tiên tiến, chia sẻ kinh nghiệm phát triển, đáp ứng các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn.

“Đối với Việt Nam, hiện nay, than là nguồn năng lượng được cho là rẻ nhất so với phát triển các nguồn năng lượng khác. Nguồn năng lượng sạch có thể thay thế đang cân nhắc là điện hạt nhân nhưng cũng có rủi ro lớn nếu không làm chủ được công nghệ. Cách tốt nhất để bảo vệ môi trường là sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên không tái tạo như than… Chưa ai có câu trả lời cụ thể khôi phục lại được nguyên trạng môi trường và tài nguyên không tái tạo hậu khai thác” – ông TB Tee khuyến nghị.
Ban tổ chức Triển lãm Mining 2016 Vietnam cho biết, đến thời điểm này đã có 161 nhà trưng bày triển lãm đến từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham dự để trưng bày, giới thiệu công nghệ và các giải pháp cho lĩnh vực công nghiệp khai thác khoáng sản tại Việt Nam.

Lan Ngọc

Nguồn : Baocongthuong.com.vn

Đồng giao sau tăng nhẹ bỏ qua số liệu thương mại của Trung Quốc

Giá đồng giao sau tăng nhẹ trong phiên đầu tuần do giới đầu tư phớt lờ tác động về số liệu thương mại của Trung Quốc thấp hơn so với dự kiến. Tuy nhiên giá niken giảm do lượng niken tồn kho lập mức cao kỷ lục cho thấy thiếu hụt nguồn cung theo dự đoán trước đây là không đúng.

Mặc dù thị trường có dự đoán từ trước, nhưng suy giảm thương mại trong tháng 1 của Trung Quốc vẫn khiến cho người ta cảm thấy bất ngờ: kim ngạch xuất nhập khẩu trong tháng giảm 10,9% so với cùng kỳ năm trước, cùng với sự suy giảm kim ngạch nhập khẩu lớn nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính. Thặng dư thương mại giảm xuống mức kỷ lục 60.000.000.000 USD

Eugen Weinberg – Chuyên gia phân tích hàng đầu của Commerzbank tại Frankfurt nhận định: “Số liệu của Trung Quốc bất ngờ sụt giảm trên diện rộng, từ quặng sắt tới đồng và mọi thứ khác”.

Giá đồng giao sau kỳ hạn 3 tháng tại sàn giao dịch LME tăng 0,4% lên mức 5.673 USD/tấn, trong phiên giao dịch trước giá đồng giảm 1,2%.

Đồng bạc xanh giảm cũng hỗ trợ cho hàng hóa kỳ hạn. Tuần trước giá đồng đảo chiều tăng 2,8%, là mức tăng cao nhất kể từ tháng 8 năm ngoái một phần nhờ hoạt động mua bù. Tuy nhiên tính đến nay giá đồng đã giảm hơn 10%.

Theo số liệu hải quan Trung Quốc cho thấy, nhập khẩu đồng của Trung Quốc trong tháng 1 giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 410.000 tấn.

Theo dự đoán trước đây của nhiều chuyên gia phân tích, lệnh cấm xuất khẩu quặng niken của Indonesia – Quốc gia xuất khẩu niken chính sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn cung. Nhưng số liệu tồn kho tại LME cho thấy sau khi lượng niken tồn kho tăng lên mức kỷ lục 426.324 tấn, giá niken giao sau giảm 0,3% xuống còn 15.155 USD/tấn.

Theo tờ Nhật báo hải quan Trung Quốc, xuất khẩu nhôm chưa gia công và nhôm nguyên liệu trong tháng 1 của Trung Quốc đạt 430.000 tấn, thấp hơn so với tháng trước với mức 540.000 tấn.

Giá các kim loại cơ bản khác: Nhôm giao sau tăng 0,4% lên mức 1.877 USD/tấn; Thiếc giao sau giảm 1,5% xuống mức 18.225 USD/tấn; Kẽm giao sau giảm 0,1% xuống còn 2.160 USD/tấn; Chì giao sau giảm 0,1% xuống mức 1.851 USD/tấn.

Chỉ số giá quặng sắt Trung Quốc ngày 24 tháng 12

1. Giá quặng sắt nhập khẩu (OPI)

Ngày 24 tháng 12, giá CIF quặng bột quy khô hàm lượng 62% quặng sắt nhập khẩu trực tiếp là 66,54 USD/tấn, giảm 0,02 USD/tấn so với trước, biên độ giảm 0,03%, giá bình quân tháng là 68,83 USD/tấn;

Ngày 24 tháng 12, giá CNY kèm thuế quặng bột quy khô hàm lượng 62% quặng sắt nhập khẩu giao ngay là 513,32 CNY/tấn, tăng 0,86 CNY/tấn so với trước, biên độ tăng là 0,178%, giá bình quân tháng là 530,71 CNY/tấn;

Ngày 24 tháng 12, giá CIF quặng bột quy khô hàm lượng 58% quặng sắt nhập khẩu trực tiếp là 57,61 USD/tấn, giảm 0,02 USD/tấn so với trước, biên độ giảm 0,03%, giá bình quân tháng là 60,26 USD/tấn;

Ngày 24 tháng 12, giá CNY kèm thuế quặng bột quy khô hàm lượng 58% quặng sắt nhập khẩu giao ngay là 444,10 CNY/tấn, tăng 0,37 CNY/tấn so với trước, biên độ tăng là 0,08%, giá bình quân tháng là 461,90 CNY/tấn.

2. Giá quặng sắt sản xuất trong nước

Ngày 24 tháng 12, giá kèm thuế tinh quặng sắt quy khô hàm lượng 62% sản xuất trong nước là 615,75 CNY/tấn, giảm 10,03 CNY/tấn so với trước, biên độ giảm là 1,60%, cao hơn 102,43 CNY/tấn so với quặng sắt nhập khẩu, biên độ tăng là 19,95%. Giá bình quân tháng là 635,65 CNY/tấn, cao hơn 104,94 CNY/tấn so với quặng sắt nhập khẩu, biên độ tăng là 19,77%;

Ngày 24 tháng 12, giá kèm thuế tinh quặng sắt quy khô hàm lượng 65% sản xuất trong nước là 669 CNY/tấn, giảm 19,37 CNY/tấn so với trước, biên độ giảm là 2,81%, giá bình quân tháng là 700,34 CNY/tấn.

3. Chỉ số giá quặng sắt Trung Quốc (CIOPI)

Ngày 24 tháng 12, chỉ số giá quặng sắt Trung Quốc (CIOPI) là 244,15 điểm, giảm 1,27 điểm so với trước, biên độ giảm 0,52%. Trong đó: Chỉ số giá quặng sắt sản xuất trong nước là 239,29 điểm, giảm 3,91 điểm so với trước, biên độ giảm là 1,61%. Chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu là 246,35 điểm, giảm 0,07 điểm so với trước, biên độ giảm là 0,03%.

Bộ Công Thương họp báo thường kỳ tháng 7/2014

Ngày 4/8/2014, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng, Người phát ngôn Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ tháng 7/2014.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải chủ trì họp báo.

CôngThương – Tại buổi họp báo, Bộ Công Thương đã cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2014.

Mở đầu buổi họp, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết:

Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tháng 7 năm 2014, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 0,2% so với tháng 6 năm 2014 và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,3%, ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,6% và ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2013.

Sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2014 tăng trưởng 6,2% (cao hơn mức tăng 5,8% của 6 tháng năm 2014 và mức tăng 5,4% của 7 tháng năm 2013 so với cùng kỳ), trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá, cao hơn mức tăng của toàn ngành (tăng 8,1% so với mức tăng 6,2% của toàn ngành).

Tháng 6 năm 2014, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 8,9% so với tháng 6 năm 2013. Tính chung 6 tháng đầu năm 2014 chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở nhóm hàng chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản (tăng 16,8%); sản xuất đường (tăng 23,1%); sản xuất vải dệt thoi (tăng 18,2%)… Những nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ là sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự (giảm 22,5%); sản xuất thuốc lá (giảm 9,9%)…

Tình hình tồn kho: Tại thời điểm 01 tháng 7 năm 2014, chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với thời điểm 01 tháng 6 năm 2014 (thấp hơn mức tăng 4,5% tại thời điểm 01 tháng 6 năm 2014 so với thời điểm 01 tháng 5 năm 2014) và tăng 13,2% so với cùng thời điểm năm trước.

Một số ngành chỉ số tồn kho cao là: sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự (tăng 53,8%), sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (tăng 77,0%), sản xuất đồ uống (tăng 19,4%)… (Nguyên nhân chủ yếu do tiêu thụ giảm).

Về tình hình nổi bật của một số ngành

Ngành Điện: Theo thống kê của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bão số 2 đã gây thiệt hại trên 21 tỷ đồng cho Tổng công ty Điện lực Miền Bắc. Trước tình hình đó, ngành điện đã khẩn trương khắc phục các sự cố và đến hết ngày 25/7/ 2014, toàn bộ lưới điện các khu vực bị ảnh hưởng về cơ bản đã được khắc phục hoàn toàn, đảm bảo cung cấp điện cho nhân dân. Trong tháng 5 năm 2014, sau sự cố máy biến áp tại Trạm biến áp 500kV Hiệp Hòa gây gián đoạn cấp điện và chất lượng điện áp tại một số tỉnh phía Bắc, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nhanh chóng có phương án khắc phục để ổn định cấp điện, đến ngày 07 tháng 7 năm 2014, máy biến áp AT2 đã được khắc phục và đưa trở lại vận hành trong hệ thống.

Điện sản xuất của cả nước tháng 7 năm 2014 ước đạt 12,34 tỷ kWh, tăng 11,4% so cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2014, điện sản xuất ước đạt 79,32 tỷ kWh, tăng 11,9% so cùng kỳ.

Ngành Than- Khoáng sản: Than sạch khai thác của toàn ngành tháng 7 ước đạt 2,8 triệu tấn tăng 8,7% so với cùng kỳ 2013, tính chung 7 tháng đầu năm, sản lượng than sạch ước đạt 23,045 triệu tấn, bằng 96,6% so với cùng kỳ.

Ngành Dầu khí: Sản lượng một số sản phẩm chính ngành dầu khí đều tăng trưởng khá so với cùng kỳ: dầu thô khai thác tháng 7 ước đạt 1,4 triệu tấn, bằng 99,7% so cùng kỳ, tính chung 7 tháng ước đạt 9,8 triệu tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ; sản lượng khí đốt thiên nhiên ước đạt 0,8 tỷ m3, tăng 13,9% so với cùng kỳ, tính chung 7 tháng đầu năm, sản lượng khí đốt đạt 6,2 tỷ m3, tăng 3,3% so với cùng kỳ; sản lượng khí hóa lỏng (LPG) tháng 7 ước đạt 51 nghìn tấn, bằng 81,6% so với cùng kỳ, tính chung 7 tháng, sản lượng khí hóa lỏng (LPG) ước đạt 365,5 nghìn tấn, bằng 89,3% so với cùng kỳ.

Ngành Thép: Lượng sắt thép thô ước đạt 311,3 nghìn tấn, tăng 21% so với cùng kỳ; lượng thép cán ước đạt 295,5 nghìn tấn, tăng 17,9% so với cùng kỳ; lượng thép thanh, thép góc ước đạt 285,2 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2014, lượng sắt thép thô đạt 1.708,9 nghìn tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ; thép cán đạt 2.012,9 nghìn tấn, tăng 23,8% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt 1.995,8 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ. Nhập khẩu thép các loại từ các thị trường trong tháng 7 tăng 23,7% về lượng và tăng 17,5% về trị giá. Tính chung 7 tháng năm 2014, nhập khẩu thép các loại tăng 5,8% về lượng, giảm 1,2% về trị giá; sản phẩm từ thép tăng 1,9% về trị giá.

Ngành Phân bón, hóa chất: 7 tháng năm 2014, ước sản lượng phân đạm urê đạt 1.239,6 nghìn tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2013; phân NPK khoảng 1.451,2 nghìn tấn tăng 1,4% so cùng kỳ.

Ngành Dệt may: Với những nỗ lực của toàn ngành, dệt may đã vượt qua điện thoại để trở thành ngành đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, tháng 7 năm 2014 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc đạt 2,1 tỷ USD, tăng 11,1% so với tháng trước và tăng 17,4% so với cùng kỳ, (kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện tháng 7 đạt 1,6 tỷ USD). Tính chung 7 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt 11,48 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành Thuốc lá: Sản lượng thuốc lá bao các loại tháng 7 ước đạt 346,3 triệu bao, giảm 8,3% so với tháng 7 năm 2013; tính chung 7 tháng ước đạt 2,4 tỷ bao, giảm 12,6% so với cùng kỳ.

– Các ngành khác: Tháng 7 sản xuất tương đối ổn định. Tính chung 7 tháng năm 2014, nhìn chung sản xuất các ngành có mức tăng trưởng so với cùng kỳ, tuy nhiên một số ngành sản xuất giảm so với cùng kỳ (sữa bột giảm 1%; dầu gội đầu, dầu xả giảm 4,1%..)

Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng 6 và tăng 7,7% so với tháng 7 năm 2013. Tính chung 7 tháng năm 2014 KNXK ước đạt 83,5 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013 (tương đương với tăng 10,3 tỷ USD).

Nhóm hàng nông lâm thủy sản 7 tháng năm 2014 xuất khẩu ước đạt 12,65 tỷ USD, chiếm 15,1% trong tổng KNXK; Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản 7 tháng năm 2014 ước đạt gần 5,74 tỷ USD, chiếm 6,9% trong tổng KNXK; Nhóm hàng công nghiệp chế biến 7 tháng năm 2014 ước đạt 60,24 tỷ USD, chiếm 72,1% trong tổng KNXK.

Về nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 12,65 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng 6 và tăng 13,6% so với tháng 7 năm 2013, Tính chung 7 tháng năm 2014, KNNK ước đạt 82,25 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Nhập khẩu hàng hoá 7 tháng năm 2014 của nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 72,72 tỷ USD, tăng 11,0% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 88,4% KNNK, chủ yếu tập trung vào nhóm các mặt hàng là nguyên liệu cho sản xuất. Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,44 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 4,2% KNNK. Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu ước đạt gần 3,47 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 4,2% KNNK.

Về cán cân thương mại: Nhập siêu tháng 7 ước 250 triệu USD (bằng 2,0% kim ngạch xuất khẩu). Tính chung 7 tháng 2014, xuất siêu khoảng 1,26 tỷ USD (bằng 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), trong đó, khối các doanh nghiệp trong nước nhập siêu 8,5 tỷ USD, khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 9,8 tỷ USD.

Về công tác quản lý thị trường: Theo báo cáo nhanh, trong tháng 7, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra gần 15.000 vụ, xử lý trên 8.000 vụ vi phạm, tổng số tiền phạt nộp ngân sách trên 33 tỷ đồng. Ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2014, lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra trên 106.800 vụ, xử lý trên 56.500 vụ vi phạm, tổng số tiền phạt nộp ngân sách trên 234 tỷ đồng.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

Trong khuôn khổ họp báo, Thứ trưởng, Người phát ngôn Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải và đại diện Tổng cục Năng lượng, các Cục, Vụ… đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí.

Phóng viên Xuân Tiến – Đài Truyền hình KTS VTC1:

1. Nhiều khách hàng điện tại Hà Nội cho biết trong tháng 7/2014, hóa đơn tiền điện lại giảm nhiều so với tháng 6/2014. Đề nghị Bộ Công Thương cho biết nguyên nhân? Bộ có biện pháp gì để kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng?

2. Trong buổi họp báo trước, Cục Điều tiết điện lực cho biết sẽ làm việc với EVN và EVN Hà Nội về việc hóa đơn tiền điện tăng đột biến và việc theo dõi ghi số điện của người dân. Xin cho biết kết quả như thế nào?

Ông Đinh Thế Phúc – Phó Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực trả lời:

Có thể thấy ở đây là hóa đơn tiêu thụ điện của khách hàng phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Nắng nóng cao sẽ dẫn đến sử dụng nhiều thiết bị làm mát và dẫn đến tăng sản lượng tiêu thụ điện. Quan trọng là chênh lệch nhiệt độ môi trường và nhiệt độ làm mát. Ví dụ: Nhiệt độ ngoài trời là 30 độ C trong khi nhiệt độ trong phòng làm mát là 25 độ C sẽ khác với ở ngoài là 35 độ C mà nhiệt độ trong phòng làm mát là 25 độ C. Mức chênh lệch cao đòi hỏi công suất làm mát phải lớn hơn. Như vậy, việc sử dụng điện ảnh hưởng rất nhiều từ thời tiết.

Tháng 6, sau khi có thông tin phản ánh giá điện cao, chúng tôi tiến hành kiểm tra tại Tổng công ty Điện lực Hà Nội. Sau đó, Bộ Công Thương có văn bản 6562 chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực Hà Nội nói riêng và các Tổng công ty điện khác thực hiện công khai thông báo lịch ghi công tơ; công khai cho khách hàng chỉ số công tơ ghi điện tiêu thụ trong tháng. Ngoài ra, cũng yêu cầu tuyên truyền cho nhân dân về nội dung thực hiện văn bản 6562.

Bộ Công Thương cũng đi kiểm tra lại ở Tổng công ty Điện lực Hà Nội về quá trình thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương thì có thấy so với tháng 6, tháng 7 có giảm.

Tháng 7 có 183 nghìn khách hàng giảm 1,5 lần trở lên, và nếu tính 2 lần trở lên thì có 75 nghìn khách hàng. Tuy nhiên, trong tháng 6, khách hàng kêu hóa đơn tiền điện tăng cao thì bản thân trong tháng 6 có 79 nghìn khách hàng có hóa đơn tiền điện giảm hơn 1,5 lần so với tháng 5, nếu tính 2 lần thì có 42 nghìn khách hàng giảm. Còn tính số lượng tăng, trong tháng 6 rất nhiều, trong tháng 6 có 686 nghìn khách hàng tăng trên 1,5 lần, nếu tăng trên 2 lần là 340 nghìn khách hàng. Trong tháng 7, có 110 nghìn khách hàng tăng trên 1,5 lần. Như vậy, việc tăng giảm tháng nào cũng diễn ra, không phải riêng năm 2014 mà các năm nào cũng có.

Về nguyên nhân, trong tháng 7 thời tiết dễ chịu hơn, đặc biệt cuối tháng 7 nhiệt độ xuống thấp. Ngoài ra, tháng 7 hóa đơn tiền điện có 30 ngày. Ví dụ tại Tổng công ty Điện lực Hà Nội có 2 triệu khách hàng và việc ghi chỉ số hóa đơn không thể ghi cùng lúc vào một ngày 30 hay 31. Theo quy định mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam phân bổ cho các đơn vị lịch ghi chỉ số từ ngày 6 đến 25 hàng tháng. Như vậy, hóa đơn trong tháng 7, ví dụ ghi hóa đơn của 1 hộ là ngày 20 hàng tháng, thì cứ ngày 20 nhân viên sẽ đến ghi. Hóa đơn tháng 7 tính từ 21/6 – 20/7, như vậy là 30 ngày. Ngược lại, tháng 6 tính từ 21/5 – 20/6 tính là 31 ngày. Như vậy, thời gian thực hiện trong tháng 7 có ngắn hơn so với tháng 6. Đây có thể tính là một nguyên nhân, tuy nhiên, cái chính vẫn là việc sử dụng điện của khách hàng.

Liên quan đến vấn đề giám sát triển khai yêu cầu thực hiện của Tổng công ty Điện lực Hà Nội. Trong tháng 7, Tổng công ty Điện lực Hà Nội đã thực thi kiểm tra lại các hóa đơn. Đối với các hóa đơn có chênh lệch lớn như tăng gấp đôi hoặc giảm một nửa, đều cho người đi kiểm tra lại trước khi phát hành cho khách hàng. Tổng công ty cũng đã thực hiện nhắn tin cho khách hàng về chỉ số công tơ, tuy nhiên việc thực hiện này chưa được áp dụng 100% các khách hàng. Theo thông báo của Tổng công ty Điện lực Hà Nội, trong tháng 7, công ty đã nhắn tin trên 822 nghìn khách. Lý giải cho việc chưa áp dụng cho toàn bộ khách hàng, tổng công ty cho biết, có nhiều số điện thoại của khách hàng chưa được đăng ký để thông báo về lượng tiêu thụ điện hàng tháng. Qua đây, chúng tôi cũng nhờ cơ quan báo chí tuyên truyền đến người dân có nhu cầu để đăng ký số điện thoại cho tổng công ty để họ nhắn tin về sản lượng điện tiêu thụ.

Về công bố công khai niêm yết lịch ghi chỉ số công tơ, hiện nay có Tổng công ty Điện lực Hà Nội đã thực hiện tại 216/216 phòng giao dịch và công khai thông báo loa truyền thanh của phường, xã. Mặc dù việc thông báo trên loa truyền thanh này đôi khi khách hàng không nhận được bởi trùng giờ đi làm, tuy nhiên, đây cũng là một cách thực hiện của Tổng công ty nhằm công khai minh bạch tới khách hàng. Ngoài ra, chúng tôi cũng yêu cầu EVN tổ chức các cuộc kiểm tra ghi chỉ số công tơ và giải đáp thắc mắc của khách hàng để đảm bảo tính công khai minh bạch và chính xác.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Điện là mặt hàng thiết yếu, nhạy cảm, có ảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân.

Vì vậy, việc hóa đơn tiền điện tháng 6 tăng cao so với thời gian trước đó đã có ảnh hưởng ít nhiều đến sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân, gây nhiều ý kiến trong dư luận. Về việc này, Bộ Công Thương đã có chỉ đạo yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực Hà Nội kiểm tra, xử lý các vi phạm. Theo báo cáo, TCT Điện lực Hà Nội đã cho nghỉ việc 2 công nhân vi phạm. Ngoài ra, cũng thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm đảm bảo thông tin về việc tổng số điện tiêu thụ, tổng tiền phải trả… đến người tiêu dùng tốt hơn và người dân có thể tham gia vào việc kiểm soát. Bộ Công Thương cũng yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục kiểm tra, giám sát và cung cấp thông tin đến người dân trên phạm vi toàn quốc.

Việc tháng 7/2014 hóa đơn tiền điện giảm nhiều so với tháng 6/2014, tiếp theo ý kiến của anh Đinh Thế Phúc – Phó Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực vừa trình bày, Tôi xin tóm tắt các nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, việc tăng giảm sản lượng tiêu thụ điện có tính quy luật về thời tiết, mùa vụ (tháng 7/2013 có đến gần 140 nghìn khách hàng có sản lượng tiêu thụ điện giảm trên 1,5 lần so với tháng 6/2013, gần 56 nghìn khách hàng có sản lượng sử dụng điện giảm trên 2 lần so với tháng 6/2013. Thứ 2, thời tiết tháng 7/2014 dịu mát hơn (đặc biệt, từ ngày 14 đến 22 tháng 7 nhiệt độ thấp nhất còn 25 C, nhiệt độ cao nhất chỉ ở mức 30 oC. Tháng 7 số ngày sử dụng điện chỉ là 30 ngày (so với tháng 6 là 31 ngày) Thứ 3, từ tháng 7/2014 áp dụng giá điện mới, về tổng thể mức bán lẻ bậc thang giảm so với mức giá quy định tại Thông tư 19/2013/TT-BCT (bậc 3 giảm 384 đồng, bậc 4 giảm 128 đồng, bậc 5 giảm 37 đồng, bậc 6 giảm 21 đồng). Vì vậy, các khách hàng sử dụng cùng sản lượng điện nhưng tiền điện tháng 7 thấp hơn tiền điện tháng 6.

Nguồn tin Báo Công thương.

Kế hoạch sản xuất trên 300 tấn bạc trong năm nay của Codelco Chile

Trong năm tháng đầu năm 2014, sản xuất bạc tại Codelco (Chile), mỏ đồng lớn nhất thế giới đã tăng 38% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây được xem như kết quả của những nỗ lực của Công ty để trở thành một trong 10 nhà sản xuất bạc hàng đầu trên thế giới.

Theo các số liệu do công ty cung cấp, tới cuối tháng Năm, sản lượng bạc đạt 144 tấn, tăng hơn cùng kỳ năm ngoái 40 tấn. Công ty hy vọng rằng sẽ khai thác được từ 300 đến 600 tấn bạc trong năm nay.

Nằm tại khu vực ngoại ô Calama, phía Bắc Chile, mỏ Codelco trị giá 3 tỷ USD sản xuất được khoảng 1/3 sản lượng bạc của nước này, cung cấp cho thị trường khoảng 180 tấn đồng.

Năm ngoái, tổng sản lượng bạc của Chile đạt khoảng 1.220 tấn, chiếm 5% tổng sản lượng bạc thế giới./.

Nguồn : (Theo Vinamin)

Nhiều kiến nghị về thu tiền quyền khai thác khoáng sản

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vừa tổ chức Hội nghị trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố về tập huấn nghiệp vụ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP. Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ra đời để hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản năm 2010…

CôngThương – Nghị định đúng lộ trình và cấp thiết

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường – Trần Hồng Hà – nhấn mạnh: Luật Khoáng sản 2010 được ban hành và thực thi đã góp phần không nhỏ đưa công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản đi vào nề nếp. Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ra đời để hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản năm 2010 là đúng lộ trình và cấp thiết. Việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của doanh nghiệp là chính sách mới, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để tái đầu tư cho hạ tầng cơ sở, an sinh xã hội, cải tạo môi trường và những hệ lụy khác do khai thác khoáng sản gây ra…

Ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất – Khoáng sản:

Phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo cách mới sẽ điều chỉnh việc khai thác khoáng sản theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tổng cục Địa chất – Khoáng sản sẽ giải đáp hết những khúc mắc để DN thật sự “tâm phục khẩu phục” nộp tiền cấp quyền.
Theo Nghị định 203/2013/NĐ-CO (có hiệu lực từ ngày 20/01/2014), mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính theo nhóm, loại khoáng sản có giá trị từ 1% đến 5%, cách tính dựa trên các chỉ số như trữ lượng khai thác, hệ số thu hồi khoáng sản liên quan đến phương pháp khai thác, hệ số liên quan đến điều kiện kinh tế – xã hội… Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định theo giá tính thuế tài nguyên do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng. Mỗi loại khoáng sản chỉ áp dụng 1 mức giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản… Số tiền này nộp 70% cho ngân sách trung ương, 30% cho ngân sách địa phương (với Giấy phép do Trung ương cấp); nộp 100% cho ngân sách địa phương (với Giấy phép do UBND tỉnh cấp).

Nhiều kiến nghị từ phía doanh nghiệp

Theo các doanh nghiệp (DN), hiện các DN đang gặp rất nhiều khó khăn nên việc thi hành Nghị định 203 cần xác định thời điểm hợp lý và phải có thời gian. Hơn nữa, nếu áp dụng thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản từ thời điểm Luật Khoáng sản sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 thì số tiền mà các DN phải nộp ít nhất cũng hàng chục tỉ đồng, có DN số này lên đến mấy nghìn tỉ đồng. Trong khi đó, các DN đã “chốt sổ” kế toán theo năm tài chính, quyết toán phân chia cổ phần, cổ tức… nếu thu theo kiểu “hồi tố” thì sẽ rất khó khăn, có DN sẽ phá sản. Vì vậy, các DN đề nghị không thu tiền từ 1/7/2011. Ngoài ra, cần nghiên cứu lại mức tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, trong đó đặc biệt là đánh giá lại trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản để các cơ quan chức năng có con số chính xác khi tính toán mức thu tiền với từng DN…

Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Nguyễn Văn Thuấn cho biết, sở dĩ thời gian tính mức thu tiền bắt đầu từ ngày 20/1/2014 là theo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản 2010.

Nguồn : (baocongthuong)

Dự báo giá, diễn biến thị trường các kim loại cơ bản trong năm 2014

Theo các chuyên gia phân tích tại ba hãng nghiên cứu, tư vấn hàng hóa và dịch vụ tài chính lớn: CPM Group (Mỹ), BNP Paribas (Pháp) và INTL FCStone (Mỹ), giá các kim loại cơ bản đã có diễn biến trái chiều trong năm nay và được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng này trong những tháng tới; triển vọng về nguồn cung là nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tới sự trồi sụt giá của các kim loại cơ bản.

Giá các kim loại cơ bản tăng, giảm không đều: giá chì, kẽm và thiếc có xu hướng gia tăng; trong khi, giá đồng gần như không tăng hoặc giảm nhẹ do các nhà sản xuất gia tăng công suất sản xuất. Giá nhôm có xu hướng giảm do mức dự trữ cao và dư cung trên thị trường.

Theo hãng BNP Paribas và INTL FCStone cho biết, thiếc, chì và kẽm sẽ là những kim loại cơ bản có mức tăng giá cao nhất trong năm 2014.

Kim loại thiếc đã có sự gia tăng giá trong năm nay. Ông Stephen Briggs, chiến lược gia thị trường cấp cao tại BNP Paribas cho biết: “Sản lượng khai thác thiếc toàn cầu tăng rất ít trong những năm gần đây và tình hình này sẽ vẫn không thay đổi trong năm tới hoặc những năm tiếp theo. Có thể phải đến cuối năm 2014, mới có một vài mỏ khai thác mới đi vào hoạt động tại Australia hoặc các quốc gia khác. Tuy nhiên trong vòng 12 tháng tới, nguồn cung tại các mỏ mới sẽ rất ít và các nhà khai thác hiện tại đang phải nỗ lực duy trì công suất khai thác”.

Dự báo diễn biến thị trường thiếc và kẽm

Thị trường thiếc hiện đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung kéo dài trong 3 hoặc 4 năm, do đó ông Stephen Briggs nhận định: “Tình trạng thiếu hụt nguồn cung thiếc sẽ kéo dài sang năm 2014”.

Hãng INTL FCStone cũng đưa ra dự báo thiếu hụt nguồn cung thiếc trong năm 2014 và năm 2015; trong khi đó, hãng CPM dự báo thị trường thiếc sẽ có mức dư cung nhỏ.

Bà Catherine Virga, giám đốc nghiên cứu của hãng CPM Group cho biết, việc Indonesia thay đổi chính sách xuất khẩu đã hạn chế nguồn cung ra thị trường, qua đó đẩy giá thiếc tăng cao trong giai đoạn gần đây. Tuy nhiên, nếu giá thiếc tiếp tục được giữ ở mức cao thì sẽ nhiều nguồn cung thiếc được đưa ra thị trường hơn. Điều này đồng nghĩa với việc giá thiếc sẽ có xu hướng cân bằng, giảm xuống trong bối cảnh giá thiếc đang được đẩy lên cao.

Bà Catherine Virga cũng dự báo, kẽm sẽ là một trong những kim loại cơ bản có mức tăng giá cao nhất trong năm 2014.

Hãng BNP Paribas nhận định: kẽm hiện đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung; trong khi đó các hãng CPM Group và INTL FCStone lại cho rằng kẽm ở mức dư thừa trong năm nay và dự báo tình trạng dư thừa sẽ giảm xuống trong năm 2014. Hãng CPM Group dự báo thị trường kẽm sẽ xuất hiện tình trạng thiếu hụt nguồn cung vào năm 2015.

Ông Stephen Briggs cho biết một vài mỏ kẽm mới đang được đưa vào khai thác, hai mỏ kẽm đang ở cuối giai đoạn khai thác và sẽ đóng cửa trong năm nay và một vài mỏ nữa được dự báo sẽ đóng cửa trong 2 năm tới. Do đó, nguồn cung kẽm ra thị trường đang bắt đầu giảm xuống trong vòng 12 đến 24 tháng tới.

Giá thiếc được hãng CPM Group dự báo đạt trung bình 21.815 USD/tấn trong năm 2014; hãng INTL FCStone đưa ra con số: 22.700 USD/tấn. Hãng BNP Paribas cho biết giá thiếc có thể đạt mức cao nhất 25.000 USD/tấn; trong khi hãng INTL FCStone dự báo mức giá thiếc cao nhất năm 2014 sẽ đạt 26.000 USD/tấn.

Giá kẽm được dự báo đạt: 2.005 USD/tấn (CPM Group), 2.060 USD/tấn (BNP Paribas) và 2.100 USD/tấn (INTL FCStone).

Dự báo diễn biến thị trường chì

Sản lượng khai thác chì được dự báo sẽ không chịu tác động mạnh từ việc các mỏ khai thác thiếc đóng cửa; Tuy nhiên, sản lượng chì cũng sẽ ít tăng lên – theo ông Stephen Briggs cho biết.

Ông Stephen Briggs giải thích, mặc dù kim loại thiếc và chì vốn được khai thác cùng nhau nhưng trong vòng 3 thập kỷ qua, các công ty khai khoáng đã tìm khai thác các mỏ quặng có hàm lượng kẽm cao nhưng hàm lượng chì thấp do các vấn đề liên quan đến môi trường khi khai thác chì.

Bên cạnh yếu tố nguồn cung chì mới sẽ không có nhiều, thì việc tái chế sẽ không gia tăng kịp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng. Do đó, ông Stephen Briggs nhận định nguồn cung chì trên thị trường sẽ trở nên căng thẳng.

CPM Group dự báo trong năm 2014, thị trường chì sẽ bị thiếu hụt 28.000 tấn theo sau sự dư thừa 16.000 tấn trong năm 2013. Hãng BNP dự báo mức dư thừa chì trên thị trường sẽ giảm xuống trong năm 2014. Trong khi hãng INTL FCStone nhận định cung cầu trên thị trường thiếc sẽ trở nên cân bằng trong năm 2014 sau khi có mức dư thừa 15.000 tấn trong năm 2013.

Ông William Adams, trưởng ban nghiên cứu tại Fastmarkets.com cho biết, thị trường chì hiện ở mức “tương đối cân bằng” do đó chì ít phải chịu nhiều tác động giảm giá.

Giá chì được dự báo ở mức: 2.200 USD/tấn (CPM Group), 2.250 USD/tấn (INTL FCStone), và 2.345 USD/tấn (BNP Paribas).

Dự báo diễn biến thị trường đồng

Theo các nhà phân tích, nguồn cung đồng đang tăng lên và điều này sẽ ghìm giá đồng. Hãng CPM Group ước lượng sản lượng khai thác đồng toàn cầu sẽ tăng thêm 3,9% trong năm 2013 lên mức 17,35 triệu tấn và sẽ đạt 20,2 triệu tấn trong năm 2015. BNP Parisbas dự báo sản lượng đồng sẽ tăng lên mức 19,55 triệu tấn cho đến năm 2015.

Ông William Adams cho biết: “Giá đồng hiện đang ở mức cao hơn tương đối so với chi phí sản xuất. Ngoài ra, dự báo thị trường sẽ trở nên dư thừa nguồn cung đồng nhiều hơn trong năm tới. Do đó, giá đồng có thể chịu áp lực giảm”.

Bà Catherine Virga cho biết thêm, tính đến thời điểm này, các nhà khai thác đồng lớn đã tránh được tình trạng gián đoạn nguồn cung do các vấn đề liên quan đến lao động. Theo yếu tố thời vụ, nhu cầu sử dụng đồng của Trung Quốc có xu hướng tăng lên trong quý IV do hoạt động mua vào bổ sung lượng dự trữ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích, trong năm 2013, lượng đồng mua vào để bổ sung dự trữ của Trung Quốc sẽ không cao như mọi khi do tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc thấp và kỳ vọng giá đồng trong năm 2014 sẽ thấp hơn.

Hãng CPM Group dự báo, giá đồng sẽ đạt mức trung bình 7.180 USD/tấn trong quý IV/2013. Bà Catherine Virga cho biết các hãng kinh doanh Trung Quốc có thể muốn giá đồng xuống còn 6.800 USD/tấn để mua vào bổ sung dự trữ. “Tôi cho rằng thị trường đồng sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ Trung Quốc, tuy nhiên tôi không nghĩ yếu tố Trung Quốc có thể đẩy giá đồng lên cao hơn nữa” – theo bà Catherine Virga.

Dự báo dư thừa nguồn cung đồng trong năm 2013 của các hãng CPM Group, INTL FCStone và BNP Paribas nằm trong khoảng từ 150.000 tấn đến 270.000 tấn. Mức dư thừa đồng được dự báo sẽ tăng lên từ 250.000 tấn đến 400.000 đấn trong năm 2014.

Dự báo diễn biến thị trường nhôm và niken

Ông Stephen Briggs cho biết: “Rất khó để có thể lạc quan đối với giá nhôm hoặc niken bởi vì hai kim loại này đang rơi vào tình trạng dư thừa lớn”.

Nguồn cung nhôm trên thị trường hiện được đánh giá ở mức dồi dào với sản lượng cung cấp nhôm tiếp tục tăng lên, chủ yếu từ Trung Quốc. Dữ liệu của hãng CPM Group được tổng hợp từ Sàn giao dịch kim loại London và Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải cho thấy, lượng dự trữ nhôm đã đạt 5,6 triệu tấn vào ngày 27/9/2013. Chuyên gia tư vấn và hãng INTL FCStone dự báo thị trường nhôm sẽ dư thừa 900.000 tấn trong năm 2013. Các hãng CPM Group và BNP Paribas dự báo lượng dư thừa nhôm sẽ tăng cao hơn trong năm 2014; trong khi đó, hãng INTL FCStone dự báo lượng dư thừa sẽ giảm xuống trong năm 2014.

Cả ba hãng CPM Group, INTL FCStone và BNP Paribas đều dự báo dư thừa nguồn cung niken trong năm 2013 và năm 2014.

Ông Stephen Briggs cho biết: “Điều lạc quan duy nhất đối với hai kim loại này (nhôm và niken) là mức giá hiện đang nằm dưới đường chi phí hay nói cách khác, một lượng lớn các nhà sản xuất đang phải chịu lỗ. Do đó, áp lực giảm giá đối với hai kim loại này sẽ bị giới hạn”.

Bà Catherine Virga dự báo giá niken có thể tăng trở lại, chủ yếu do mức giá hiện đã bị hạ thấp xuống. Mặc khác, bà Catherine Virga cũng cho biết nhu cầu trên thị trường nhôm được đánh giá tương đối tốt nhưng mức giá nhôm đã bị đẩy xuống thấp do đó nguồn cung nhôm sẽ phản ứng lại với điều này.

Bên cạnh đó, những đề xuất thay đổi quy định rút kim loại khỏi các nhà kho của LME có thể khiến nguồn cung nhôm tăng lên trong năm tới, qua đó, gia tăng áp lực lên giá nhôm hơn nữa – theo ông William Adams.

Giá nhôm trong năm 2014 được dự báo sẽ đạt mức 1.800 USD/tấn (INTL FCStone), 1.865 USD/tấn (BNP Paribas) và 1.935 USD/tấn (CPM Group).

Giá niken trong năm 2014 được dự báo sẽ đạt 14.500 USD/tấn (INTL FCStone), 14.875 USD/tấn (BNP Paribas) và 15.715 USD/tấn (CPM Group).

Nguồn : (Tạp chí công thương)

Khai thác và chế biến khoáng sản:Chế biến sâu – con đường tất yếu

Đối với Lào Cai, khoáng sản là tài nguyên, tiềm lực quan trọng để thúc đẩy kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên khoáng sản là có hạn, vì vậy việc khai thác nguồn tiềm năng này cần phải gắn với mục tiêu tiết kiệm, nâng cao giá trị khoáng sản thông qua các chương trình, dự án đẩy mạnh chế biến sâu, tránh sự “chảy máu” tài nguyên vô ích.

Chế biến sâu để gia tăng giá trị nguồn quặng đồng.

Có thể kể đến hoạt động khai thác khoáng sản đồng, tỉnh đã phát hiện trong 10 mỏ với tổng trữ lượng khoảng 1,5 triệu tấn đồng kim loại, 5 mỏ đã được cấp phép khai thác, trong đó có mỏ đồng Sin Quyền, mỏ Vĩ Kẽm và mỏ đồng Tả Phời. Không chỉ khai thác sản phẩm thô, sau đầu tư các xưởng tuyển và nhà máy tuyển, làm quặng đồng tại Cốc Mỳ, năm 2005, Nhà máy luyện đồng Sin Quyền chính thức được đầu tư xây dựng tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng với công suất 1 vạn tấn đồng thỏi/năm. Ngoài ra, nhà máy luyện đồng còn tận thu các sản phẩm phụ để sản xuất các mặt hàng công nghiệp giá trị cao 341 kg vàng thỏi/năm, 146 kg bạc thỏi/năm và 40.000 tấn axit sunfuric/năm.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Apatít Việt Nam cũng là một trong những doanh nghiệp có hoạt động chế biến sâu hiệu quả với 3 nhà máy tuyển làm giàu quặng và nhà máy sản xuất phốt pho vàng, nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp. Để hiện thực hóa hoạt động chế biến sâu nguồn quặng, ngay từ khâu khai thác, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Apatít Việt Nam đã đầu tư trên khai trường những thiết bị hiện đại như xe vận tải đặc chủng có khớp mềm, khung động, máy xúc thủy lực gầu ngược dung tích lớn. Tại các nhà máy tuyển quặng, các dây chuyền tuyển quặng nổi được đưa vào áp dụng đã làm giàu thêm giá trị của nguồn quặng nghèo, tạo nguồn nguyên liệu quan trọng đáp ứng cho sản xuất phân bón tại các nhà máy phân bón Lâm Thao, Ninh Bình, Bình Điền… Quặng Apatít sau khai thác còn là nguyên liệu chính cho các nhà máy phốt pho vàng tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, nhờ đó mà giá trị nguồn quặng qua sản xuất công nghiệp đã được tăng lên nhiều lần.

Giai đoạn từ năm 2011 – 2013 đã đánh dấu mốc quan trọng trong các chương trình, dự án chế biến sâu khoảng sản như việc hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhà máy tuyển quặng Apatít Nhạc Sơn, các nhà máy phốt pho vàng nâng công suất để đạt mức 50 nghìn tấn/năm. Lào Cai trở thành tỉnh trọng điểm của cả nước về sản xuất phốt pho vàng với 5 nhà máy đã đi vào hoạt động và một số nhà máy chuẩn bị đầu tư xây dựng. Trong những năm qua, giá phốt pho xuất khẩu luôn đạt từ 5.000 – 8.000 USD/tấn, trong khi để sản xuất ra 1 tấn phốt pho chỉ cần khoảng 10 tấn quặng Apatít với giá trị 10 – 14 triệu đồng.

Kết quả của chủ trương chế biến sâu nguồn tài nguyên khoáng sản còn phải kể đến việc đầu tư và hoàn thành xây dựng 17 dự án thủy điện với tổng công suất 373 MW. Đó còn là các dự án phát triển công nghiệp chế biến sâu nguồn khoáng sản đang hoạt động với doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm như Nhà máy phân lân Lào Cai, Nhà máy Chế biến phụ gia thức ăn gia súc Lào Cai. Và còn là những dự án lớn đang xây dựng mà khi hoàn thành có thể biến nguồn khoáng sản trên địa bàn thành các sản phẩm công nghiệp có giá trị trị hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm như Nhà máy Gang thép Việt – Trung, Nhà máy sản xuất phân bón DAP số 2. Bên cạnh chế biến sâu nguồn quặng sắt, quặng đồng và quặng Apatít còn là các dự án chế biến nguồn quặng vàng, quặng graphit, quặng fenspat, đất hiếm…

Hoạt động của các dự án chế biến sâu đã đưa tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp trong 2 năm gần đây của tỉnh lên 21,9%, đạt mức khá so với khu vực miền núi phía Bắc. Năm 2013, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt gần 4 nghìn tỷ đồng mà mang lại thu nhập trực tiếp cho ngân sách địa phương gần 800 tỷ đồng, tăng gần 2 lần so với năm 2010. Trong quy hoạch khai thác khoáng sản đến năm 2015, trong tỉnh có tổng số 61 mỏ và điểm mỏ được đưa vào diện “đánh thức”. Đến nay, đã có hơn 40 điểm mỏ trong số đó được cấp giấy phép khai thác, việc khai thác, chế biến khoáng sản đang được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo nguyên tắc đúng quy hoạch, định hướng phát triển công nghiệp khai khoáng của tỉnh. Trên thực tế, hoạt động khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản đang cung cấp đủ nguyên liệu cho các ngành sản xuất phân bón, hóa chất và luyện kim trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Hoạt động của ngành khai thác, chế biến khoáng sản đã đóng góp lớn vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn hằng năm và làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, việc xây dựng các nhà máy chế biến sâu nguồn khoáng sản còn tạo thêm việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động…

Định hướng của tỉnh đối với việc khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trong thời thời gian tới vẫn là tiếp tục ưu tiên cho các cơ sở chế biến sâu, hạn chế xuất khẩu quặng thô. Để hoạt động chế biến sâu đạt hiệu quả cao, hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng tổn thất tài nguyên việc áp dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ tiên tiến là một trong những yếu tố quyết định. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp cũng tích cực xây dựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch và mục tiêu về nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, lao động để ngành công nghiệp khai khoáng phát triển ngày càng bền vững hơn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Mười nước sản xuất đồng lớn nhất thế giới

Theo Hiệp hội Phát triển Đồng, mỗi năm khoảng 5 triệu tấn đồng được sản xuất ra. Sau đây là 10 nước sản xuất đồng nhiều nhất trên thế giới trong năm 2012

1. Chile
Sản lượng đồng: 5,37 triệu tấn. Chile kiểm soát 36 % thị trường đồng thế giới. Nước này cũng là nơi có trữ lượng đồng lớn nhất thế giới. Theo Cục Địa chất Mỹ (USGS), trữ lượng đồng của nước này là 190 triệu tấn, trong đó 28 % trữ lượng đã được thăm dò. CODELCO là công ty quốc doanh được giao sản xuất đồng trong cả nước. Công ty sản xuất được 385.000 tấn đồng trong quí I/2013 .
2. Trung Quốc
Sản lượng đồng: 1,5 triệu tấn. Trung Quốc có trữ lượng đồng 30 triệu tấn. Khai thác trong năm 2011-2012 tăng thêm được 190.000 tấn. Jiangxi Copper là công ty khai thác đồng lớn nhất Trung Quốc, khai thác được 1,2 triệu tấn đồng trong năm 2012 và có thể đạt 1,22 triệu tấn trong năm 2013.
3. Peru
Sản lượng đồng: 1,2 triệu tấn. Theo USGS thì sản xuất đồng của Peru không thay đổi từ 2011 đến 2012, nhưng Bộ trưởng Bộ Mỏ Merino Tafur nói là nước ông sẽ trở thành nước sản xuất đồng lớn thứ hai thế giới vào năm 2016. Trữ lượng đồng đã được thẩm định của nước này là 76 triệu tấn.
4. Mỹ
Sản lượng đồng: 1,1 triệu tấn. Nhìn chung trong 5 nước sản xuất đồng hàng đầu thế giới thì sản xuất đồng của Mỹ giảm đi từng năm một. Tổng trữ lượng của Mỹ là 39 triệu tấn, tuy nhiên sản xuất đồng của nước này chỉ tăng nhẹ từ năm 2011 đến 2012. Mỹ có mỏ đồng lộ thiên lớn nhất thế giới, đó là mỏ Bingham Canyon ở bang Utah. Công ty Rio Tinto đang khai thác mỏ này.
5. Australia
Sản lượng đồng: 970.000 tấn. Sản lượng đồng của Australia tăng 12.000 tấn từ 2011 đến 2012. Tổng trữ lượng đồng của nước này là 86 triệu tấn. Phần lớn đồng của Australia được sản xuất ở mỏ vàng-đồng-uranium Olympic Dam. BHP Billiton khai thác mỏ này .
6. Nga
Sản lượng đồng: 720,000 tonnes. Nga có trữ lượng đồng 30 triệu tấn, phần lớn nằm ở Siberia và vùng núi Ural. Dự án Udokan ở Vùng lãnh thổ Transbaikal là mỏ đồng lớn thứ 3 thế giới.
7. Zambia
Sản lượng đồng: 675.000 tấn. Đồng là nguồn thu nhập quan trọng của Zambia. Trữ lượng đồng của nước này khoảng 20 triệu tấn. Phần lớn đồng được khai thác ở tỉnh có Vành đai Đồng Copperbelt. Công ty mỏ lớn nhất ở Zambia là Công ty khai thác đồng Konkola Copper Mines , một công ty con của Vedanta Resources .
8. Congo
Sản lượng đồng: 580.000 tấn. Giống như Zambia, Congo cũng có trữ lượng 20 triệu tấn. Khai thác đồng của nước này chủ yếu ở tỉnh Katanga nằm trong Vành đai Đồng Trung Phi, vành đai này cũng chạy qua Zambia.
9. Canada
Sản lượng đồng: 530.000 tấn. Mỏ đồng Highland Valley nằm ở British Colombia là một trong những mỏ đồng lớn nhất thế giới. Teck Resources Limited khai thác mỏ này . Trong năm 2012, sản lượng đồng của mỏ đạt 116.300 tấn . Tổng trữ lượng đồng của Canada là 10 triệu tấn, sản xuất đồng của nước này giảm từ 566.000 tấn trong năm 2011xuống còn 530.000 tấn trong năm 2012.
10. Mexico
Sản lượng đồng: 500.000 tấn. Mặc dù sản lượng đồng của Mexico đứng thứ 10 trên thế giới trong năm 2012, Trữ lượng đồng của Mexico là 38 triệu tấn, lớn hơn cả Trung Quốc và Canada. Grupo México là một trong những công ty sản xuất đồng lớn trên thế giới. Trong quí I/2013, công ty đã sản xuất được 194.926 tấn đồng .

Nguồn : (vinamin)

Giá đồng tăng do sản xuất Mỹ tăng, Trung Quốc có khả năng kích thích kinh tế

Giá đồng tăng phiên đầu tiên trong 3 ngày, số lượng đặt hàng vận chuyển đồng ra khỏi kho LME tăng sau 12 phiên giảm liên tiếp.

Trên sàn Comex, giá đồng giao tháng 9 tăng 1,3%, chốt phiên tại 3,1865 USD/pound, trong khi trước đó giảm 2 phiên liên tiếp mất 1%. Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn LME tăng 1,2% lên 6.998 USD/tấn tương đương 3,17 USD/pound.

Giá đồng tăng nhờ sản xuất công nghiệp Mỹ tăng trong tháng 6. Hôm qua, Mỹ thông báo sản lượng công nghiệp tháng 6 tăng 0,3%, tăng mạnh nhất 4 tháng. Sản xuất chiếm khoảng 12% kinh tế Mỹ. Mức tăng sản lượng này vượt dự báo 0,2% của các chuyên gia kinh tế theo khảo sát của Blomberg.

Mặc dù GDP Trung Quốc quý II thông báo từ phiên trước tăng chậm hơn lần thứ 9 trong 10 quý qua nhưng kinh tế nước này vẫn đang có dấu hiệu phục hồi. Chứng khoán Trung Quốc tăng lần thứ 5 trong 6 phiên nhờ các công ty sản xuất năng lượng mặt trời và công nghệ tăng điểm mạnh nhờ các biện pháp hỗ trợ của chính phủ nước này.

Chuyên gia Bart Melek tại Toronto cho rằng: “Giá đồng tăng trước số liệu sản xuất công nghiệp. Kinh tế Trung Quốc chậm lại nhưng nhu cầu vẫn còn. Tôi không nghĩ chính phủ Trung Quốc tiếp tục cho phép kinh tế nước này suy yếu”.

Lượng hàng vận chuyển đồng ra khỏi kho do sàn LME quản lý tăng 0,9% lên 336.475 tấn, kết thúc 12 phiên giảm liên tiếp, mạch giảm dài nhất 13 tháng. Đây cũng là nguyên nhân hỗ trợ giá đồng tăng phiên hôm qua.

Nguồn : (gafin.vn)

Những hàng hóa có tốc độ sinh lời…nhanh hơn vàng!

Với xu hướng tăng giá khá bền vững, vàng được chọn là nơi “trú ẩn an toàn” trong khủng hoảng. Nhưng sự thật, trong 2 thập kỷ qua, quặng sắt mới là hàng hóa sinh lợi nhất, gấp 3 lần vàng, tiếp đến là bạc, dầu thô, xăng, chì.

Giữa bối cảnh khủng hoảng kinh tế, một bộ phận người có tiền dư thừa trong xã hội thường phải lúng túng trước những sự lựa chọn về các kênh bảo toàn vốn.

Từ cổ chí kim, không chỉ là thói quen của người phương Đông mà phần lớn những người nắm giữ tài sản trên thế giới vẫn biết đến vàng như một kênh đầu tư phổ biến nhất.

Thế nhưng, có một thực tế, vàng lại không phải là hàng hóa sinh lời nhất!

5 loại hàng hóa có tốc độ sinh lời nhanh hơn vàng

Theo thống kê của Dân trí, có ít nhất 5 loại hàng hóa có tốc độ sinh lời nhanh hơn vàng trong 2 thập kỷ qua.

Dẫn đầu là quặng sắt.

Tốc độ sinh lời của quặng sắt sẽ khiến nhiều người ngỡ ngàng, bởi từ năm 1993 tới nay, giá mặt hàng này đã tăng 1.129,25% (tăng 2.358,5% theo VND, tức gần 25 lần).

Đáng chú ý là trong hơn 10 năm liên tục, đến đầu năm 2004, giá sắt liên tục duy trì mức thấp và gần như không hề có biến động. Sau đó, tăng khá mạnh đến năm 2009, bùng nổ chóng mặt đến 2011. Đây cũng là giai đoạn tăng giá mạnh nhất của sắt, biên độ tăng trong 2 năm này lên tới 213,11%.

Từ tháng 2/2011 đến cuối quý III năm 2012, giá sắt thoái trào, mất gần 47% song đang trong xu hướng phục hồi trở lại, nhanh chóng lấy lại gần hết mức đánh mất của gần 2 năm trước đó với biên độ đạt 55,46%. Nhìn chung, mặt hàng này vẫn trong đà tăng giá.

Tiếp đến là bạc – cũng trong nhóm kim loại.

Tính theo USD, mức tăng của bạc lên tới 732,29%. Cùng với sự trượt giá của tiền đồng, biên độ tăng của bạc sau 20 năm đạt 1.564,59%.

Tương tự như sắt, bạc có giá ổn định đến đầu năm 2004, tăng giá mạnh đến tháng 3/2008, mức tăng giai đoạn này là 426,89%, rất ấn tượng! Thế nhưng đó chưa phải là giai đoạn hoàng kim của bạc.

Từ đầu 2008 đến quý IV/2008, giá bạc mất 48,6% khi nước Mỹ lún sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính do vỡ bong bóng nhà đất.

Giá mặt hàng này chỉ chững lại một thời gian ngắn rồi tăng vọt ngay sau đó, một mạch thẳng đứng đến tháng 4/2011, giữa lúc khủng hoảng Mỹ lan rộng ra quy mô toàn cầu – biên độ tăng giá bạc giai đoạn này lên tới 333,73%.

Có một điều mà nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc, đó là giá bạc đang nằm trong xu hướng giảm. So với mức đỉnh, giá bạc ở thời điểm tháng 2/2013 đã mất 29,2%.

Một loại hàng hóa khác, nghiễm nhiên phải trong nhóm sinh lời nhất là dầu thô – do tính hữu dụng của mặt hàng này cũng như nguồn lực có hạn của nó. Và bởi vậy, dầu thô gắn với quyền lực.

Giá dầu thô 20 năm qua tăng 490,57%, gấp gần 6 lần theo USD và tăng 1.081,13% hay gần 12 lần theo VND. Giá dầu đạt đỉnh vào tháng 7/2008 tại mức 132,55 USD/thùng, tăng 627,1% sau 15 năm. Từ tháng 7-12/2008, chỉ trong 5 tháng, giá dầu sụt giảm nghiêm trọng, mất 69%.

Tuy nhiên, từ tháng 2/2009 đến nay, giá dầu vẫn tăng đều, mức tăng đạt 159,23%.

Nếu đã ưa thích dầu thì nhà đầu tư cũng không có lý do để từ chối một mặt hàng tương tự là xăng. Biên độ tăng của giá xăng sau 20 năm khá hấp dẫn 483,75% theo giá USD (1.073,1% theo VND).

Mức đỉnh được thiết lập vào tháng 6/2008 tại mức giá 3,29 USD/thùng, tăng 532,7% so tháng 2/1993 rồi giảm sâu đến tháng 12/2008, mất 70,82% so mức đỉnh.

Thời gian giá xăng phục hồi từ 2011 đến nay, đã 3 lần suýt phá mốc kỷ lục của năm 2008: Một lần vào tháng 4/2011 (giá 3,18 USD/thùng), một lần vào tháng 4/2012, giá lúc đó là 3,21 USD/thùng và lần thứ 3 là tháng 9/2012 với mức giá bình quân 3.27 USD/thùng.

Hiện tại, giá xăng vẫn đang trong xu hướng tăng, lên 3,05 USD/thùng, tăng 11,72% so tháng 11 năm ngoái.

Mặt hàng thứ 5 có tốc độ tăng giá hơn vàng sau 2 thập kỷ, theo thống kê sơ bộ của Dân trí đến thời điểm hiện tại là Chì. Biên độ tăng của kim loại này tính ở thời điểm tháng 2/2013 so tháng 2/1993 là 470,07% (tương ứng 1.040,14% theo VND).

Thế nhưng mức giá 2,37 nghìn USD/tấn hiện nay của chì đã giảm 36,3% so thời điểm hoàng kim là tháng 10/2007. Ở thời điểm đó, giá chì đã tăng 796,4% so với tháng 2/2003.

Xu hướng hiện tại của chì là tăng giá, mức tăng so với tháng 6/2012 là 28,1%.

Đơn vị: % (Nguồn: WB, Indexmundi/Dân trí).

 

Vàng

Theo số liệu mà Dân trí có được thì trong vòng 20 năm qua, tính theo USD, giá vàng đã tăng gần 5 lần và mức tăng đạt gần 10 lần theo tỷ giá quy đổi ra VND ứng với từng thời điểm so sánh.

Cụ thể, nếu tại thời điểm tháng 2/1993, giá vàng bình quân đạt mức 329,31 USD/oz (tương đương với hơn 3,4 triệu đồng lúc bấy giờ) thì đến tháng 2 năm nay, giá vàng bình quân đã ở mức 1.627,57 USD/oz (tương ứng gần 33,9 triệu đồng theo tỷ giá hiện tại).

Rõ ràng, mức sinh lời này là vô cùng hấp dẫn cho những nhà đầu tư dài hạn, tuy rằng không phải thời điểm nào người ta cũng có thể hoàn toàn an tâm đứng trên khối tài sản của mình mà không phải thấy “bay hơi” đi ít nhiều.

Chẳng hạn như, trong vòng gần 4 năm liền từ 1993-1996, giá vàng khá ổn định, không tăng, không giảm đột biến, nhưng bắt đầu đến giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á (1996-1997), giá vàng đã lao dốc thảm hại và chạm đáy vào giữa năm 1999 trước khi “nằm sàn” lần nữa vào 2001.

Một số người nản chí và rời bỏ cuộc chơi khi bắt đầu bước sang giai đoạn từ 2002 sẽ phải ngậm ngùi nuối tiếc bởi mặt hàng này bất ngờ lên giá liên tục trong vòng 6 năm với mức tăng đạt 271,8%. Gián đoạn năm 2008-2009, giá vàng thời kỳ này có giảm 21,43% song ngay sau đó bật tăng mạnh cho đến 2011, biên độ tăng hơn 132,6% (gấp 2,33 lần).

Từ đó tới nay, giá vàng lình xình, xu hướng thoái trào lại trở lại, niềm tin trên thị trường này sụt giảm và có vẻ như những ở thời điểm kinh tế suy thoái, việc cầm giữ vàng lại trở nên bất lợi.

Như vậy, trong khi giá vàng và bạc đang thoái trào thì xu hướng giá hiện tại của sắt, dầu thô, xăng và chì vẫn đang tăng.

Những hàng hóa khác

Ngoài ra, trong 20 năm qua, nếu mạnh tay đầu tư vào những loại hàng hóa khác như ure, bột cá, len thô, cao su, đồng, thiếc và uranium, nhà đầu tư cũng sẽ không phải thất vọng.

Mức sinh lời của ure lên tới 387%, của bột cá là 343,6%, của uranium là gần 330%, của thiếc là 318%, của len thô gần 300%, cao su 256% và đồng 264,4%.

Nguồn : (Dantri)

Giá kim loại đồng loạt tăng

NDHMoney) Các kim loại công nghiệp đồng loạt tăng giá hôm 27/6 sau khi số liệu tăng trưởng kinh tế của Mỹ thấp hơn dự đoán làm dấy lên kỳ vọng rằng ngân hàng trung ương nước này có thể sẽ hoãn việc giảm kích thích tiền tệ.

Giá đồng chủ chốt tại Sàn Giao dịch Kim loại Luân Đôn có lúc tăng 0,8% lên 6.788 USD/tấn trên thị trường Tokyo. Đồng đã giảm 7,2% kể từ đầu tháng này, mức giảm nhiều nhất kể từ tháng 5/2012, và giảm 10% kể từ đầu quý 2.

Hợp đồng giao tháng 7 trên sàn Comex tăng 1% lên 3,07 USD/pound.

Tâm lý nhà đầu tư cải thiện do lo ngại về khả năng giảm kích thích của Mỹ và thắt chặt tín dụng tại Trung Quốc dịu bớt. Đây là 2 nước tiêu thụ các kim loại công nghiệp nhiều nhất thế giới.

Trước đó, Bộ Thương mại Mỹ hôm 26/6 công bố GDP của nước này tăng trưởng 1,8% trong quý 1, giảm so với mức ước tính trước đó là 2,4%. Còn ngân hàng trung ương Trung Quốc nói họ đã cấp thanh khoản cho một số tổ chức tài chính để ổn định thị trường tiền tệ.

Với những động thái này, thị trường có thể sẽ tiếp tục bật lại đến hết tuần tới, theo một chuyên viên môi giới tại Hàn Quốc.

Trên thị trường Thượng Hải, giá đồng giao tháng 10 tại Sàn giao dịch Giao sau Thượng Hải tăng 1,6% lên 48.840 Nhân dân tệ (7.943 USD)/tấn.

Giá nhôm, kẽm, chì, thiếc và nicken trên thị trường Thượng Hải cũng tăng.

Nguồn : (baomoi)

Khai thác khoáng sản phải nhắm hiệu quả cao nhất

Trong khai thác khoáng sản phải nhắm đến hiệu quả kinh tế cao nhất, theo đó phải hướng vào chế biến sâu, dứt khoát không xuất khẩu thô. Đi liền với đó là phải tính đến hiệu quả xã hội, tính đến tác động môi trường về trước mắt và lâu dài…

Một nội dung của phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 từ ngày 3 – 5/11, là Chính phủ nghe Báo cáo, thảo luận về việc quản lý hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản, về dự thảo Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Báo cáo của các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Công Thương và Xây dựng cho biết, việc cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản về cơ bản đã được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, tuân thủ quy hoạch khoáng sản.

Nhiều mỏ khai khoáng sản xuất quy mô công nghiệp đã kịp thời đáp ứng nguyên liệu cho phát triển một số ngành công nghiệp; việc cấp phép khai thác khoáng sản của các tỉnh đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về khoáng sản làm vật liệu xây dựng cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, khu vực cũng như của đất nước…

Bên cạnh những mặt đạt được, tình trạng thăm dò, khai thác khoáng sản chưa tuân thủ các quy định của pháp luật về khoáng sản còn không ít, dẫn đến mất an toàn lao động, an ninh trật tự và ảnh hưởng đến môi trường; công tác thanh tra, kiểm tra sau khi cấp giấy phép, xử lý vi phạm pháp luật chưa được tiến hành thường xuyên, kịp thời và kiên quyết …

Các Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Vũ Văn Ninh đề nghị, quy hoạch khai thác khoáng sản cần cụ thể hơn; làm rõ hơn trách nhiệm quản lý tài nguyên khoáng sản của các cơ quan nhà nước cũng như việc phân cấp trong quản lý, cấp phép khai thác khoáng sản.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho rằng, một dự án khai thác khoáng sản phải tính đến hiệu quả tổng thể về kinh tế-xã hội. Trước khi cấp phép một dự án khai thác khoáng sản phải tính toán đến hết các tác động của dự án đối với kinh tế-xã hội, trong đó có tác động đến môi trường, hệ thống cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng về giao thông, vấn đề tệ nạn xã hội phát sinh …Hạn chế tối đa việc xuất khẩu khoáng sản chưa được chế biến sâu; nên cấm việc tận thu khoáng sản bởi trên thực tế, rất nhiều dự án tận thu khoáng sản đã phá vỡ hệ thống cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, đời sống cư dân…

Nhấn mạnh khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định rõ quan điểm nhất quán trong khai thác khoáng sản là phải nhắm đến hiệu quả kinh tế cao nhất, theo đó phải hướng vào chế biến sâu, dứt khoát là không xuất khẩu thô. Đi liền với đó là phải tính đến hiệu quả xã hội, tính đến tác động môi trường về trước mắt và lâu dài… cân nhắc, tính toán kỹ các lợi ích đối với mỗi dự án khai thác khoáng sản.

Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành chức năng tiến hành kiểm tra, rà soát lại các dự án khai thác khoáng sản đã cấp phép, hoặc đang khai thác, dự án nào không đảm bảo các yêu cầu đặt ra, gây bức xúc cho người dân, không đúng quy hoạch… phải dừng lại ngay.

Đối với các dự án cấp phép mới phải thực hiện theo quy trình xét duyệt hết sức chặt chẽ, phải nằm trong quy hoạch, phải có dự án khả thi… Xem xét điều chỉnh thuế xuất khẩu tài nguyên cho phù hợp, kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu khoáng sản.

Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành chức năng khẩn trương ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý nhằm thực hiện tốt Luật Khoáng sản.

Tìm thấy đất hiếm ở Bến Đền – Lào Cai

Ngày 16/11, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc đã làm việc với đại diện Tổng Công ty Dầu, Kim khí và Kim loại quốc gia Nhật Bản (JOGMEC) về Kết quả điều tra đánh giá tiềm năng đất hiếm khu vực Bến Đền, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Theo báo cáo của đại diện JOGMEC, mỏ đất hiếm (REE) ở Bến Đền thuộc loại mỏ tàn dư, nằm trong vỏ phong hóa của đá granit biến chất. Công tác điều tra đã thực hiện từ năm 2007, với việc đào 29 hào, khảo sát 17 vết lộ và khoan 108 lỗ khoan với tổng chiều dài 1750,5m, tiến hành trên 4 thân đá granit biến chất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, “tài nguyên cấp suy đoán – 334a” là 22 triệu tấn với hàm lượng 0,111% TR2O3, , đạt trữ lượng khoảng 24.497 tấn. “Tài nguyên cấp dự tính – 333” là 23 triệu tấn với hàm lượng 0,094% TR2O3, , đạt trữ lượng khoảng 21.588 tấn. So với hàm các mỏ khác tại Việt Nam như Đông Pao, Yên Phú, Nậm Xe thì hàm lượng và trữ lượng đất hiếm ở Bến Đền là thấp. Hơn nữa, thành phần đất hiếm loại nặng chiếm tỷ lệ không cao.
Đại diện JOGMEC cho rằng, trường hợp Bến Đền ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với mỏ Longnan – Trung Quốc, đặc biệt là đất dễ hòa tan trong môi trường axit loãng, do vậy có thể khai thác tại chỗ.
Tuy nhiên, các chuyên gia địa chất và khoáng sản tại các đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT nhấn mạnh, việc phân tích, so sánh hai mỏ còn nhiều điểm chưa thích đáng. Hòa tan đất hiếm tại chỗ có thể gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Đó là chưa kể đến việc chưa định hình rõ lợi ích kinh tế khi hàm lượng, trữ lượng đất hiếm ở Bến Đền thấp.
Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đề nghị phía Công ty Nhật Bản cần bổ sung tài liệu về dạng tồn tại đất hiếm có trong vỏ phong hóa tại Bến Đền, xác định lại tỷ lệ và khả năng hòa tan của đất hiếm. Mặt khác, JOGMEC cần sơ bộ định hướng khôi phục môi trường ở Bến Đền nếu được phép thăm dò.

VIMICO tổ chức lớp Huấn luyện nghiệp vụ Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ năm 2017

Ngày 03/11/2017 tại trụ sở Tổng công ty Khoáng sản TKV, số 193 đường Nguyễn Huy Tưởng, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Cơ quan Tổng công ty Khoáng sản TKV phối hợp với Phòng Cảnh sát PC&CC số 8 – Cảnh sát PCCC thành phố Hà Nội tổ chức lớp Huấn luyện nghiệp vụ Phòng cháy chữa cháy (PCCC) năm 2017.

Đến dự và khai mạc lớp huấn luyện có đ/c Đào Minh Sơn – Phó Tổng giám đốc – Thủ trưởng cơ quan Tổng công ty; Đ/c Đặng Đức Hưng – Phó tổng giám đốc Tổng công ty và trên 50 CBCNV của Đội PCCC cơ quan Tổng công ty và Chi nhánh Đá quý Việt Nhật – VIMICO đã về tham dự đầy đủ.

Lớp huấn luyện đã được nghe đ/c Nguyễn Minh Tân – Thạc sỹ, Giảng viên chính, Trường Đại học PCCC (Bộ Công an) cùng Cán bộ Phòng Cảnh sát PC&CC số 8 (Cảnh sát PCCC Hà Nội) phổ biến kiến thức cơ bản về phòng cháy, chữa cháy; Các quy định của pháp luật về PCCC để chủ động phòng ngừa, sử dụng thành thạo các phương tiện PCCC tại chỗ và quy trình tổ chức cứu chữa một vụ cháy khi có sự cố xảy ra và các phương án chữa cháy tại cơ sở. Nâng cao khả năng tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật của lực lượng PCCC cơ quan Tổng công ty. Sau phần lý thuyết các học viên của Đội PC&CC của cơ quan Tổng công ty được hướng dẫn thực hành sử dụng phương tiện chữa cháy tại chỗ, thực tập Phương án chữa cháy theo các tình huống giả định, thực hành cách thoát nạn khi xảy ra tình huống cháy tại cơ sở.

Lớp Huấn luyện nghiệp vụ PCCC đã trang bị được nhiều kiến thức bổ ích về các biện pháp phòng cháy chữa cháy và cách thoát nạn khi xảy ra cháy tại đơn vị cơ sở. Chiều cùng ngày lớp Huấn luyện PCCC đã kết thúc thành công tốt đẹp.

Sau đây là một số hình ảnh về lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC và thực tập phương án chữa cháy năm 2017./.

Minh Hùng

Mục tiêu xuyên suốt

“KHÔNG TAI NẠN, KHÔNG SỰ CỐ, GIẢM BỆNH NGHỀ NGHIỆP” chính là mục tiêu bao trùm và xuyên suốt của công tác ATVSLĐ mà CBCNV – LĐ Tổng công ty Khoáng sản – TKV (VIMICO) luôn ghi nhớ để nỗ lực thực hiện. Bởi, cùng với sản xuất kinh doanh thì đảm bảo an toàn luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, nhất là với đặc thù của VIMICO, các đơn vị nằm rải rác, phân tán ở nhiều tỉnh thành trên cả nước và có công nghệ sản xuất đa dạng, lĩnh vực sản xuất đa ngành, tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

Việc đảm bảo ATVSLĐ đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe, chặt chẽ, có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng ấy, công tác này được VIMICO đặc biệt chú trọng và triển khai một cách bài bản. Ngay từ đầu năm 2017, Tổng công ty đã sớm ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện công tác đảm bảo an toàn trong sản xuất, quán triệt đến các đơn vị thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, chỉ đạo của cấp trên liên quan đến ATVSLĐ. Trong quá trình tổ chức thực hiện đến nay đã kết thúc quý III, có thể thấy, Tổng công ty luôn bám sát và có những chỉ đạo kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế. Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên, liên tục, tăng cường kiểm tra đột xuất. Qua đó, nhìn chung các đơn vị trong Tổng công ty đã có bước chuyển biến cơ bản về nhận thức và thực hiện nghiêm túc các biện pháp đảm bảo ATVSLĐ và các quy định của Nhà nước về công tác này.

Theo đánh giá của lãnh đạo VIMICO, đáng ghi nhận khi triển khai công tác ATVSLĐ là có sự phối hợp hiệu quả giữa chuyên môn và công đoàn Tổng công ty. Đồng chí Đỗ Quang Tài – Trưởng ban CSPL – Công đoàn Tổng công ty – cho biết cụ thể hơn: “Các công đoàn cơ sở trực thuộc đã luôn đồng hành với chuyên môn tổ chức các phong trào thi đua sôi nổi, phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch, trong đó đảm bảo AT-VSLĐ-PCCN là mục tiêu hàng đầu của phong trào thi đua. Đồng thời, cùng chuyên môn tổ chức nhiều cuộc kiểm tra về việc chấp hành kỷ luật lao động của người lao động, kiểm tra công tác huấn luyện của các đơn vị, kiểm tra việc chấp hành quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn trong lao động. Kiểm tra và hoàn thiện hàng chục biển báo, cảnh báo tại nhà máy và khai trường sản xuất. Phối hợp tổ chức Hội thi ATVSV giỏi VIMICO lần thứ VI thành công tốt đẹp. Trong tháng cao điểm thi đua đảm bảo AT-VSLĐ-PCCN do Công đoàn đảm nhận vừa qua, toàn Tổng công ty đã không để xảy ra tai nạn lao động nào tại các khai trường và nhà máy sản xuất” .

Qua tìm hiểu của phóng viên Tạp chí TKV, mục tiêu tổng quát trong công tác ATVSLĐ của VIMICO trước năm 2016 là “không tai nạn, không sự cố” nhưng từ năm 2017 đã có bổ sung thành “không tai nạn, không sự cố, giảm bệnh nghề nghiệp”. Ý nghĩa lớn nhất của việc bổ sung thêm mục tiêu giảm bệnh nghề nghiệp chính là cụ thể hoá chủ trương của lãnh đạo Tổng công ty – đó là tất cả hướng về người lao động, làm sao để ngày càng quan tâm chu đáo hơn, cải thiện điều kiện làm việc tốt hơn, từ đó phòng ngừa, giảm bệnh nghề nghiệp giúp người lao động yên tâm gắn bó lâu dài với VIMICO.

Để thực hiện được các mục tiêu xuyên suốt nêu trên, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2017, song song với việc thúc đẩy huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức về ATVSLĐ, Tổng công ty đang tập trung trọng tâm vào việc nhận diện rõ nguy cơ và đề ra các giải pháp thích hợp, kịp thời đối với từng công trình, từng vị trí trọng điểm có nguy cơ xảy ra tai nạn, sự cố trong sản xuất, sự cố thiên tai, cháy nổ. Yêu cầu các đơn vị phải chuẩn bị đầy đủ theo nguyên tắc 4 tại chỗ, phương án phải được phổ biến đến tất cả các tập thể và cá nhân có liên quan, thực hành diễn tập các tình huống điển hình. Mỗi đơn vị cần phải chủ động thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả trong việc tự kiểm tra công tác đảm bảo ATVSLĐ, thực hiện nghiêm túc kiến nghị của các đoàn kiểm tra để hoạt động kiểm tra không mang tính hình thức, chiếu lệ. Chuẩn bị các điều kiện và tổ chức kiểm tra chéo, chấm điểm công tác ATVSLĐ giữa các đơn vị thành viên TKV theo chỉ đạo của Tập đoàn…

Nguồn : Thùy Linh

“6 chữ vàng” tạo đà cán đích

“Đổi mới – Quyết liệt – Sâu sát” được coi là “6 chữ vàng” cũng là chủ trương điều hành xuyên suốt mà Tổng công ty Khoáng sản (VIMICO) tập trung trọng tâm để phấn đấu trong quý IV – quý “nước rút”. Có thể nói, những kết quả đáng ghi nhận của Tổng công ty trong 9 tháng đầu năm đã tạo thêm bước đà quan trọng để VIMICO cán đích và đặc biệt ý nghĩa để chào mừng 22 năm ngày thành lập Tổng công ty (27/10/1995 – 27/10/2017).

Điểm nổi bật nhất của VIMICO trong 9 tháng đầu năm 2017 chính là mặc dù gặp phải không ít khó khăn về nhiều mặt nhưng với sự nỗ lực, đồng thuận cao, nhất là nhiều nhóm giải pháp được triển khai đồng bộ, quyết liệt trong toàn Tổng công ty, nên đến thời điểm này, VIMICO đã hoàn thành tốt kế hoạch SXKD với doanh thu đạt trên 80% KHN, lợi nhuận trên 191 tỷ đồng, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Các mảng hoạt động của Tổng công ty “đều tay” và ngày càng bài bản, phát huy hiệu quả tốt hơn. Trong sản xuất và tiêu thụ khoáng sản, các dây chuyền công nghệ khai thác, tuyển khoáng, luyện kim quặng đồng, kẽm, tinh quặng sắt… hoạt động tương đối ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu công nghệ, hoàn thành kế hoạch đề ra. Đặc biệt, Tổng công ty đã có nhiều biện pháp linh hoạt, theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới để lựa chọn thời điểm, phương án tiêu thụ đảm bảo giá bán cạnh tranh và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp. Thêm đó, VIMICO đã quyết liệt thực hiện đề án tái cấu trúc của Tổng công ty; các giải pháp kỹ thuật công nghệ được các đơn vị áp dụng đã góp phần thiết thực nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả…

“Công ty mẹ – Tổng công ty trong ba quý vừa qua vẫn tiếp tục khẳng định được vai trò đầu tàu với những định hướng chiến lược, chỉ đạo xuyên suốt và những quyết sách kịp thời, đúng đắn đã hỗ trợ cho các đơn vị trong Tổng công ty về mọi mặt từ nguồn nhân lực, kỹ thuật công nghệ, tài chính…”, ông Trần Quốc Lộc – Chủ tịch HĐQT Tổng công ty – khẳng định.

Nhấn mạnh các nhóm giải pháp toàn Tổng công ty cần phải tập trung triển khai trong những tháng còn lại của năm 2017 cũng như chuẩn bị cho năm 2018, Tổng Giám đốc VIMICO Nguyễn Tiến Mạnh cho biết, tinh thần chung xuyên suốt cần phải “Đổi mới – Quyết liệt – Sâu sát” hơn nữa.

Đổi mới: Quan trọng hàng đầu là đổi mới hơn nữa trong tư duy, cách nghĩ và cách điều hành của người quản lý; tiếp tục đổi mới trong việc áp dụng khoa học công nghệ, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất, bám sát chương trình tin học hóa, tự động hóa theo chỉ đạo của Tập đoàn. Đổi mới trong công tác quản lý phát triển tài nguyên cho sự phát triển bền vững. Đổi mới trong công tác lao động tiền lương với những thay đổi căn bản để tiền lương, thu nhập và các chế độ đãi ngộ với người lao động ngày càng tốt hơn. Đổi mới với việc phân cấp mạnh mẽ hơn nữa để các đơn vị chủ động trong triển khai các công việc.

Quyết liệt: Yếu tố quan trọng số một là quyết liệt hơn nữa trong chỉ đạo điều hành từ Tổng công ty đến các đơn vị thành viên. Quyết liệt giải quyết kịp thời những vướng mắc. Quyết liệt trong quản trị chi phí nhất là định mức và kiểm soát các chi phí đầu vào, sản phẩm đầu ra. Quyết liệt trong công tác an toàn môi trường.

Sâu sát: Trọng tâm là sâu sát để thông tin kịp thời đến Tập đoàn, các Bộ ban ngành, địa phương – nơi đơn vị đứng chân tình hình thực tế cũng như những khó khăn của Tổng công ty trong từng thời điểm. Sâu sát hơn nữa trong việc điều hành hàng ngày của Tổng công ty cũng như các đơn vị, nhất là sâu sát trong quá trình thực hiện kế hoạch để kịp thời tháo gỡ, điều chỉnh cho phù hợp.

Thùy Linh

Tổng công ty Khoáng sản – TKV 22 năm vững vàng tiến bước.

Tổng công ty Khoáng sản – TKV (VIMICO) tiền thân là Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam thành lập ngày 27/10/1995 đến nay qua 22 năm hoạt động, Tổng công ty đã, đang và sẽ luôn khẳng định vị trí hàng đầu của ngành khai thác, chế biến khoáng sản tại Việt Nam.

Sự hình thành của Tổng công ty khoáng sản Việt Nam nay là Tổng công ty khoáng sản – TKV (Vimico).

Sau 10 năm đổi mới (từ năm 1986) Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ thành lập các Tổng công ty để thúc đẩy quá trình tập trung hóa sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa, chuẩn bị cho hội nhập quốc tế. Ngày 27/10/1995 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (nay là Bộ Công Thương) đã có quyết định số 1118/QĐ – TCCB ĐT thành lập Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam trên cơ sở hợp nhất 2 Tổng công ty Khoáng sản quý hiếm và Tổng công ty Phát triển khoáng sản.

Tổng nguồn vốn kinh doanh khi mới thành lập chỉ là 120 tỷ đồng trong đó vốn ngân sách 82 tỷ đồng. Đến tháng 3/2003 Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam tiếp nhận Tổng công ty Đá quý và Vàng Việt Nam với nguồn vốn 51 tỷ đồng sáp nhập vào. Ngày 26/12/2005, theo Quyết định số 345/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, theo đó Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam là công ty con của Tập đoàn và đổi tên là Tổng công ty Khoáng sản – TKV. Tháng 3/2008 Thủ Tướng Chính phủ công nhận Tổng công ty là Tổng công ty Nhà nước hạng Đặc biệt. Ngày 18/9/2015 Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất Tổng công ty Khoáng sản -TKV đã họp để thông qua Điều lệ hoạt động. Ngày 6/10/2015 Tổng công ty chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần và có tên mới là Tổng công ty khoáng sản TKV – CTCP (Vimico). Tên rút gọn là Tổng công ty Khoáng sản – TKV.

Vimico có các ngành nghề SXKD chính như sau: Điều tra khảo sát, thăm dò địa chất, khai thác, chế biến (tuyển, luyện) và kinh doanh tiêu thụ các loại khoáng sản như: Kim loại mầu ( Thiếc, chì, kẽm , đồng, nhôm..); kim loại đen (sắt, mangan, crom, titan), kim loại quý hiếm (vàng ,bạc, đá quý, đá bán quý, đất hiếm ), phi kim (cao lanh, fenspat), vật liệu xây dựng; chế tác sản xuất hàng trang sức, mỹ nghệ…

Tổng công ty phát triển cùng năm tháng.

Giai đoạn 1995 – 2005.

Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam khi thành lập, vốn nhà nước giao từ 2 Tổng công ty gộp lại chỉ có gần 120 tỷ đồng chủ yếu do tiếp nhận và sáp nhập, chưa được nhà nước bổ sung thêm vốn. Quán triệt nghị quyết 13-NQ-TƯ ngày 01/03/1996 của Bộ chính trị về phát triển chế biến khoáng sản, Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển tập trung đầu tư các dự án vừa và nhỏ để nâng cao vai trò chủ đạo của Tổng công ty trong ngành khai thác chế biến khoáng sản. Nhiều dự án đã được đưa vào sản xuất có hiệu quả từ năm 1997- 2000 như: Dự án lò quay xử lý quặng ôxit nghèo, sản xuất oxit kẽm 60% quy mô 4.000 tấn sản phẩm/năm; xưởng tuyển nổi làm giầu quặng sunfua kẽm chì Chợ Điền 6.000 tấn tinh quặng kẽm/ năm; cải tạo xưởng tuyển nổi kẽm chì Làng Hích 3000 tấn tinh quặng kẽm/ năm; các lò điện sản xuất feromangan; ferosilic 2.000 tấn / năm; trạm thủy điện Bản Pắt – Cao Bằng 630 KVA; Nhà máy gạch Mỹ Xuân – Vũng Tầu 45 triệu viên/năm; Nhà máy gạch Phú Yên 20 triệu viên/năm. Tiếp nhận lò cao sản xuất gang đúc 22 m3 của tỉnh Cao Bằng về quản lý; rồi tiếp tục mở rộng thêm lò cao số 2 đưa công suất sản xuất gang lên 26.000 tấn/năm. Tổng mức đầu tư của các dự án gần 150 tỷ đồng. Các dự án đã đầu tư đưa vào sản xuất có hiệu quả có điều kiện tăng thêm việc làm cho gần 2.000 lao động, đưa mức tăng trưởng và giá trị tổng sản lượng bình quân 10 năm của Tổng công ty đạt trung bình trên 13% năm, khắc phục dần các khó khăn và thua lỗ của các đơn vị, lợi nhuận sản xuất kinh doanh ngày một tăng.

Kết quả 10 năm (1995 – 2005) Giá trị tổng sản lượng đã tăng 2,5 lần so với năm 1996, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13% năm, tổng doanh thu năm 2005 gấp gần 3 lần so với năm 1996, nộp ngân sách nhà nước tăng 3,58 lần, tổng giá trị tài sản của Tổng công ty tăng gần 10 lần so với khi mới được thành lập, thu nhập bình quân của Tổng công ty đã tăng hơn 2 lần so với năm 1996.

Giai đoạn 2006- đến nay.

Giai đoạn này Tổng công ty tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, đưa các công trình, dự án lớn vào sản xuất như nhà máy Tuyển, Nhà máy Luyện đồng (Tổ hợp đồng Sin Quyền, Lào Cai) Nhà máy Kẽm điện phân Thái Nguyên ( Cty CP KLM Thái Nguyên) triển khai đầu tư các dự án lớn khác như Gang thép Cao Bằng, Vàng Apây Quảng trị, Vàng Minh Lương Lào Cai…Tổng giá trị đầu tư 5 năm 2005-2010 của Tổng công ty là 7.223 tỷ tăng gấp 5,9 lần so với kế hoạch 5 năm trước đó. Giá trị thực hiện đầu tư giai đoạn 2011-2015 là 7.269 tỷ đồng.

Năm 2017 sau gần 2 năm chính thức đi vào hoạt động, Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng (Công ty Cổ phần gang thép Cao Bằng) đã từng bước đồng bộ dây chuyền sản xuất, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao (sản xuất được thép hợp kim CT5 đầu tiên ở Việt nam cung cấp cho Tập đoàn Than làm vì chống lò), đến nay, thiết bị công nghệ của dây chuyền sản xuất tại khu liên hợp dần hoạt động ổn định; trình độ tay nghề của công nhân ngày càng được nâng cao. Hết quý III/2017, công ty đã sản xuất được trên 142 000 tấn phôi thép với hơn 98% chất lượng đạt loại I, Năm 2017, Công ty phấn đấu sản xuất 190.000 tấn phôi thép các loại.

Ngoài Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng, VIMICO khẩn trương thực hiện 2 dự án lớn. Thứ nhất, Dự án khai thác, mở rộng và nâng công suất khu Mỏ – tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai từ 1,1 triệu tấn quặng/năm lên 2,5 triệu tấn quặng/năm bằng phương pháp khai thác lộ thiên. Bên cạnh đó, xây dựng thêm một nhà máy tuyển khoáng có công suất 44.200 tấn tinh quặng hàm lượng 23% Cu/năm và các sản phẩm phụ đi kèm. Tổng mức đầu tư 2.564,738 tỷ đồng, dự kiến cuối quý I/2018, dự án đi vào hoạt động. Thứ hai là Dự án mở rộng, nâng công suất Nhà máy luyện đồng Lào Cai. Theo đó, xây dựng mới một dây chuyền luyện đồng công suất 20.000 tấn đồng kim loại/năm, 84.556 tấn H2SO4/năm, 1.395 kg vàng thỏi/năm và 616 kg bạc thỏi/năm. Tổng mức đầu tư dự án là 3.927,534 tỷ đồng, thời gian đi vào hoạt động từ quý I/2019.

Giai đoạn 2006 – 2017 Tổng doanh thu của TCTy đạt: 38.600 tỷ đồng, tăng gấp 8 lần so với giai đoạn 1996 – 2005, trong đó Doanh thu Khoáng sản là 32.957 tỷ đồng (tăng 12,5 lần so với giai đoạn 1996 – 2005).

Tổng giá trị sản xuất đạt: 6.546 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với giai đoạn 1996 – 2005. Nộp ngân sách 5.400 tỷ đồng, tăng 26 lần so với giai đoạn 1996-2005.

Lợi nhuận xấp xỉ 2.400 tỷ đồng bằng 193 lần giai đoạn 1996-2005. Vốn điều lệ của toàn Tổng công ty tăng từ 1.350 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng, tổng tài sản là 6.748 tỷ đồng gấp 55 lần so với khi thành lập.

Thực hiện Đề án Tái cơ cấu Tổng công ty.

Khi thành lập Tổng công ty là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Nghị định 90 của Chính phủ, các công ty thành viên là công ty trực thuộc 100% vốn nhà nước. Từ năm 2003 đến nay TCTy tích cực đổi mới, cơ cấu lại các công ty con và công ty trực thuộc, sắp xếp lại một số phòng ban chức năng, cổ phần hóa công ty mẹ, thành lập các chi nhánh…

Tổng công ty đã thoái vốn thành công tại 7 công ty liên kết là: CTCP Khoáng sản và Cơ khí (MIMECO), CTCP XNK Khoáng sản (MIMEXCO), CTCP Phát triển khoáng sản (MIDECO), CTCP gạch ngói và VLXD Đồng Nai – Hà Tĩnh, CTCP Vật tư mỏ địa chất – Vimico, CTCP KLM Tuyên Quang – Vimico; CTCP Phát triển Khoáng sản 4; xử lý tài chính để thoái vốn tại Công ty Southern Mining Co.,Ltd; giải thể CTCP Đioxit Titan Việt Nam.

. Tiếp tục thoái vốn của Tổng công ty tại: CTCP Địa ốc Khoáng sản – TKV; CTCP Đầu tư Gang thép Lào Cai, CTCP Vàng Lào Cai theo hình thức bán cổ phần trọn một lần trong năm 2017. Đang tiến hành giải thể CTCP Vận tải và Thương mại Liên Việt

Hoàn thành việc đăng ký Công ty đại chúng và đăng ký lưu ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam; chính thức niêm yết cổ phiếu của Tổng công ty trên sàn Upcom ngày 28/7/2016.

Đến nay Tổng công ty có 3 đơn vị trực thuộc, 11 công ty con, 01 đơn vị phối hợp quản lý, 02 đơn vị liên kết và đầu tư tài chính dài hạn, sử dụng lao động gần 5.000 người.

Không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý

Từ khi trở thành đơn vị thành viên trong Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, công tác quản lý sản xuất kinh doanh của Tổng công ty ngày càng được hoàn thiện hơn, Được tiếp nhận một cơ chế quản lý thống nhất đồng bộ theo đặc thù của ngành Than – Khoáng sản của Tập đoàn, Tổng công ty đã nhanh chóng tiếp cận và triển khai các công cụ, cơ chế quản lý như: Củng cố chế độ hạch toán kê toán, thống kê, nâng cao hiệu lực điều hành, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả SXKD thông qua cơ chế hợp đồng phối hợp kinh doanh, khoán quản trị chi phí, trả lương giãn cách theo ngành nghề, quản lý giá bán sản phẩm chủ yếu thông qua cơ chế đấu giá, quản lý vật tư mua vào, giá trị tồn kho… một số dự án lớn đã được đưa vào sản xuất có hiệu quả ( nhà máy Kẽm điện phân Thái Nguyên, Tổ hợp đồng Sin Quyền Lào Cai, nhà máy gang thép Cao Bằng…) tranh thủ sự biến động giá kim loại theo hướng có lợi trên thị trường thế giới và nhờ sự hỗ trợ có hiệu quả của Tập đoàn đã tạo nên diện mạo mới cho Tổng công ty, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả SXKD của Tổng công ty.

Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật

Là một ngành có đặc thù địa bàn hoạt động chủ yếu là các tỉnh miền núi, điều kiện giao thông, đời sống vật chất, tinh thần của phần lớn các đơn vị còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nhu cầu ngày càng gia tăng về cán bộ và công nhân kỹ thuật cho phát triển các dự án và các doanh nghiệp mới thành lập và đang đặt ra những thách thức lớn cho ngành. Ngoài việc xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ tăng cường đảm nhận nhiệm vụ các dự án ở vùng sâu, vùng xa, thì công tác đào tạo công nhân, cán bộ kĩ thuật cũng là vấn đề “nóng” mà Tổng công ty rất tập trung giải quyết. Hiện nay lực lượng công nhân, cán bộ kỹ thuật tại các nhà máy Luyện đồng Lào Cai, Nhà máy Kẽm điện phân Thái Nguyên đã vững vàng, hoàn toàn làm chủ công nghệ kỹ thuật mới. Tổng công ty đang tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để kết hợp với địa phương đào tạo các ngành nghề cần tuyển dụng, gửi đào tạo ở các trường trong và ngoài ngành, liên kết với các Tập đoàn nước ngoài để đào tạo và đào tạo lại nhằm giải quyết nhu cầu sử dụng lao động từ nay đến 2019 khoảng trên 1.000 công nhân kỹ thuật cho các dự án mới vào sản xuất. Riêng năm 2017 trong kế hoạch đào tạo của Tổng công ty từ các lớp quản lý về SXKD đến nâng cao trình độ của công nhân kỹ thuật về trình độ chuyên môn, an toàn lao động- môi trường… đã dự kiến chi đến 21 tỷ đồng. Tổng công ty tự hào từ năm 2006 đến nay có các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Tập đoàn đã từng lãnh đạo và trưởng thành từ Tổng công ty Vimico.

Chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho CNVC – LĐ

Thực hiện chiến lược mở rộng khai thác khoáng sản tại các tỉnh có tiềm năng khoáng sản như: Lào Cai, Cao Bằng, Lai Châu, Thái Nguyên,… Tổng công ty đã xây dựng các tổ hợp công nghiệp với công nghệ chế biến sâu tại các địa bàn, trong đó chú trọng quy hoạch từ quy mô sản xuất, cụm nhà sinh hoạt văn hoá cho công nhân mỏ, nhà ở tập thể cho CNVC… tạo dựng môi trường “ an cư”, phục vụ cho phát triển bền vững, từng bước xây dựng niềm tự hào về văn hoá doanh nghiệp. Các năm qua Tổng công ty đã đầu tư các khu nhà ở công nhân tại Bảo Thắng, Bát Xát – Lào Cai, Duyệt Trung thị xã Cao Bằng, Tân lập Thành phố Thái Nguyên Tổng số trên 300 căn hộ khép kín hiện đại đủ cho trên 1000 CNCB vào ở. Các hoạt động văn hoá thể thao đã được củng cố và đẩy mạnh. Năm 2011, năm 2014, năm 2016 tại Hội diễn nghệ thuật quần chúng do Tập đoàn tổ chức, Tổng công ty đã đoạt Giải nhất các đội phong trào và giải nhì, giải ba các đội mạnh phong trào văn nghệ Tập đoàn. 7 năm liên tục đoạt giải nhì giải cầu lông bóng bàn khu vực 5 (khu vực ngoài tỉnh Quảng Ninh) của Tập đoàn; đội bóng chuyền nam luôn trụ vững ở tốp các đội mạnh của Tập đoàn từ 2008 đến nay, năm 2016 đoạt giải nhất, năm 2017 đoạt giải nhì các đội mạnh Tập đoàn… Tuy thành tích còn khiêm tốn song các hoạt động chăm lo đời sống tinh thần cho CNVC LĐ đã được Tập đoàn đánh giá cao về tốc độ hội nhập với Tập đoàn và hàng năm đều có tôn vinh thành tích, tặng nhiều cờ thi đua và Bằng khen cho Tổng công ty.

Hướng phát triển Tổng công ty năm 2017-2020 tầm nhìn 2030.

22 năm qua Vimico đã không ngừng phát triển. Với những chủ trương đúng đắn của Tập đoàn đã và đang chỉ đạo Tổng công ty, những thời cơ và vận hội mới đang được tiến hành.

Giá cổ phiếu của Tổng công ty mang mã chứng khoán KSV trên sàn chứng khoán Hà Nội từ ngày 7/7/2017 liên tục tăng và có giao dịch khá tích cực. Báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm của Tổng công ty Khoáng sản – TKV (VIMICO) cho thấy, doanh thu 9 tháng đạt 3.987 tỷ đồng, bằng 83,12% kế hoạch năm và bằng 142,66% so với cùng kỳ năm 2016. Lợi nhuận 9 tháng dự kiến đạt 191,81 tỷ đồng, đạt 223,04% so với kế hoạch. VIMICO nộp ngân sách ước đạt 586,66 tỷ đồng. tiền lương bình quân 6,62 triệu đồng/người/tháng, bằng 94,98% kế hoạch năm và bằng 122,33% so với cùng kỳ năm 2016.

Sau cổ phần hóa cần đổi mới Tổng công ty về mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh doanh, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm bảo sự ổn định trên cơ sở đổi mới có sự kế thừa những thành tựu đã đạt được nhằm gia tăng mọi năng lực sản xuất sẵn có trong Tổng công ty, khai thác các tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn, phát huy các lợi thế thị trường nội bộ của Tập đoàn TKV nhằm mục tiêu tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm khoáng sản và kim loại của nền kinh tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước vì mục tiêu “Dân giàu – Nước mạnh – Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Cụ thể là: Thứ nhất, tuân thủ phương châm “Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh” và phát triển bền vững. Thứ hai, phát triển “Thân thiện với môi trường; hài hòa với địa phương, cộng đồng; hài hòa với đối tác, bạn hàng; hài hòa giữa các công ty thành viên và người lao động”.Thứ ba, tập trung phát triển ngành khoáng sản với mục tiêu không ngừng nâng cao sản lượng, năng suất, chất lượng, hiệu quả theo hướng đi đôi với phát triển theo chiều rộng đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu trên cơ sở tăng cường đổi mới công nghệ, thiết bị theo hướng hiện đại, nâng cao chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm. Thứ tư, phát triển trên cơ sở khai thác, phát huy tối đa các nguồn nội lực trong Tổng công ty, Tập đoàn TKV và mọi nguồn lực trong trong nước kết hợp tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài bằng các hình thức thích hợp.

Mục tiêu của TCTy:

Mục tiêu chung là :

“Xây dựng và phát triển Tổng công ty Khoáng sản – TKV

Giàu mạnh – Thân thiện – Hài hòa”

Mục tiêu cụ thể:

Trở thành nhà sản xuất và cung ứng các sản phẩm từ các khoáng sản: đồng, chì kẽm, thiếc, vàng, tinh quặng sắt và phôi thép, đất hiếm với khối lượng lớn, chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Phấn đấu tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, sau mỗi 5 năm tổng doanh thu toàn Tổng công ty tăng 2 lần.

22 năm, quãng thời gian chưa phải là dài đối với một doanh nghiệp. Song những thành tích trong SXKD mà Tổng công ty đã đạt được là rất đáng trân trọng và tự hào. Trong những năm tiếp theo Ngành khai thác và chế biến sâu Khoáng sản vẫn còn rát nhiều khó khăn, nhưng cũng có nhiều cơ hội phát triển. Chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để nắm bắt được các cơ hội đó. Với truyền thống bền bỉ, vượt khó của đội ngũ CNVC LĐ toàn ngành, chúng ta có quyền tin tưởng Tổng công ty VIMICO sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường hội nhập, vững vàng hoạt động trong cơ chế thị trường, tự tin vào năng lực cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh khoáng sản.

Tác giả bài viết: Phòng CNTT& TrT

Khai giảng Lớp đào tạo cán bộ quản lý – VIMICO

Ngày 16/10/2017 tại Trường Quản trị kinh doanh – Vinacomin (Ngõ 12 phố An Hòa, phường Mỗ Lao, quận Hà Đông, Hà Nội). Tổng công ty Khoáng sản -TKV (VIMICO) phối hợp với Trường Quản trị kinh doanh – Vinacomin tổ chức khai giảng Lớp đào tạo cán bộ quản lý – VIMICO.

 

Đến dự và khai mạc lớp tập huấn có đ/c Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư Đảng ủy – Tổng giám đốc Tổng công ty; Về phía nhà trường có đ/c Phạm Văn Phú – Hiệu trưởng nhà trường và 39 học viên được triệu tập là Cán bộ đương nhiệm và kế cận các chức danh Trưởng/Phó phòng Tổng công ty; Phó Giám đốc, Trưởng/Phó phòng, Quản đốc, Phó Quản đốc các đơn vị thành viên của Vimico đã về tham dự đầy đủ.

Khóa đào tạo tập trung 32 ngày tại Trường Quản trị kinh doanh – Vinacomin, nguồn kinh phí đào tạo do Tổng công ty chi trả. Chương trình được thiết kế nhằm mục đích cung cấp cho học viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trở thành một cán bộ quản lý hiệu quả. Mục tiêu cụ thể của Chương trình là định hình một CHÂN DUNG CÁN BỘ QUẢN LÝ cho các đơn vị thành viên Vimico không chỉ nắm bắt rõ đặc điểm chính của Văn hóa, con người và bức tranh toàn cảnh TKV và VIMICO mà còn có những khả năng “Tư duy được, Nói được, Viết được, Làm được, Tổng kết được”.

Kết thúc khóa học các học viên nắm vững và áp dụng các kiến thức, kỹ năng cần thiết để quản lý và thực hành áp dụng tại nơi làm việc có hiệu quả và là tiền đề khởi đầu quan trọng cung cấp cho những nhà quản lý một nền tảng để phát triển sự nghiệp một cách thành công, tiếp tục hoàn thiện mình để trở thành cán bộ quản lý cấp cao của VIMICO và của TKV trong tương lai.

Sau đây là một số hình ảnh về lớp tập huấn./.

Minh Hùn

VIMICO hoàn thành 80% kế hoạch doanh thu trong 9 tháng đầu năm

Sáng 11/10, Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác sản xuất kinh doanh 9 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ kế hoạch quý IV/2017 – quý “nước rút” với nhiều nhóm giải pháp quyết liệt để phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch của Tổng công ty năm 2017.

Trong báo cáo sơ kết trình bày tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Tuệ – Phó Tổng Giám đốc VIMICO nhấn mạnh, từ đầu năm đến nay, mặc dù gặp phải không ít khó khăn về nhiều mặt nhưng với sự đồng thuận cao cùng nhiều nhóm giải pháp đồng bộ, quyết liệt được triển khai trong toàn Tổng công ty, 9 tháng đầu năm 2017, VIMICO đã hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh với doanh thu đạt trên 80% KHN, lợi nhuận trên 191 tỷ đồng, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Về sản xuất và tiêu thụ khoáng sản, các dây chuyền công nghệ khai thác, tuyển khoáng, luyện kim quặng đồng, thiếc, kẽm, tinh quặng sắt… hoạt động tương đối ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu công nghệ, hoàn thành kế hoạch đề ra. Đặc biệt, Tổng công ty đã có nhiều biện pháp linh hoạt, theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới để lựa chọn thời điểm, phương án tiêu thụ đảm bảo giá bán cạnh tranh và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp. Quyết liệt thực hiện đề án tái cấu trúc của Tổng công ty; tập trung thực hiện các giải pháp kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả…

“Công ty mẹ – Tổng công ty trong 3 quý vừa qua vẫn tiếp tục khẳng định được vai trò đầu tàu với những định hướng chiến lược, chỉ đạo xuyên suốt và những quyết sách kịp thời, đúng đắn đã hỗ trợ cho các đơn vị trong Tổng công ty về mọi mặt từ nguồn nhân lực, kỹ thuật công nghệ, tài chính…” – đồng chí Trần Quốc Lộc – Chủ tịch HĐQT VIMICO khẳng định.

Ghi nhận và biểu dương những kết quả mà VIMICO đã đạt được trong 9 tháng vừa qua, đồng chí Vũ Thành Lâm – Thành viên HĐTV Tập đoàn cũng lưu ý trong thời gian tới, Tổng công ty cần tiếp tục tập trung vào chương trình tái cơ cấu, khoán quản trị chi phí, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, đẩy mạnh triển khai chương trình tin học hóa, tự động hóa theo chủ trương của Tập đoàn…

Phát biểu tổng kết Hội nghị, đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh – Tổng Giám đốc VIMICO đặc biệt nhấn mạnh các nhóm giải pháp toàn Tổng công ty cần phải tập trung triển khai quyết liệt trong 3 tháng còn lại của năm 2017 với tinh thần chung xuyên suốt là “Đổi mới – Quyết liệt – Sâu sát”. Trong quý IV, Tổng công ty và các đơn vị thành viên tiếp tục bám sát các giải pháp chủ yếu đã ban hành tại Quyết định số 26/QĐ – VIMICO (tháng 1/2017), tập trung vào thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, thực thu khoáng sản có ích, quản trị chi phí nhằm hạ giá thành, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của Tổng công ty. Các chỉ tiêu chủ yếu VIMICO đặt ra phấn đấu trong quý IV/2017 là: doanh thu: 1.380 tỷ đồng, lợi nhuận 50 tỷ đồng.

Nguồn : Thùy Linh – Minh Hùng

Tổng công ty Khoáng sản – TKV vinh danh 32 thợ giỏi

Sáng 29/9/2017, tại Hà Nội, Tổng công ty Khoáng sản – TKV đã tổ chức lễ vinh danh thợ giỏi cấp Tổng công ty lần thứ V năm 2017.

 

Vinh danh 32 thợ giỏi cấp Tổng Công ty lần thứ V năm 2017

Tham dự có các đồng chí: Ngô Minh Quang, Phụ trách Đào tạo Ban TCNS Tập đoàn; Trần Quốc Lộc, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty; Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư Đảng uỷ – TGĐ Tổng công ty; Đào Minh Sơn, PTGĐ – Chủ tịch Hội đồng thi thợ giỏi Tổng công ty; Bùi Văn Chu, Chủ tịch Công đoàn – Phó Chủ tịch Hội thi; các thành viên Hội đồng thi và Trưởng Ban coi chấm thi Tổng công ty cùng 32 công nhân đạt thợ giỏi tại Hội thi thợ giỏi cấp Tổng công ty lần thứ V năm 2017.

Thực hiện Kế hoạch số 41/KH-TKV ngày 10/3/2017 của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam về tổ chức Hội thi thợ giỏi cấp Tập đoàn lần thứ X năm 2017; Kế hoạch số 538/KH-VIMICO ngày 21/3/2017 của Tổng công ty Khoáng sản – TKV về tổ chức Hội thi thợ giỏi cấp Tổng công ty lần thứ V năm 2017, Tổng công ty Khoáng sản – TKV đã thành lập Hội đồng thi chọn thợ giỏi cấp Tổng công ty để chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị triển khai thi chọn thợ giỏi cấp cơ sở.

Qua 07 tháng (từ tháng 3/2017 đến giữa tháng 9/2017) tổ chức hội thi cấp cơ sở cho 05 đơn vị (gồm Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin quyền Lào Cai – Vimico, Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai – Vimico, Chi nhánh Đá quý Việt Nhật – Vimico, Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên – Vimico và Công ty CP KSLK Cao Bằng) với 06 nghề và tổng số 125 thí sinh dự thi, đã có 65 thí sinh đạt thợ giỏi cấp cơ sở. Hội thi thợ giỏi cấp cơ sở đã chọn cử được tổng số 50 thí sinh tiêu biểu, xuất sắc tham gia Hội thi thợ giỏi cấp Tổng công ty lần thứ V năm 2017. Trong đó 32 thí sinh đạt thợ giỏi cấp Tổng công ty, và chọn cử 12 thí sinh tham gia Hội thi cấp Tập đoàn lần thứ 10 năm 2017.

Hội thi thợ giỏi cũng là dịp bồi dưỡng nâng cao trình độ, tay nghề cho công nhân, xây dựng được lực lượng công nhân kỹ thuật có trình độ, tác phong công nghiệp làm nòng cốt trong quá trình sản xuất, làm chủ thiết bị, công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu sản xuất của Tổng công ty. Thời gian diễn ra Hội thi thợ giỏi cũng đã thực sự trở thành ngày hội biểu dương tinh thần đua tài của những người công nhân khoáng sản hướng tới mục tiêu “An toàn – Chất lượng – Hiệu quả”.

Dưới đây là một số hình ảnh Lễ vinh danh:

Các đại biểu về dự lễ vinh danh

Trao cờ và bằng khen cho tập thể đạt giải nhất Hội thi

Trao thưởng cho nhóm 12 thợ phụ xuất sắc Hội thi

Đồng chí Ngô Minh Quang – Phụ trách Đào tạo Ban TCNS Tập đoàn phát biểu tại Lễ vinh danh

Đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư Đảng uỷ – TGĐ Tổng công ty phát biểu tại Lễ vinh danh

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại trụ sở Tổng công ty.

Kíp Lê

Nguồn : Vinacomin.vn