rèm cửa tphcm

rèm cửa sổ

rèm vải

rèm cuốn

rèm roman

rèm văn phòng

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

rèm cầu vồng

Rèm vải phòng khách

rèm vải chống nắng

Rèm cửa sổ

Rèm vải

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cuốn

Rèm văn phòng

Rèm gia đình

Rèm cầu vồng

Rèm sáo gỗ

Rèm sáo nhôm

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cầu vồng

Rèm cuốn

Rèm gỗ

Rèm lá dọc

màn cửa đẹp

rèm vải

rèm gia đình

rèm văn phòng

rèm cầu vồng

rèm cuốn

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

màn cửa hcm

màn cửa

màn vải

màn cuốn

màn cầu vồng

màn cầu vồng

màn cửa

màn vải đẹp

rèm cửa tphcm

rèm động cơ

rèm cuốn

rèm vải phòng khách

rèm vải phòng ngủ

rèm cầu vồng

rèm sáo

rèm nhôm

rèm roman

rèm sáo gỗ

rèm gỗ màu đen hà nội

rèm roman chống nắng hà nội

rèm vải cản nắng chống cháy

rèm cuốn chống cháy

rèm y tế kháng khuẩn

rèm cầu vồng kháng khuẩn

rèm cuốn in tranh trường học

rèm sáo nhựa giả gỗ

rèm cuốn không cẩn khoan tường

rèm phòng tắm giá rẻ

rèm cuốn xuyên sáng nhà hàng

rèm cửa

rèm cửa

Author Archives: khoahx

Tài nguyên khoáng sản: Đủ luật vẫn khó quản

Thông tin báo cáo định kỳ khai thác khoáng sản chưa đầy đủ, thiếu chính xác dẫn tới tình trạng nhà nước không kiểm soát được sản lượng khai thác thực tế của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản.

CôngThương – Tính đến tháng 5/2013, cả nước có 79 giấy phép thăm dò khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cấp, 503 giấy phép khai thác khoáng sản do cơ quan trung ương cấp đang còn hoạt động. Ngoài ra, có trên 4.200 giấy phép khai thác khoáng sản (chủ yếu là khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường) do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp đang hoạt động trên địa bàn cả nước. Thực tế này đòi hỏi vấn đề “quản trị tài nguyên khoáng sản” cần được quan tâm hơn nữa.

Luật khoáng sản năm 2010 có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 với nhiều quy định mới trong cấp phép hoạt động khoáng sản nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản, tuy nhiên công tác ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm. Đến nay, Chính phủ mới ban hành 2 Nghị định, chưa có hướng dẫn mức thu, phương thức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Do phải lồng ghép với nội dung tài nguyên nước và lùi thời điểm ban hành phù hợp với thời điểm Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực nên Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản đến nay vẫn chưa ban hành. Bộ TN&MT phối hợp cùng các Bộ Công Thương, Xây dựng cũng đã ban hành 6 Thông tư hướng dẫn, nhưng chưa có Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản…

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc:
Để nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên khoáng sản, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, thống nhất thực hiện từ trung ương đến địa phương, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật; chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản cũng như bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
Theo số liệu của Bộ TN&MT, đến nay cấp Trung ương đã có 14 quy hoạch cho 40 loại khoáng sản khác nhau, nhưng hầu hết các quy hoạch chỉ nêu tên mỏ, khu vực mỏ hoặc địa danh có mỏ đưa vào quy hoạch mà không có tọa độ, diện tích cụ thể, gây khó khăn khi xem xét, cấp phép. Phần lớn khoáng sản có tính đa công dụng nhưng cùng 1 mỏ khoáng sản lại bị điều chỉnh bởi 2 quy hoạch do 2 Bộ chủ trì lập, được phê duyệt ở thời điểm khác nhau. Do đó, chưa có sự đồng bộ về nội dung, một số quy hoạch chưa thống nhất về tiến độ thực hiện dự án giữa giai đoạn thăm dò và khai thác… gây khó khăn khi thực hiện.

Luật khoáng sản năm 2010 đã đưa ra các quy định việc cấp phép phải thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Mặc dù vậy, đến nay, các văn bản hướng dẫn thực hiện nội dung cấp phép mới vẫn chưa hoàn thiện, gây tồn đọng nhiều hồ sơ. Theo ông Lại Hồng Thanh- Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản (Tổng cục Địa chất khoáng sản- Bộ TN&MT), việc thực hiện báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản của tổ chức, cá nhân chưa nghiêm túc, chỉ có khoảng 30%- 40% tổ chức, cá nhân đang khai thác thực hiện báo cáo, nhưng chế tài xử phạt vấn đề này còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Mặt khác, thông tin trong báo cáo định kỳ khai thác khoáng sản chưa đầy đủ, thiếu chính xác. “Điều này dẫn tới việc nhà nước không kiểm soát được sản lượng khai thác thực tế của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, đồng nghĩa với việc không nắm được thực trạng “tài sản” của mình”, ông Thanh đánh giá. Xét trên bình diện quốc gia, sẽ dẫn tới khó định hướng một cách chính xác, có tính khả thi đối với hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản khi lập chiến lược, quy hoạch khoáng sản trong từng thời kỳ.

Nguồn : (baocongthuong)

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh chúc mừng Vinacomin nhân kỷ niệm 77 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – Truyền thống ngành Than

Sáng ngày 12/11/2013, đoàn đại biểu tỉnh Quảng Ninh do đồng chí Phạm Minh Chính – Uỷ viên TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ làm trưởng đoàn đã đến chúc mừng Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam nhân kỷ niệm 77 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – Truyền thống ngành Than (12/11/1936-12/11/2013).

Cùng đi có đồng chí Nguyễn Đức Long – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Văn Đọc – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo HĐND, MTTQ tỉnh và các Ban xây dựng Đảng thuộc Tỉnh uỷ.

Thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ đã chúc mừng công nhân cán bộ ngành Than nhân kỷ niệm 77 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – Truyền thống ngành Than. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ nhấn mạnh với truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của giai cấp công nhân mỏ, CNVC-LĐ ngành Than đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, xây dựng Tập đoàn ngày càng phát triển đồng thời luôn sát cánh, đồng hành cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh. Đồng chí cũng khẳng định tỉnh Quảng Ninh sẽ cùng với ngành Than tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, chăm lo đời sống người lao động, công tác đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành Than trong tình hình mới.

Đồng chí Đặng Thanh Hải, Phó Tổng giám đốc Vinacomin, Giám đốc Trung tâm ĐHSX tại Quảng Ninh đã cảm ơn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã luôn quan tâm, ủng hộ ngành Than trong quá trình xây dựng, phát triển và thông tin về tình hình sản xuất, kết quả hoạt động SXKD của Tập đoàn trong năm 2013. Tập đoàn sẽ tiếp tục cùng với tỉnh giải quyết các khó khăn, ổn định việc làm và đời sống của CNVC trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh sản xuất, hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ năm 2013, góp phần thực hiện phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh.

Cũng nhân dịp này, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị của tỉnh và thành phố Hạ Long đã đến chúc mừng Tập đoàn nhân kỷ niệm 77 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – Truyền thống ngành Than.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Nghịch lý khoáng sản: “Dân nghèo trên đống vàng”

Được đánh giá là một trong những địa phương giàu tài nguyên khoáng sản nhất của cả nước, song hoạt động khai thác mỏ tại tỉnh Bắc Kạn lại đang gây ra nhiều mất mát và để lại không ít hệ lụy khó giải quyết.

CôngThương – Đáng nói hơn, trong khi các doanh nghiệp khai khoáng chỉ dồn sức khai thác theo kiểu “tận thu,” không có trách nhiệm với nhà nước, cộng đồng thì chính những người dân sở tại lại phải đối mặt cái đói, cái nghèo triền miên ngay trên những “núi vàng” họ bảo vệ. Các doanh nghiệp khai thác thì một đi không trở lại sau khi đã vét sạch tài nguyên.

Hiến đất… “mơ” đổi đời

Mỏ khai thác quặng chì, kẽm không hiệu quả tại thôn Nà Nọi.

Trong chuyến đi điền dã tại các mỏ khoáng sản (vàng, quặng, chì, kẽm) nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn mới đây, phóng viên Vietnam+ đã được nghe bà con trải lòng về không ít khó khăn, trăn trở của mình khi gửi giấc mơ thoát nghèo vào “khả năng” khai thác mỏ của doanh nghiệp.

Thực trạng phổ biến hiện nay là đa số người dân sinh sống tại các vùng có tài nguyên khoáng sản vẫn chưa có những cơ hội thoát nghèo lẽ ra phải có như việc làm, hay giá trị đền bù đất giải tỏa cho các hoạt động khai khoáng của doanh nghiệp. Điển hình là người dân sống bên miệng mỏ tại các xã của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

Là thôn dẫn đầu huyện về số lượng hộ dân hiến đất cho doanh nghiệp, ông Trần Thái Học, Trưởng thôn Nà Nọi, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn bộc bạch: “Thôn có 4 mỏ khai thác khoáng sản là Vinh San, Hamico, Ánh Mai và Vạn Lợi. Ngay từ khi các mỏ này được cấp phép khai thác, bà con trong vùng đã hiến đất, tạo điều kiện hết sức cho doanh nghiệp làm ăn.”

Và, để tránh tình trạng quá trình khai thác mỏ gây ô nhiễm môi trường, thôn Nà Nọi đã xây dựng quy ước đối với các mỏ như: Công ty được phép khai thác quặng, được phép chuyển quặng đi, được phép tuyển (sàng lọc, rửa quặng) nhưng không được sử dụng hóa chất trong quá trình khai thác, cùng với đó phải tạo công ăn việc làm cho bà con.

“Thấy doanh nghiệp các mỏ đồng ý như vậy, nên bà con trong thôn tin tưởng và tự nguyện hiến đất cho họ khai thác, những mong sớm thoát cảnh đói nghèo,” ông Hợp nói.

Được biết, thôn Nà Nọi có 45 hộ dân (tương đương 186 nhân khẩu). Từ khi các mỏ bắt đầu khai thác đến nay đã có 13 hộ “hiến” khoảng 5ha đất; trong đó chủ yếu là đất sản xuất, đất đồi và một phần diện tích đất trồng lúa.

Chị Trịnh Thị Duyên, một trong những hộ dân đầu tiên tham gia phong trào hiến đất cho doanh nghiệp làm đường vào khai thác mỏ, cho biết mới đầu nghe doanh nghiệp hứa hẹn sẽ tạo công ăn việc làm tại mỏ Hamico, vợ chồng chị rất vui.

“Có cơ hội lợi cả đôi đường như vậy, sao không hiến đất để thoát nghèo,” chị Duyên hồn nhiên nói.

Cùng cảnh đói nghèo như chị Duyên, không ít người dân ở các thôn, xã thuộc huyện Ngân Sơn cũng tham gia “phong trào” hiến đất, để các doanh nghiệp đưa máy móc vào khai thác mỏ, với hy vọng cuộc sống sẽ sung túc hơn.

Nghèo vẫn hoàn nghèo

Để được hưởng “lộc” từ nguồn tài nguyên của Nhà nước, chí ít là vấn đề công ăn việc làm, bên cạnh việc chăm lo cuộc sống hàng ngày, bà con sống ven các mỏ ở huyện Ngân Sơn còn là những người tận tâm canh giữ mỏ cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tế đã không như người dân nghĩ, bởi hầu hết các mỏ khoáng sản đóng trên địa bàn huyện Ngân Sơn thường sử dụng đội quân có kinh nghiệm trong việc đào hầm, điều khiển máy móc, hoặc những người có “máu mặt” ở miền xuôi. Thành thử người dân vẫn phải đứng ngoài nhìn mỏ.

Vì hiến đất cho nhà mỏ, nhiều gia đình lâm vào cảnh đói nghèo

Trao đổi về thực tế trên, hầu hết người dân sống quanh khu vực các mỏ trên địa bàn thị trấn Nà Phặc như: Vinh San, Hamico, Ánh Mai và Vạn Lợi đều khẳng định “việc khai thác khoáng sản gần như không sử dụng bất kỳ một lao động nào của địa phương.”
Và như thế, ngày qua ngày ở vùng đất khoáng sản này, người dân sớm tối chỉ biết nhìn cảnh các nhà mỏ thi nhau “rút” tài nguyên từ các quả núi. “Giờ thì trắng tay rồi chú ạ!. Đất mất, không được làm công nhân, nên mỗi năm cứ đều đặn 2-3 tháng đói,” chị Duyên nghẹn ngào nói.
Ông Hoàng Ngọc Ngự, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, cho biết: “Từ năm 2008 đến nay, huyện có 10 mỏ được cấp phép, nhưng chỉ sau một thời gian hoạt động, các mỏ đều lấy lý do không thấy khoáng sản rồi thi nhau đóng cửa. Hiện chỉ còn duy nhất mỏ Ánh Mai (khai thác chì, kẽm) còn hoạt động.”
Quay lại với câu chuyện của người dân, ông Trần Thái Học, Trưởng thôn Nà Nọi khẳng định: Từ khi đi bắt đầu hoạt động tới lúc đóng cửa, các mỏ không đóng góp được gì cho thôn, thậm chí còn để xảy ra nhiều chuyện phức tạp. Điển hình nhất là vụ ẩu đả xảy ra vào ngày 1/10 giữa hai mỏ Ánh Mai và Vạn Lợi khiến một số người bị thương phải nhập viện.
Theo lời ông Học, hôm xảy ra tranh chấp có khoảng 45 người đi ôtô con, trong đó có một số người trước đây là công nhân Công ty Vạn Lợi đã xông vào đâm chém công nhân của Công ty Ánh Mai, thậm chí đuổi đánh bất cứ ai có mặt ở khu vực mỏ lúc đó, kể cả người dân địa phương đi chăn trâu, lấy củi.

“Họ đánh nhau gây náo loạn cả thôn, công an đến thu được nhiều vũ khí như dao, kiếm, súng hoa cải. Được biết, nguyên nhân hai công ty tranh chấp là do mâu thuẫn về ranh giới đất đai,” ông Học cho biết thêm.

Không chỉ gây rối làm mất trật tự an an ninh địa phương, theo ông Học, có doanh nghiệp trong lúc tuyển quặng còn sử dụng hóa chất, gây ô nhiễm nguồn nước và làm chết nhiều cá nuôi của bà con. Để đòi quyền lợi cho mình, bà con trong thôn đã kéo lên đập phá máy móc, bắt nhà máy tuyển quặng phải đóng cửa, không cho hoạt động.
Đáng buồn hơn, vì hiến đất hết cho doanh nghiệp, đến nay gần 80% hộ dân trong thôn Nà Nọi đang thiếu đất để sản xuất nghiêm trọng, trong khi các doanh nghiệp sau khi “vét” sạch tài nguyên, đã thi nhau ngừng khai thác, khiến bà con tay trắng không biết bấu víu vào đâu./.
Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2012 ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-LĐTBXH ngày 13/5/2013 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, tỉnh Bắc Kạn xếp thứ 12 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố về tỷ lệ hộ nghèo (chiếm 20,39%) và xếp thứ 15 về số hộ cận nghèo (11,25%).

Đáng chú ý, tại một số huyện nghèo thuộc tỉnh như Pác Nặm, Ba Bể, con số hộ nghèo tương ứng chiếm trên 40% và hơn 26%; số hộ cận nghèo chiếm gần 9% và gần 16%.

Không chỉ chiếm tỷ lệ cao về số hộ nghèo và hộ cận nghèo, 91% ngân sách của tỉnh Bắc Kạn hiện vẫn phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà nước. Điều đáng nói là nguồn thu ngân sách địa phương phụ thuộc chủ yếu vào việc thu thuế, phí liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản, tuy nhiên việc nợ đọng thuế, phí của các doanh nghiệp khai khoáng trong tỉnh lên tới hàng trăm tỷ đồng.

Nguồn : (baocongthuong)

Vinacomin: Giảm tiêu thụ do bão HaiYan

Thiệt hại do siêu báo HaiYan gây ra đối với ngành than không đang kể. Tuy nhiên, do vận chuyển chủ yếu bằng đường biển nên tình hình tiêu thụ than của Vinacomin bị chậm lại.

CôngThương – Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin): Ngay trước khi bão đổ bộ, các đơn vị triển khai các phương án ứng phó theo kế hoạch. Ban chỉ đạo tập đoàn phân công 4 nhóm kiểm tra thực địa tại các đơn vị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trước, trong và sau bão.
Tuy nhiên, một số đơn vị cũng đã gặp sự cố khi bão đổ bộ. Cụ thể, Nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả đang phải ngừng hoạt động do sự cố lưới điện 220 kV và 110 kV; bão làm đổ 68 cột điện điện (bao gồm điện 6kV, hạ áp, điện chiếu sáng và cột thông tin) trong địa bàn các đơn vị và đổ 2 trạm biến tần, gây sự cố hỏng 1 trạm phát điện; sạt lở khoảng 4.000 m3 đất đá sườn ta luy đường vận chuyển, tầng thải (không ảnh hưởng đến dân cư); nhiều cây xanh bị đổ, vỡ kính cửa, tốc mái tôn nhà xưởng khoảng 2.400 m2; đổ 160 m tường rào bao quanh khu làm việc, khu kho bãi thuộc các đơn vị.
Hiện các đơn vị đang chủ động kiểm tra khắc phục sau bão, xúc dọn, nạo vét, khơi thông hệ thống thoát nước, xử lý hệ thống các đường điện để ổn định và đưa trở lại sản xuất ngay trong ngày 11/11/2013, tiếp tục ứng phó với các đợt mưa do ảnh hưởng hoàn lưu bão.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Minh Chuẩn- Tổng giám đốc Vinacomin- cho biết: Mặc dù siêu bão HaiYan không gây thiệt hại nhiều cho ngành than và không ảnh hưởng tới sản xuất nhưng do vẫn chuyển than chủ yếu bằng đường biển nên ảnh hưởng tới tiêu thụ và hoàn thành kế hoạch tiêu thụ 3,9 triệu tấn than của Vinacomin trong năm 2013.

Nguồn : (baocongthuong)

Khó “cầm máu” tài nguyên khoáng sản

Khai thác tận diệt, xuất thô là hoạt động chính của các DN trong lĩnh vực khoáng sản hiện nay. Điều này đang gây ra những thất thoát lớn về tài nguyên và những hệ lụy không nhỏ cho môi trường và xã hội.

CôngThương – Vậy nhưng, quản lý hoạt động này vẫn đang tồn tại những điểm yếu và các nhà làm quản lý thì chưa có cách khắc phục Khoáng sản chưa thôi “chảy máu”
Chính phủ đã không ít lần cảnh báo về thực trạng xuất khẩu khoáng sản thô. Và trên thực tế, xuất khẩu khoáng sản thô là hành động đã bị cấm. Tuy nhiên, cấm là một chuyện, thực hiện hay không lại là chuyện khác. Dường như, trong bất cứ lĩnh vực gì, ở Việt Nam vẫn tồn tại thực trạng đó: Cấm mà như không!
Bắc Cạn, Tuyên Quang… là những địa phương nổi tiếng giàu tài nguyên khoáng sản. Những tưởng đó sẽ là lợi thế lớn để người dân nơi đây có thể đổi đời, hết cảnh nghèo khó. Song, lợi thế ấy lại trở thành yếu thế của những người dân tại các địa phương này. Bởi, các DN đua nhau khai thác khoáng sản theo kiểu tận diệt và không hề tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương. Hệ lụy là, người dân ở đây “nghèo vẫn hoàn nghèo” trong khi môi trường lại bị tàn phá.
Mặc dù Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ về hoạt động khai thác khoáng sản như quy định trong Hiến pháp 1992, Luật Khoáng sản 1996, 2005 và 2010… Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy đang có khoảng cách khá lớn giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý. Và chính bởi cái khoảng cách ấy, mới dẫn đến thực trạng hiện nay: Ở đâu có khoáng sản là ở đó có khai thác. Khai thác bất kỳ một loại khoáng sản nào có thể xuất khẩu, bất kể hệ lụy với môi trường. Sự khai thác bừa bãi, lãng phí đang khiến nước ta rơi vào tình trạng “chảy máu tài nguyên”.
Làm thế nào để ngăn chặn được thực trạng này? Câu trả lời chỉ được giải đáp khi vấn đề quản trị tài nguyên khoáng sản được minh bạch.
Tham nhũng làm méo mó sự phát triển
Trên thực tế, thời gian qua, chúng ta đang chứng kiến việc cấp phép khai thác khoáng sản tràn lan. Có những địa phương DN đã hết thời hạn được phép khai thác nhưng vẫn thản nhiên, vô tư đào mỏ vét quặng. Điển hình như tại huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, nhiều DN đã hết thời hạn cấp phép hoạt động nhưng hàng ngày vẫn rầm rộ khai thác vàng với hàng trăm công nhân như… lúc đang còn được phép. Hà Giang, Bắc Kạn… và hàng loạt các địa phương cũng đang trở thành điểm nóng về nạn khai thác khoáng sản bừa bãi.
Sẽ ra sao nếu như tài nguyên khoáng sản cứ mai một dần. Hệ lụy nhãn tiền chính là môi trường bị hủy diệt, tiếp sau đó là nền kinh tế bị cạn kiệt, đời sống người dân thì nghèo nàn. Điều đó DN biết, địa phương biết, các nhà quản lý đều biết. Vậy tại sao không thể “cầm máu” tài nguyên?
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 đến 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1-2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) chủ yếu sang Trung Quốc và chỉ mang lại giá trị 130-230 triệu USD. Năm 2012, lượng khoáng sản xuất đi giảm, chỉ còn gần 800.000 tấn, bằng đường chính ngạch. Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng còn lớn hơn nữa.
Theo giới chuyên gia kinh tế, bi kịch của chúng ta hiện nay chính là chúng ta có “vốn” nhưng lại không biết biến nguồn vốn đó thành lợi nhuận cao mà chỉ nhăm nhăm “bóc ngắn cắn dài”, đó là vì chúng ta thiếu công nghệ, thiếu chất xám.
Chỉ cần lấy ví dụ về câu chuyện nhập khẩu than, đủ để minh chứng điều đó. Trong khi là nước có trữ lượng than dồi dào, tại sao không tận dụng lợi thế đó để khai thác than phục vụ các lĩnh vực kinh tế mà lại xuất khẩu ồ ạt với giá thấp, để rồi lại phải nhập khẩu khi nền kinh tế… cần than.
Và còn một yếu tố không thể không nhắc đến – bởi chính yếu tố này đã và đang trở thành điểm nóng gây bức xúc trong dư luận không chỉ riêng đối với ngành khai thác khoáng sản – đó chính là tham nhũng. Và nói như ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ, khoáng sản là một trong bốn lĩnh vực tham nhũng tinh vi nhất.

Nguồn : (baocongthuong)

Vinacomin – Marubeni: Sẽ ký thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện vào tháng 12 năm 2013

Sáng ngày 20/11/2013, tại trụ sở Tập đoàn, Tổng giám đốc Vinacomin Lê Minh Chuẩn đã tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Marubeni do ông Mamoru Sekiyama – Phó Chủ tịch Tập đoàn Marubeni làm trưởng đoàn.

Tại buổi tiếp, các thành viên trong Đoàn công tác của Marubeni đã trao đổi với Vinacomin về các lĩnh vực cụ thể hai bên đang hợp tác như tài nguyên và khoáng sản, điện, hóa chất, máy móc xây dựng mỏ, dự án Alumin, điện phân nhôm… Cụ thể, trong lĩnh vực tài nguyên và khoáng sản, hai bên cùng bàn về việc gia hạn tiếp hợp đồng cung cấp than cho các khách hàng truyền thống Nhật Bản, vấn đề lựa chọn lại địa điểm cho dự án thử nghiệm của dự án than Đồng bằng sông Hồng; với lĩnh vực điện, Marubeni mong muốn tiếp tục đẩy mạnh triển khai hợp tác với Vinacomin ở hai dự án là Nhiệt điện Na Dương 2 và Quỳnh Lập 1; ở lĩnh vực hóa chất, Marubeni đã tiến hành xây dựng các hệ thống kho bãi ở Vũng Tàu với mục tiêu cung cấp nguồn sút ổn định và lâu dài cho dự án Nhà máy Alumin Tân Rai; còn trong lĩnh vực máy móc xây dựng mỏ, Marubeni đã và đang cải tạo các nhà xưởng tại Quảng Ninh nhằm mục tiêu tập trung cho dịch vụ sau bán hàng với các thiết bị đã cung cấp cho Vinacomin thời gian qua…

Sau khi lắng nghe các ý kiến từ phía Marubeni, các Phó Tổng giám đốc Tập đoàn: Nguyễn Văn Biên, Nguyễn Chiến Thắng đã trao đổi cụ thể về các nội dung hợp tác liên quan đến lĩnh vực phụ trách với các lãnh đạo phụ trách của Marubeni.

Tổng kết các vấn đề hai bên đã bàn bạc, trao đổi, Tổng giám đốc Vinacomin Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, về hợp đồng dài hạn cung cấp than cho khách hàng Nhật Bản có thể hai bên xem xét niên hạn tới ký đến năm 2018; với dự án Than Đồng bằng sông Hồng, Tập đoàn hiện đã báo cáo Chính phủ và chờ ý kiến để triển khai; hai dự án Nhiệt điện Na Dương 2 và Quỳnh Lập 1, Vinacomin đang chờ Marubeni hoàn hiện các văn bản, thủ tục cần thiết; trong lĩnh vực hóa chất, Vinacomin rất ủng hộ và sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác với Marubeni; riêng lĩnh vực máy móc thiết bị mỏ, Vinacomin muốn tới đây sẽ thống nhất trong toàn Tập đoàn về việc hợp tác với Marubeni với các chủng loại thiết bị, giá cả, dịch vụ sau bán hàng…Tổng Giám đốc Lê Minh Chuẩn cũng đề xuất, trên cơ sở buổi làm việc này, hai bên sẽ tiếp tục bàn bạc thêm những vấn đề cần thiết để sớm tiến đến ký thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện giữa Vinacomin và Marubeni trong tháng 12 tới. Đánh giá buổi làm việc rất hiệu quả và chi tiết, ông Mamoru Sekiyama – Phó Chủ tịch Tập đoàn Marubeni khẳng định sẽ cố gắng đẩy mạnh hoàn thiện các thủ tục để ký bản thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện với Vinacomin trong thời gian sớm nhất và bày tỏ mong muốn lễ ký sẽ được diễn ra tại Tokyo Nhật Bản.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

TGĐ Lê Minh Chuẩn tiếp Đoàn lãnh đạo cấp cao tỉnh Hokkaido (Nhật Bản)

Ngày 22/11, tại Trụ sở Tập đoàn, TGĐ Lê Minh Chuẩn đã có buổi tiếp Đoàn lãnh đạo cấp cao tỉnh Hokkaido (Nhật Bản) do Ngài Takai Osamu, Phó tỉnh trưởng dẫn đầu.

Tại buổi làm việc, TGĐ Lê Minh Chuẩn bày tỏ niềm vui mừng khi đón tiếp đoàn và khẳng định mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản nói chung, Vinacomin – Hokkaido nói riêng ngày càng phát triển tốt đẹp.

TGĐ đã giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh, những khó khăn hiện tại của Vinacomin cũng như điểm lại những thành công trong hợp tác giữa hai bên… TGĐ tin tưởng, trong thời gian tới, mối quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung và Vinacomin – Hokkaido nói riêng sẽ ngày càng sâu sắc, tốt đẹp, cùng nhau hỗ trợ trong sự phát triển toàn diện.

Ngài Takai Osamu cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, chu đáo của lãnh đạo Tập đoàn, đồng thời nhấn mạnh, với công nghệ khai thác hiện đại của Nhật Bản, đây là điều kiện thuận lợi để hai bên hợp tác cùng nhau phát triển trong tương lai, đặc biệt là lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Đồng chí Ngô Hoàng Ngân trúng cử Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh

Chiều 25-11, Ban chấp hành Đảng bộ Than Quảng Ninh đã tổ chức họp và bầu Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh khóa III (nhiệm kỳ 2010-2015). Tham dự cuộc họp có các đồng chí: Nguyễn Đức Long – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh; Lê Thị Bích Hường, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh; Trần Xuân Hòa, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.

Với 31/32 phiếu bầu, chiếm tỷ lệ 97%, đồng chí Ngô Hoàng Ngân, Ủy viên chấp hành Đảng bộ Than Quảng Ninh, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã trúng cử chức vụ Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh khóa III, thay đồng chí Bùi Văn Khích nghỉ hưu theo chế độ.

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Đức Long – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh chúc mừng đồng chí Ngô Hoàng Ngân đã trúng cử chức vụ Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh với số phiếu cao, thể hiện sự tin tưởng và thống nhất trong toàn Đảng bộ.

Đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh cũng bày tỏ mong muốn đồng chí Ngô Hoàng Ngân sẽ phát huy truyền thống kỷ luật đồng tâm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin tưởng của BTV Tỉnh ủy Quảng Ninh và Đảng bộ Than Quảng Ninh. Đồng thời khẳng định, tỉnh Quảng Ninh sẽ tiếp tục đồng hành cùng ngành than, chung tay tháo gỡ khó khăn, chăm lo đời sống người lao động.

Đồng chí Trần Xuân Hòa, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã luôn tạo điều kiện và sát cánh cùng Tập đoàn trong suốt những năm qua. Đồng chí tin tưởng trong cương vị mới, đồng chí Ngô Hoàng Ngân sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành than Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung./.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Hoàn thành khóa đào tạo 31 cán bộ cấp cao Vinacomin

Vừa qua, tại Trường Quản trị Kinh doanh – Vinacomin, Tổng Giám đốc Tập đoàn đã dự lễ bế giảng và trao giấy chứng nhận cho 31 học viên đã hoàn thành chương trình đào tạo cán bộ cao cấp.

Khóa học tập trung các đồng chí là giám đốc các đơn vị, trưởng các Ban Tập đoàn đang trong độ tuổi quy hoạch cán bộ cấp cao Tập đoàn để tham gia các chương trình đào tạo quản trị doanh nghiệp cao cấp. Nội dung khóa học được các giáo sư, tiến sỹ thuộc Học viện quản lý Châu Á (AIT) truyền đạt những nội dung quan trọng như: chuyên đề về quản trị sự thay đổi, quản trị tâm lý, hay kinh nghiệm thực tiễn quản trị doanh nghiệp của các Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới v.v.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Minh Chuẩn, Tổng giám đốc Vinacomin nhấn mạnh, đây là lớp học được kỳ vọng các học viên sẽ có nhiều tư duy và phương pháp quản trị doanh nghiệp hay để áp dụng tại các đơn vị, đồng thời làm tiền đề cho quá trình phát triển Tập đoàn trong tương lai. Sau thời gian hơn 4 tháng tập trung, các học viên đã nắm tương đối chắc kiến thức, nội dung chương trình thông qua buổi thuyết trình ứng dụng vào thực tiễn tại Vinacomin với số điểm khá cao.

Trao đổi bên lề lễ bế giảng, đa phần các đồng chí cán bộ, lãnh đạo Tập đoàn, các học viên đều cho rằng, đây là sự cần thiết cho các đồng chí đang và sẽ làm lãnh đạo điều hành doanh nghiệp. Chương trình có nội dung phong phú và bổ ích. Nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục mở thêm các lớp như vậy và có thể mở rộng hơn đến các phó giám đốc trẻ của các đơn vị, nhằm xây dựng đội ngũ quản lý doanh nghiệp có trình độ cao hơn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn: “Phát triển kinh tế phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội”

Những năm qua, có thể nhận thấy những đóng góp của Vinacomin đã nỗ lực cùng Bộ Công Thương và Chính phủ xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và các dân tộc, nhóm dân cư. Nhờ đó tại nhiều huyện nghèo trong cả nước đã có sự chuyển biến hơn về đời sống vật chất.

Nhằm khẳng định những kết quả đã đạt được, đồng thời đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng trong thời gian tới, Tạp chí Công Thương đã có cuộc trao đổi với Ông Lê Minh Chuẩn, Tổng giám đốc Tập đoàn Vinacomin về một số nội dung của công tác này.
Hàng trăm tỷ đồng cho an sinh xã hội và phát triển cộng đồng
PV: Xin ông cho biết yếu tố nào giúp Vinacomin khi triển khai thành công công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng?

Ông Lê Minh Chuẩn – Tổng giám đốc Tập đoàn Vinacomin

Ông Lê Minh Chuẩn: Xác định mục tiêu “Phát triển kinh tế phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội” là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Chính vì vậy, từ lãnh đạo tới người lao động trong Tập đoàn thống nhất quan điểm: Đi đôi với sản xuất kinh doanh phải thực sự quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong Tập đoàn, hưởng ứng và thực hiện tốt các chương trình an sinh xã hội do các cấp ngành, trung ương, địa phương phát động và tổ chức giúp đỡ, hỗ trợ đối với địa phương và các tổ chức xã hội trên địa bàn.

Vì vậy, ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 30a, Tập đoàn đã chủ động sớm quán triệt chủ trương của Đảng, Chính phủ và Bộ Công Thương về xóa đói, giảm nghèo và bàn các giải pháp triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ đối với các đơn vị thành viên, góp phần thực hiện chủ trương về phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn gặp nhiều khó khăn để phát triển kinh tế xã hội.

Các cấp ủy Đảng trong toàn Đảng bộ đã chủ động, tích cực lãnh đạo các doanh nghiệp thành lập ban chỉ đạo, bộ phận chuyên trách để phối hợp với các địa phương trong việc khảo sát, xây dựng đề án, kế hoạch, lộ trình và thực hiện các nội dung hỗ trợ các huyện nghèo.

Các tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên là lực lượng xung kích trong việc triển khai thực hiện hỗ trợ huyện nghèo từ việc tham gia, vận động, thuyết phục CBCNVC, huy động nguồn kinh phí và giám sát việc giải ngân, thi công các hạng mục công trình.

Những năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi tác động của sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế thế giới; tình hình kinh tế xã hội đất nước gặp khó khăn, lạm phát, giá cả tăng cao; thiên tai, bão lụt liên tục xảy ra, các đơn vị trong Tập đoàn vừa quyết tâm khắc phục khó khăn, duy trì phát triển sản xuất kinh doanh vừa thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Mỗi năm Tập đoàn đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho hoạt động này.

Phần nhiều các hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đang sống trong những ngôi nhà tạm, nhà dột nát, nhà hư hỏng. Chính vì vậy, chủ trương xóa nhà tạm, nhà hư hỏng, dột nát cho các hộ nghèo là nhiệm vụ hàng đầu mà Chính phủ yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty hỗ trợ theo tiêu chí 3 cứng: nền cứng, tường cứng, mái cứng. Vinacomin được Chính phủ giao hỗ trợ kinh phí giúp 3 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a là: huyện Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang, huyện Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn và huyện Đam Rông thuộc tỉnh Lâm Đồng. Trong 4 năm triển khai Nghị quyết này, Tập đoàn đã hỗ trợ 136 tỷ đồng giúp đỡ xóa nhà dột nát, xây dựng trường học, xây dựng trạm y tế, mua sắm trang thiết bị y tế và giáo dục, xây dựng chợ phát triển kinh tế địa phương. Ngoài ra, Tập đoàn còn đài thọ kinh phí và tổ chức đào tạo nghề, công nhân kỹ thuật cho hàng trăm con em vùng cao ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn để tạo công ăn việc làm cho các cháu có điều kiện giúp đỡ phát triển kinh tế gia đình với giá trị hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra, hưởng ứng các chương trình từ thiện do các cấp bộ, ngành trung ương và địa phương khác phát động với số tiền cũng lên đến hàng tỷ đồng mỗi năm.

Ngay trong nội bộ, Tập đoàn cũng thường xuyên tổ chức thăm hỏi, tặng quà các gia đình khó khăn, các cháu tật nguyền, nạn nhân chất độc màu da cam, những lao động có thành tích xuất sắc trong sản xuất vào các dịp lễ tết, kỷ niệm ngày truyền thống, khen thưởng con cán bộ công nhân có thành tích cao trong học tập và tuyên dương các gia đình công nhân tiêu biểu với số tiền hàng tỷ đồng mỗi năm. Hoạt động trợ cấp học bổng hàng tháng cho các cháu gia đình chính sách, tai nạn lao động, các cháu nhiễm chất độc da cam và hỗ trợ kinh phí xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các gia đình chính sách với số tiền từ 4-6 tỷ đồng/năm…
Đóng góp lớn trên địa bàn chiến lược Quảng Ninh
PV: Số lượng các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh khá lớn. Vậy Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị đứng chân trên địa bàn thực hiện công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng như thế nào? Ông có thể cho biết những đóng góp của Vinacomin trong hoạt động này những năm qua?

Ông Lê Minh Chuẩn: Riêng đối với tỉnh Quảng Ninh, địa bàn chiến lược với trên 10 vạn thợ mỏ đang làm việc, hàng năm Tập đoàn đã đóng góp gần 40% GDP toàn tỉnh và đóng góp nguồn ngân sách nội địa cho Tỉnh từ 35% – 48%. Trong đó, về hoạt động an sinh xã hội, ngành Than đã góp sức xây dựng nhiều công trình phúc lợi có ý nghĩa lớn trên địa bàn Tỉnh. Chỉ tính trong 5 năm qua, ngành Than đã đóng góp, hỗ trợ tổng số tiền gần 547 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Năm 2013, là năm sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Tập đoàn vẫn đi tiên phong đóng góp trên 150 tỷ đồng cho Chương trình “Chung tay thắp sáng vùng biển đảo Cô Tô” do Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh phát động, đồng thời Tập đoàn đã vận động nhiều doanh nghiệp trực thuộc trên địa bàn tham gia ủng hộ tích cực, góp phần sớm đưa điện lưới ra huyện đảo Cô Tô.
Trong nhiều năm qua Tập đoàn đã triển khai việc hỗ trợ nhiều gia đình khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Giúp đỡ kinh phí xóa nhà dột nát, xây dựng trường học, xây dựng đường giao thông, hỗ trợ vật liệu xây dựng, mua sắm trang thiết bị y tế, phối hợp với các tổ chức xã hội tặng sổ tiết kiệm, giúp đỡ con giống để người dân vươn lên thoát nghèo… Ủng hộ Quỹ Vì người nghèo, các hoạt động xã hội từ thiện do các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn Tỉnh phát động.

Phát huy truyền thống của dân tộc “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”. Với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” của người thợ mỏ, bên cạnh việc chỉ đạo thực hiện từ Tập đoàn, Công ty con, đơn vị trực thuộc đã chủ động huy động từ nhiều nguồn và vận động cán bộ công nhân viên tham gia thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng trên địa bàn, hỗ trợ địa phương trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ trẻ em và người tàn tật với những hoạt động cụ thể như: hàng tháng trợ cấp cho 60 nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, hỗ trợ xây nhà cho các hộ nghèo, hỗ trợ kinh phí xây dựng trạm điện, đường giao thông liên xã, trang bị bàn ghế, sách vở cho học sinh nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo… Các hoạt động này được địa phương và nhân dân ghi nhận và đánh giá cao.

Bên cạnh đó, Tập đoàn đã hỗ trợ kinh phí và tổ chức xây dựng rường Tiểu học Mông Dương, Trường Mầm non Yên Thọ với số tiền 16 tỷ đồng; hỗ trợ kinh phí xóa nhà dột nát; ủng hộ các quỹ từ thiện, hỗ trợ thiên tai với số tiền gần chục tỷ đồng; ủng hộ thiết bị cho Bệnh viện Lao & Phổi tỉnh Quảng Ninh, máy chạy thận nhân tạo, máy X quang kỹ thuật số cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh và Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển với số tiền gần 20 tỷ đồng; xây dựng đường giao thông Sông Chanh – Yên Hưng, đường giao thông từ bến phà Tài Xá – Vân Đồn với số tiền trên 200 tỷ đồng v.v…
PV: Ông có nhận xét gì về nhận thức của cán bộ công nhân viên Vinacomin đối với công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng?

Ông Lê Minh Chuẩn: Phải nói rằng, Lãnh đạo Tập đoàn và hầu hết cán bộ nhân viên, người lao động trong Tập đoàn đều hiểu biết sâu sắc và nhận thức rõ ràng về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước, đặc biệt là các địa bàn còn nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, góp phần hỗ trợ, giúp đỡ người dân khắc phục khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Từ những nhận thức đó, chúng tôi cũng đã xác định rõ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng như của bản thân các cán bộ công nhân viên và người lao động, để từ đó có những hành động cụ thể.


Qua các cuộc vận động ủng hộ, mặc dù thu nhập còn chưa cao, song hầu hết cán bộ viên chức và người lao động toàn Tập đoàn đã tự nguyện tham gia đầy đủ các hoạt động an sinh xã hội không những ở đơn vị mà còn tham gia đóng góp với địa phương khi được huy động tại địa bàn dân cư.
PV: Quá trình triển khai thực hiện công tác này cũng đã được một thời gian dài. Tập đoàn có tổ chức sơ tổng kết đều đặn không? Và kinh nghiệm của Tập đoàn trong triển khai công tác này là gì, thưa ông?
Ông Lê Minh Chuẩn: Như tôi đã đề cập ở trên, trong những năm qua Tập đoàn đã triển khai
Mặc dù nền kinh tế thế giới suy thoái, kinh tế trong nước còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng được Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đặc biệt quan tâm và có nhiều giải pháp hiệu quả. Mỗi năm Tập đoàn đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho hoạt động này.

tốt công tác An sinh xã hội và phát triển cộng đồng, được người dân, chính quyền địa phương và các bộ, ngành Trung ương ghi nhận và đánh giá cao, thể hiện được vai trò trách nhiệm của doanh nghiệp chia sẻ khó khăn với cộng đồng tạo mối liên hệ gần gũi với nhân dân. Việc triển khai Nghị quyết này cùng với nhiều chương trình khác được lồng ghép trong các kỳ sơ, tổng kết và được tổ chức thường xuyên hàng năm.

Từ kinh nghiệm thực tế, Tập đoàn đã rút ra những kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác này trong năm 2013 và các năm tiếp theo như:

Thứ nhất, cần phải thường xuyên nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, đoàn thể cũng như từng cá nhân trong hệ thống chính trị của doanh nghiệp về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác này đối với sự nghiệp phát triển bền vững của Tập đoàn. Phải gắn kết sự phát triển của doanh nghiệp với sự phát triển cộng đồng, phát triển xã hội, từ đó xác định được trách nhiệm cụ thể của doanh nghiệp đối với công tác an sinh xã hội và phát triển cộng đồng.

Thứ hai, trong quá trình thực hiện các chính sách ban hành cần cụ thể, đồng bộ để tránh gây lúng túng trong quá trình thực hiện. Ngoài ra cũng cần phải có quy định rõ trách nhiệm của địa phương từ khâu nhận tài trợ đến khi hoàn thành giải ngân việc sử dụng nguồn tài trợ đúng mục đích, đảm bảo quy định của Nhà nước về quản lý tài chính.

Thứ ba, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan có chính sách hỗ trợ rõ ràng, quyết liệt giúp đỡ kinh phí cho các huyện theo từng mục tiêu cụ thể cho từng năm.

Thứ tư, Chính phủ nên phân công doanh nghiệp hỗ trợ tập trung theo địa bàn và nhất là địa phương có doanh nghiệp đóng quân trên địa bàn nào sẽ hỗ trợ địa phương đó sẽ tạo mối liên hệ gần gũi hơn giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương.

Thứ năm, cần ban hành chính sách nêu rõ danh mục các công trình như thế nào được ưu tiên quan tâm đầu tư trước để góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương và có cơ chế thi đua khuyến khích địa phương phấn đấu thoát nghèo trước thời hạn.

Thứ sáu, đi đôi với việc giúp đỡ an sinh xã hội cho người dân các địa phương, thì cần chú trọng giúp đỡ cho chính người lao động có hoàn cảnh khó khăn trong doanh nghiệp và gia đình của họ, nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, hoàn thành tốt nhiệm vụ, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.

Nguồn : (Tạp chí công thương)

Hệ lụy khôn lường từ khai thác khoáng sản

Quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản đang trở thành định hướng chiến lược trong ngành công nghiệp khai khoáng. Tuy nhiên, với nhiều “lỗ hổng” như hiện nay, việc khai thác khoáng sản chưa thể hiệu quả, minh bạch.

CôngThương -Nhiều bất cập trong quy hoạch
Từ 1/7/2011 đến ngày 31/12/2012, 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cấp 957 giấy phép gồm: 275 giấy phép thăm dò khoáng sản, 682 giấy phép khai thác khoáng sản. Hơn một nửa số giấy phép này được cấp không đúng quy định.

Thêm nữa, chỉ số quản trị tài nguyên khoáng sản Việt Nam hiện chỉ đứng thứ 43 trong tổng số 58 quốc gia được khảo sát, là quốc gia kém nhất trong nhóm quốc gia yếu kém (theo đánh giá của Viện giám sát nguồn thu Mỹ). Thực tế này đã chỉ rõ những bất cập trong công tác lập quy hoạch, cấp giấy phép khai thác khoáng sản.

Tại cuộc tọa đàm trực tuyến: “Khai thác tài nguyên khoáng sản: Minh bạch và hiệu quả” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức sáng nay (3/12), ông Nguyễn Mạnh Quân – Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) cho biết, chỉ số nêu trên là thực tế. Nguyên nhân truớc hết do quy hoạch điều tra cơ bản về địa chất (Bộ Tài nguyên-Môi trường thực hiện) không đủ kinh phí. Cụ thể: Ngân sách cấp 180 tỷ/năm, chỉ đáp ứng 40%. Vì vậy, công tác thăm dò dựa trên điều tra cơ bản khó hoàn thành. Ngoài ra, tiến độ lập quy hoạch có những điểm hạn chế do quy hoạch khoáng sản phức tạp. Thậm chí, quy hoạch còn chồng lấn giữa trung ương và địa phương, nhiều dự án trung ương chưa phê duyệt thì địa phương đã phê duyệt; thăm dò khai thác chưa gắn chặt với quy hoạch sử dụng đất và bảo vệ môi trường.
Với chức năng của mình, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ phê duyệt 14 quy hoạch bao gồm 38 loại khoáng sản. Nội dung của quy hoạch gồm: Mục tiêu, quan điểm, giải pháp, cơ chế chính sách, danh mục tài nguyên khoáng sản. Trên cơ sở danh mục đó, Bộ cấp phép phê duyệt các loại tài nguyên khoáng sản được phép khai thác.
Trước ý kiến cho rằng, nhiều địa phương chia nhỏ mỏ khoáng sản để cấp phép, ông Nguyễn Linh Ngọc – Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường khẳng định, không còn tình trạng này nhờ Luật Khoáng sản 2010 đã có hiệu lực. Ông Ngọc ví dụ: Có địa phương khi phát hiện ra mỏ đã đề xuất điều tra nhưng trung ương không có kinh phí. Địa phương dự định chuyển cho doanh nghiệp làm. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ điều tra 1, 2 ha. Do đó, Bộ không phê duyệt, tránh hiện tượng chia nhỏ mỏ.
Về số giấy phép cấp không đúng quy định nêu trên, theo ông Nguyễn Linh Ngọc, nguyên nhân đầu tiên do luật không đầy đủ. Thứ hai, sự nôn nóng của địa phương dẫn đến cấp phép tràn lan. Nhận thức được điều này, Bộ đã tăng cường công tác kiểm tra, tuyên truyền đồng thời nâng cao năng lực quản lý.
Khai thác tận thu, thiếu trách nhiệm
Việc cấp giấy phép khai thác ồ ạt dẫn đến tồn kho lớn, ông Nguyễn Linh Ngọc cho rằng, theo trình tự quy định thì việc cấp giấy phép khai thác căn cứ vào quy hoạch. Nếu việc cấp giấy phép khiến cung vượt cầu thì do quy hoạch.
Nguyên nhân khách quan: Khủng hoảng kinh tế khiến khoáng sản khó tiêu thụ. Thêm nữa, dù rất muốn có được công nghệ để chế biến sâu nhưng doanh nghiệp nước ngoài không chuyển giao, hoặc nếu chuyển giao thì họ đòi hỏi điều kiện liên doanh, liên kết cùng khai thác. Do đó, tiến độ đầu tư các dự án chế biến sâu khoáng sản chậm, khoáng sản thô tồn kho lớn.
Dù có khó khăn trong tiêu thụ nhưng ông Nguyễn Mạnh Quân khẳng định: Bộ Công Thương không cấp phép xuất khẩu khoáng sản thô. Vừa qua, Chính phủ chấp thuận xuất khẩu quặng sắt là giải pháp tình thế, nhưng chỉ xuất hàng tồn kho. Thậm chí, đối với một số khoáng sản, chế biến sâu chưa chắc giá trị đã cao hơn bởi công nghệ lạc hậu khiến sản phẩm chế biến càng làm càng lỗ.
Trong hơn 4.000 giấy phép khai thác khoáng sản do địa phương cấp phép thì đến hơn 70% giấy phép thời hạn dưới 5 năm. Điều này khiến doanh nghiệp khai thác mang tính chất tận thu, không có trách nhiệm với nhà nước, môi trường.
Ông Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, doanh nghiệp không chấp hành nộp các khoản thu cho nhà nước có lỗi từ 2 phía. Thứ nhất do ý thức, trách nhiệm của doanh nghiệp. Thứ hai, nhà nước chưa có chế tài nghiêm minh mang tính chất răn đe. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế đồng bộ để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm của mình. “Nếu như trước đây, thuế tài nguyên và phí môi trường thấp thì nay rất lớn. Trong khi, khoáng sản càng khai thác xuống sâu càng khó khăn, nhiều doanh nghiệp họ không còn kinh phí để nộp” ông Nguyễn Mạnh Quân nhấn mạnh.
Điều đáng quan tâm là Chỉ thị 02 của Bộ Chính trị và Luật Khoáng sản quy định việc đầu tư khoa học – công nghệ để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, thực tế chỉ có khoảng 0,01% tổng doanh thu của doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản dành do đầu tư đổi mới công nghệ. Điều này phản ánh thực trạng khoáng sản chủ yếu sản xuất dưới dạng nguyên liệu thô, lấy số lượng “đè” chất lượng.

Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

(Chinhphu.vn) – Theo Nghị định quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vừa được Chính phủ ban hành, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (R) được quy định theo nhóm, loại khoáng sản có giá trị từ 1-5%.

Cụ thể, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính theo công thức sau:

T = Q x G x K1 x K2 x R

Trong đó:

T – Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Q – Trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

G – Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

K1 – Hệ số thu hồi khoáng sản liên quan đến phương pháp khai thác, được quy định: Khai thác lộ thiên K1 = 0,9; khai thác hầm lò K1 = 0,6; khai thác nước khoáng, nước nóng thiên nhiên và các trường hợp còn lại K1 = 1,0;

K2 – Hệ số liên quan đến điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn áp dụng theo Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư do Chính phủ quy định: Khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, K2 = 0,90; khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế – xã hội khó khăn, K2 = 0,95; các khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng còn lại, K2 = 1,00;

R – Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính là phần trăm (%).

Trong đó, giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định theo giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh xây dựng, công bố và tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản còn hiệu lực.

Mỗi loại khoáng sản trong một khu vực khai thác khoáng sản chỉ áp dụng một mức giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Trường hợp trong một khu vực khai thác khoáng sản, sản phẩm sau khai thác có nhiều loại và mỗi loại có mức giá khác nhau, thì áp dụng giá trị trung bình các mức giá.

Đối với loại khoáng sản chưa có giá tính thuế tài nguyên hoặc phải điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên do không còn phù hợp theo quy định, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng giá; Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

Nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 1 hoặc nhiều lần

Về phương thức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, Nghị định quy định nộp 1 lần bằng 100% tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các trường hợp: Thời gian khai thác còn lại trong Giấy phép khai thác hoặc cấp mới bằng hoặc dưới 5 năm; tổng giá trị tiền cấp quyền khai thác khoáng sản bằng hoặc nhỏ hơn 1 tỷ đồng.

Các trường hợp còn lại có thể nộp nhiều lần.

Thời điểm nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chậm nhất lần đầu là 90 ngày tính từ ngày nhận được thông báo của Cục thuế địa phương; thời điểm các lần sau chậm nhất là ngày 31 tháng 3 các năm tiếp theo. Sau các thời điểm này, ngoài số tiền phải nộp theo thông báo, tổ chức, cá nhân còn phải nộp tiền phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp trữ lượng khoáng sản được cấp phép lớn, thời gian khai thác còn lại và công suất khai thác trung bình hàng năm không thể hết phần trữ lượng chưa khai thác; tổ chức, cá nhân có thể xin điều chỉnh Giấy phép khai thác về công suất hoặc trữ lượng. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thực hiện theo Giấy phép khai thác hiện hành và được điều chỉnh phù hợp khi Giấy phép khai thác thay thế có hiệu lực pháp luật.

Nguồn : (chinhphu.vn)

Hội thảo về xây dựng chương trình đào tạo quản lý mỏ

Ngày 3/12/2013, tại Trường Quản trị kinh doanh -Vinacomin đã diễn ra Hội thảo về xây dựng chương trình đào tạo quản lý mỏ. Đây là một trong những nội dung của chương trình đào tạo giữa Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng Sản Việt Nam và nhóm đối tác CHLB Đức (Chương trình TRAIN@ MINE) phối hợp tổ chức.

Tham dự hội thảo có đại diện một số ban liên quan của Tập đoàn (Ban Kỹ thuật công nghệ mỏ (KCM), Ban Tài Nguyên), đại điện Viện Khoa học công nghệ mỏ – Vinacomin, Công ty CP Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp – Vinacomin, Công ty than Nam Mẫu, Công ty Cổ phần than Hà Lầm, nhóm điều phối Train@Mine, nhóm đối tác CHLB Đức.

Hội thảo đã tập trung thảo luận về kế hoạch khai thác, cách thức tổ chức, lộ trình thực hiện, quản lý hoạt động, việc cấp giấy phép và các vấn đề pháp luật liên quan đến quá trình khai thác và chế biến khoáng sản.

Nằm trong khuôn khổ chương trình này, trong các ngày 4 và 5/12/2013 sẽ diễn ra hội thảo chuyên đề về xây dựng chương trình đào tạo quản lý môi trường và quản lý nước thải, chuyên đề xây dựng chương trình đào tạo an toàn lao động và Hội thảo tư vấn về nhóm chuyên đề về phát triển nguồn nhân lực, quản lý đào tạo, quản lý sự thay đổi.

Nguồn : (imsat.vn)

Minh bạch và hiệu quả trong khai thác tài nguyên khoáng sản

Sáng 3/12, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã tổ chức buổi tọa đàm trực tuyến: “Khai thác tài nguyên khoáng sản: minh bạch và hiệu quả”, nhằm giải đáp các khúc mắc của người dân, doanh nghiệp và bóc tách các vấn đề nóng của ngành. Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc chủ trì buổi tọa đàm, cùng dự có lãnh đạo Bộ Công Thương

Thực tế cho thấy, sự minh bạch trong quản trị doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực đều cần phải được nâng cao, đặc biệt trong khai thác tài nguyên khoáng sản. Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Linh Ngọc cho biết, hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công Thương và Bộ TN&MT để nâng cao tính minh bạch đối với ngành này.

Theo ông Nguyễn Mạnh Quân – Bộ Công Thương, nguyên nhân dẫn đến việc không minh bạch trong khai thác xuất phát từ công tác điều tra cơ bản để xác định tiềm năng khoáng sản còn bất cập. Công tác điều tra cơ bản về địa chất do Bộ TN&MT quy hoạch và kiểm duyệt. Tuy nhiên, so với nhu cầu của Bộ, việc điều tra cơ bản chỉ đáp ứng được 40% do nguồn vốn hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, Luật Khoáng sản mới yêu cầu huy động thêm vốn từ các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tiến độ lập quy hoạch có những điểm hạn chế do quy hoạch khoáng sản phức tạp. Nhiều khoáng sản có quy mô rộng lớn, nằm ở nhiều địa phương, do vậy, việc khai thác gặp nhiều phức tạp, khó khăn. Quy hoạch còn chồng lấn giữa Trung ương và địa phương. Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều mảng lớn do Trung ương cấp phép thì địa phương lách luật bằng cách chia nhỏ và cấp phép.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc, hiện nay, nhờ Luật Khoáng sản năm 2010 được thực thi, việc chia mỏ lớn thành mỏ nhỏ đã không còn. Cái khó nhất hiện nay là công tác điều tra cơ bản. Tất cả mọi thứ đều phải qua điều tra cơ bản, thăm dò xác định trữ lượng và được tỉnh hoặc Trung ương phê duyệt.
Song một thực trạng đang tồn tại là khi phát hiện ra một mỏ thì địa phương đề xuất điều tra nhưng do Trung ương không có kinh phí nên đã chuyển cho doanh nghiệp thực hiện. Trong khi đó, doanh nghiệp chỉ điều tra diện tích 1-2ha. “Để tránh hiện tượng chia nhỏ mỏ, phải yêu cầu doanh nghiệp điều tra cả diện tích lớn”, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc khẳng định.

Về việc một nửa trong số 957 giấy phép được địa phương cấp từ 2001-2012 không đúng quy định, Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc cho rằng, nguyên nhân là do luật không đầy đủ và sự nôn nóng của địa phương. Công tác tham mưu và tuyên truyền của Bộ TN&MT còn hạn chế. Nhận thức được điều này, đến nay, Bộ đã tăng cường công tác kiểm tra tuyên truyền để nâng cao năng lực quản lý.
Được biết, Bộ Công Thương không cấp phép xuất khẩu khoáng sản thô. Vừa qua, Chính phủ chấp thuận xuất khẩu

khoáng sản chủ yếu là giải pháp tình thế, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn. Bởi lẽ, khi các hộ sản xuất dư thừa rất nhiều quặng sắt, các doanh nghiệp khai khoáng tồn kho lớn, trước mắt không có nhu cầu sử dụng thì cho phép xuất khẩu, nhưng chỉ xuất hàng tồn kho. Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc cho biết, về lâu dài, chỉ có 10 loại khoáng sản được xuất khẩu.

Trao đổi về chế tài nào xử phạt những doanh nghiệp khai thác nhưng chưa thực hiện cam kết trách nhiệm xã hội. Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc phân tích, các doanh nghiệp không chấp hành nộp các khoản thu cho Nhà nước là do lỗi 2 phía. Lỗi doanh nghiệp là do ý thức, trách nhiệm của doanh nghiệp. Lỗi Nhà nước là chưa có chế tài nghiêm minh mang tính chất răn đe có tác dụng. Bên cạnh đó chưa có cơ chế đồng bộ để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm của mình.
Trong những năm gần đây, khai thác khoáng sản chịu nhiều ảnh hưởng của thay đổi cơ chế chính sách. Xuất khẩu khoáng sản thuế suất 0%, phí môi trường hầu như không có trong khi giờ đây mọi thứ đều tăng rất cao. Doanh nghiệp còn phải đóng tiền “cấp quyền khai thác khoáng sản”. Khoáng sản càng khai thác xuống sâu càng khó khăn thì chi phí càng cao. Do vậy, doanh nghiệp không còn nguồn để đóng góp cho trách nhiệm xã hội và buộc phải “trốn”. Ngoài ra, có những doanh nghiệp khai thác có lãi nhưng cũng trốn. Đó là do chế tài. Ở Việt Nam chưa bao giờ xử lý hình sự những trường hợp này.

Nguồn : (dgmv.gov.vn)

PTT Hoàng Trung Hải thăm thực địa trữ lượng bể than sông Hồng

Chiều 5/12, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã tới thăm thực địa một số điểm thăm dò, khảo sát thuộc Đề án Điều tra, đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền bể sông Hồng, tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Tại địa bàn huyện Tiền Hải, Tổng cục Địa chất (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã lựa chọn một số vị trí khu vực để khoan thử nghiệm, đảm bảo phù hợp với lộ trình Đề án. Các đơn vị cho biết kết quả khoan thăm dò được kết hợp với tài liệu địa chất, địa vật lý liên quan đến bể than Đồng bằng sông Hồng trước đây đã được tiến hành lưu trữ.

Đề án Điều tra, đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền bể sông Hồng nhằm điều tra, đánh giá làm rõ quy mô, quy luật phân bố, đặc điểm địa chất các tầng chứa than và các vỉa than, lấy mẫu phân tích chất lượng than, điều kiện địa chất thủy văn-địa chất công trình, nghiên cứu các loại mẫu khác phục vụ cho nghiên cứu cơ bản về địa chất… Sau khi kết thúc giai đoạn 1 sẽ tiến hành lập báo cáo tổng kết, đánh giá toàn diện về quy mô, chất lượng than, điều kiện địa chất thủy văn-địa chất công trình tầng chứa than, xem xét tính khả thi trong khai thác, sử dụng; sau đó mới đề xuất việc thiết kế, thi công giai đoạn 2.

Trong buổi làm việc, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng đã trao đổi với lãnh đạo tỉnh Thái Bình về một số công việc liên quan, trong đó có việc nâng cấp các tuyến giao thông phục vụ việc vận chuyển máy móc, thiết bị phục vụ Đề án.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Hội nghị công tác Lao động – Tiền lương Vinacomin năm 2013

Sáng ngày 13/12/2013, tại thành phố Hạ Long, Tập đoàn đã tổ chức Hội nghị công tác Lao động – Tiền lương. Dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn, Giám đốc (Phó giám đốc), Chủ tịch Công đoàn và Trưởng, phó phòng phụ trách LĐTL các đơn vị trực thuộc. Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Nguyễn Văn Biên chủ trì hội nghị.

Năm 2013 là năm nền kinh tế tiếp tục khó khăn do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến SXKD của Tập đoàn, nhất là công tác tiêu thụ. Tập đoàn đã có nhiều giải pháp nhằm ổn định sản xuất, đề nghị giảm thuế xuất khẩu nên đã đẩy mạnh được tiêu thụ, giải quyết khó khăn, đảm bảo việc làm, thực hiện hoàn thành kế hoạch tiêu thụ 39 triệu tấn than trong năm 2013, các lĩnh vực sản xuất điện, khoáng sản, hóa chất phát triển, doanh thu toàn Tập đoàn tăng 3-4% so với 2012. Đối với công tác Lao động – Tiền lương, Tập đoàn hướng dẫn các đơn vị thực hiện các thông tư, nghị định của Bộ LĐTB&XH về lao động tiền lương, các chế độ chính sách mới, Bộ Luật Lao động mới…, chỉ đạo thực hiện theo nguyên tắc tiền lương gắn với hiệu quả sản xuất, thực hiện tiết giảm chi phí theo chủ trương của Chính phủ, đảm bảo chế độ tiền lương cho người lao động đầy đủ, kịp thời, nhất là đối với thợ lò nhằm khuyến khích, tạo động lực để người lao động làm việc hiệu quả, gắn bó với doanh nghiệp, thúc đẩy tăng năng suất lao động.

Tại hội nghị, Tập đoàn đã triển khai xác định chi phí tiền lương thực hiện năm 2013 và hướng dẫn Quy chế quản lý Lao động – Tiền lương của Tập đoàn. Phó Tổng giám đốc Nguyễn Văn Biên yêu cầu các đơn vị quan tâm kiểm tra, rà soát xử lý thực hiện đúng các quy định về chế độ tiền lương, thực hiện công tác quyết toán tiền lương năm 2013 đảm bảo theo quy định, các vấn đề trong quá trình quyết toán, thực hiện Quy chế quản lý Lao động – Tiền lương mới của Tập đoàn cần đề xuất, trao đổi để thống nhất thực hiện đạt hiệu quả trong toàn Tập đoàn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Không cho phép bán quặng sắt các loại ra khỏi tỉnh Lào Cai

UBND tỉnh Lào Cai vừa có văn bản chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh về việc cung cấp khoáng sản làm nguyên liệu cho các nhà máy luyện kim trên địa bàn tỉnh

Khai thác quặng sắt tại mỏ sắt Quý Sa (Văn Bàn).

Theo đó, để đảm bảo nhu cầu sử dụng quặng sắt cung cấp cho Nhà máy Gang thép Lào Cai dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 12 năm 2013, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai đã ký văn bản số 4806, ngày 11/12/2013 chỉ đạo: từ năm 2014 không cho phép bán quặng sắt các loại ra khỏi tỉnh Lào Cai. Đối với những đơn vị có mỏ, có nhà máy chế biến khi bán, vận chuyển phải báo cáo UBND tỉnh.

UBND tỉnh yêu cầu Sở Công thương, các sở ngành liên quan, các huyện, thành phố tăng cường phối hợp kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc khai thác, tiêu thụ, vận chuyển quặng sắt trên địa bàn đảm bảo nguồn quặng sắt cho Nhà máy Gang thép Lào Cai.

Nguồn : (baolaocai.vn)

Vinacomin vững vàng trước sóng cả

“Cùng chia sẻ, chung sức vượt qua khó khăn” không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, mà chính suy nghĩ, nhận thức này của gần 14 vạn CBCNV đã giúp Tập đoàn bình tĩnh, kiên cường vượt qua khó khăn” – Tổng Giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên niềm tin và quyết tâm để lãnh đạo Tập đoàn có những chủ trương, quyết sách táo bạo, quyết liệt, phù hợp với từng thời điểm.

Bộn bề thách thức

Năm 2013 tiếp tục là một năm kinh tế khó khăn. Khủng hoảng, suy thoái kinh tế liên tiếp thời gian gần đây như một thứ vi rút lây lan giữa các nhóm ngành kinh tế, giữa các doanh nghiệp với một tốc độ khủng khiếp. Đi đến đâu cũng thấy khó, gặp ai cũng nghe than khó. Chẳng còn ai nhắc đến những dự tính làm ăn mới. Thay vào đó chỉ là làm thế nào để trụ lại được trong hoàn cảnh hiện nay. Mọi kế hoạch, dự báo của họ đều phải được suy tính hết sức cẩn trọng trong vòng xoáy khủng hoảng toàn cầu.

Thậm chí, cách đây không lâu, tờ New York Times đã phát một đoạn video ngắn về một hiện tượng mới nổi ở Mỹ. Đó là việc kinh tế suy thoái khiến ngày càng có nhiều người tìm đến những nhà chiêm tinh để hỏi về chuyện làm ăn… Người ta sẵn sàng trả 80 USD cho một “gợi ý” nhằm tìm cho mình một sự tự tin, một tia hy vọng để vượt qua thời khắc khó khăn.

Kinh tế Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Đặc biệt là với các doanh nghiệp của ngành Than – Khoáng sản. Do nhu cầu tiêu thụ than – khoáng sản trong nước cũng như thế giới sụt giảm mạnh nên công tác tiêu thụ than gặp rất nhiều khó khăn. Có thời điểm, như trong quý III, sau hai tháng áp dụng thuế xuất khẩu mới từ 10% lên 13%, sản lượng than xuất khẩu giảm 2 triệu tấn so với bình quân các tháng trước đó.
Trong khi đó, Tập đoàn của những người thợ mỏ giàu truyền thống phải đối mặt thách thức lớn khi mà giá thành sản xuất than ngày một tăng cao, tiệm cận với giá bán do điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu. Giá thành bình quân 1 tấn than của toàn Tập đoàn hiện nay khoảng 1,2 triệu đồng, nhưng thực tế có đơn vị chịu giá thành lên tới 200 USD/1 tấn than. Cùng với đó là gánh nặng từ thuế và phí khai thác khoáng sản. Với 8 loại thuế và phí, hiện mỗi tấn than xuất khẩu có thuế và phí chiếm 30% giá thành, còn với than tiêu thụ trong nước, con số này chiếm 20%.

Những yếu tố này đặt Vinacomin vào tình thế nhiều khả năng không đạt được cả mục tiêu đảm bảo việc làm, thu nhập cho cán bộ công nhân viên cũng như tăng thu ngân sách cho Nhà nước. Khó cân đối tài chính còn dẫn tới việc Vinacomin không đủ “sức” để tiếp tục tái đầu tư cho sản xuất nhằm đáp ứng sản lượng than cho nền kinh tế theo Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Siết chặt kỷ luật điều hành SXKD

Năm 2013 nhiều khó khăn nhưng cũng chính là năm ghi nhận sự năng động, quyết tâm và ý chí vượt khó của CBCNV toàn Tập đoàn. Để cán bộ công nhân hiểu được những khó khăn, có thái độ và hành động ứng xử đúng, Đảng ủy, Hội đồng thành viên, Ban điều hành Tập đoàn đã có nghị quyết để quán triệt trong đảng viên, CNCB từ cơ quan Tập đoàn cho đến các đơn vị thành viên; đồng thời phân công lãnh đạo đến từng đơn vị để tuyên truyền tới cán bộ, đảng viên, thợ lò và người lao động. Thực tế trên cũng “buộc” Tập đoàn phải giảm sản lượng, cắt giảm quyết liệt chi phí và những hạng mục đầu tư chưa thực sự cấp bách, san sẻ việc làm, giảm thu nhập…

Tập đoàn cũng đồng thời triển khai nhiều giải pháp điều hành linh hoạt, tập trung vào mũi nhọn nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm… Chủ tịch HĐTV Trần Xuân Hòa chỉ đạo công tác điều hành, sản xuất phải gắn với tiêu thụ sản phẩm, giảm tồn kho, các đơn vị trong Tập đoàn cần có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất để giảm bớt khó khăn nhưng phải đảm bảo chất lượng và giá cả cạnh tranh. Chủ tịch yêu cầu triển khai đề án tái cơ cấu Tập đoàn theo Quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 7/2/2013 của Chính phủ đúng tiến độ nhằm giám sát chặt chẽ việc quản lý vốn ngân sách, kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp, tinh giản bộ máy quản lý, lao động, nâng cao hiệu quả SXKD của Tập đoàn.

Bám sát diễn biến thị trường, từ đó đưa ra những giải pháp quản lý, điều hành quyết liệt, kịp thời; Tập đoàn còn rất tích cực, năng động báo cáo, kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành và phối hợp với tỉnh Quảng Ninh nhằm tháo gỡ khó khăn về thuế, phí, tài nguyên, nhất là vấn đề giá bán than. Hiện tại, thuế suất xuất khẩu than đã được điều chỉnh giảm về mức 10%, giá than cho điện điều chỉnh bằng 100% giá thành sản xuất từ đầu tháng 8, giúp tháo gỡ phần nào khó khăn cho Vinacomin… Lãnh đạo Tập đoàn cũng đã chủ động đề ra nhiều “kịch bản” cho kế hoạch SXKD năm nay. Cuối cùng chốt lại ở phương án hoàn thành tiêu thụ 39 triệu tấn than. Mục tiêu cao nhất là ổn định việc làm cho người lao động, kể cả phải chấp nhận than tồn kho lớn hơn dự kiến.

Những tháng cuối năm, Tập đoàn yêu cầu các đơn vị tiếp tục kiểm soát chặt chẽ sản xuất, tập trung đào lò, củng cố thiết bị; đẩy mạnh tiêu thụ những loại than còn đang tồn kho lớn; khuyến khích các đơn vị tăng sản lượng tiêu thụ so với kế hoạch điều hành đồng thời ưu tiên tiêu thụ than của các đơn vị có giá thành thấp, nhằm đảm bảo cân đối tài chính trong Tập đoàn; tập trung kiểm tra, đôn đốc công tác an toàn; tiếp tục phối hợp với các cơ quan địa phương thực hiện tốt quản lý khai thác, bảo vệ ranh giới mỏ, đảm bảo an ninh trong quản lý khai thác, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ than.

Đồng thuận cao, thi đua lao động giỏi, về đích đúng hẹn

“Cùng chia sẻ, chung sức vượt qua khó khăn” không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, mà chính suy nghĩ, nhận thức này của gần 14 vạn CBCNV đã giúp Tập đoàn bình tĩnh, kiên cường vượt qua khó khăn” – Tổng Giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên niềm tin và quyết tâm để lãnh đạo Tập đoàn có những chủ trương, quyết sách táo bạo, quyết liệt, phù hợp với từng thời điểm.

Chính vì vậy, đến thời điểm này, Vinacomin đã cơ bản hoàn thành kế hoạch năm 2013. Tất cả các lĩnh vực SXKD chính từ sản xuất than, khoáng sản, hoá chất, cơ khí, điện lực… đều đạt các chỉ tiêu đề ra từ đầu năm. Đặc biệt, Nhà máy Alumin Tân Rai thuộc tổ hợp Bauxit Nhôm Lâm Đồng đã chạy thử đạt 100% công suất. Về chất lượng sản phẩm, qua kiểm tra đạt độ tinh khiết 98,6% đảm bảo xuất khẩu. Với tình hình chạy thử ổn định và đạt công suất thiết kế này, trong một thời gian ngắn nữa, nhà thầu sẽ tiến hành bàn giao đi vào sản xuất ổn định. Bên cạnh đó, các dự án trọng điểm và công trình lớn như dự án Alumin Nhân Cơ, Khu Liên hợp gang thép Cao Bằng, điều chỉnh khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Dự án chế biến quặng Cromit, Dự án mở rộng đồng Sin Quyền… cũng đang được triển khai tích cực, đảm bảo tiến độ.

Cuối tháng 12, dọc đường tác nghiệp, phóng viên Tạp chí Vinacomin liên tiếp ghi nhận được những thông tin hết sức vui mừng: hầu hết các đơn vị trong Tập đoàn đã “vượt bão” thành công, hoàn thành tốt kế hoạch năm 2013, hoạt động sản xuất kinh doanh không những được duy trì tốt, mà còn đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động. Càng vui mừng hơn nữa, khi nhiều đơn vị không những cán đích thành công, mà hơn thế, một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh còn đạt và vượt kế hoạch đặt ra từ đầu năm. Có thể kể tới một số đơn vị như: Than Hòn Gai, Núi Béo,… Thậm chí, trong khó khăn, nhiều đơn vị còn thực hiện vượt kế hoạch phối hợp SXKD đầu năm. Chẳng hạn, Than Hà Lầm đạt 130% kế hoạch đào lò xây dựng cơ bản…

Dẫu rằng phía trước còn nhiều thách thức, cũng như có nhiều việc cần phải giải quyết, nhất là bài toán về an toàn lao động. Song điều không ai có thể phủ nhận là Vinacomin đã có một năm vững vàng trước sóng cả. Tin rằng, “truyền thống vượt khó, kỷ luật đồng tâm và tinh thần lao động sáng tạo của những người thợ mỏ ngành Than – Khoáng sản, sẽ là sức mạnh gắn kết tạo lực đẩy để Vinacomin tiếp tục duy trì SXKD ổn định và sẵn sàng cho những bước phát triển đột phá trong thời gian tới…

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Vinacomin: Mở rộng thị trường tiêu thụ

Dự báo còn nhiều khó khăn phía trước, nhưng Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã đưa ra các nhóm giải pháp cụ thể để thực hiện thành công kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 2014.

CôngThương – Nhiều chính sách thu hút khách hàng
Năm 2013, mặc dù công tác tiêu thụ nội địa và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do các hộ mua than giảm mạnh khối lượng so với hợp đồng đã ký, “cung” vượt “cầu,” tiêu thụ than thế giới và Trung Quốc vẫn giảm sút, chưa phục hồi nên sản lượng xuất khẩu và giá xuất khẩu chưa được cải thiện.

Tuy nhiên, Vinacomin đã có nhiều cơ chế khuyến khích, linh hoạt và mềm dẻo để thu hút khách hàng, đặc biệt quan tâm đến các khách hàng tiềm năng. Thông qua các hội nghị gặp mặt khách hàng, Vinacomin đã có những khảo sát tổng thể, đánh giá lại nhu cầu, từ đó có những tính toán và lên phương án tiêu thụ than trong nước sát hơn với nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, sự phối kết hợp giữa các đơn vị chế biến kinh doanh than, tuyển than, kho vận… đã có nhiều chuyển biến tích cực, hầu hết các vướng mắc đều được các bên giải quyết ngay, khiếu kiện trong nội bộ đã giảm đáng kể…

Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn:
Để chuẩn bị cho công tác sản xuất tiêu thụ than năm 2014, Vinacomin đã ký hợp đồng phối hợp kinh doanh với các đơn vị. Đồng thời, các đơn vị đã ký hợp đồng liên kết phối hợp sản, xuất kinh doanh với nhau.
Mở rộng thị trường tiêu thụ

Theo đánh giá của Vinacomin, năm 2014, dự báo tình hình tiêu thụ than chưa có nhiều khả quan. Tuy nhiên, với mục tiêu “An toàn – Đổi mới – Hiệu quả – Phát triển”, tập đoàn đã xây dựng kế hoạch với những nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn để thực hiện thành công các chỉ tiêu đề ra. Cụ thể: Tổng doanh thu 105,5 ngàn tỷ đồng, lợi nhuận 2.000 tỷ đồng, than tiêu thụ 35 triệu tấn, tiền lương bình quân 7,9 triệu đồng/người/tháng và 8,2 triệu đồng/người/tháng. Vinacomin sẽ tập trung ổn định sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, tăng cường quản trị chi phí, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ, đảm bảo tiến độ công trình …

Ông Nguyễn Văn Biên cho rằng, để ổn định sản xuất, các đơn vị, đặc biệt là các công ty kinh doanh than cuối nguồn cần tiếp tục chia sẻ với công nhân mỏ – những người đảm nhận khâu đầu khai thác than đang phải chịu rất nhiều áp lực, khó khăn. Đồng thời, các đơn vị cần tăng cường, chủ động tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chế biến sâu để nâng cao giá trị. Đặc biệt, bằng nhiều biện pháp giữ chân khách hàng truyền thống và nỗ lực mở rộng thị trường tiêu thụ than.
Ông Lê Minh Chuẩn – Tổng Giám đốc Vinacomin – khẳng định, năm 2014, ngành than sẽ chú trọng các vấn đề đầu tư, củng cố hệ thống quản lý than, cũng như triển khai các dự án trọng điểm để hoạt động sản xuất – kinh doanh có hiệu quả. “Với sự chuẩn bị kế hoạch kỹ lưỡng và sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của những người thợ mỏ, Vinacomin đang sẵn sàng bước vào năm mới với không ít thách thức phía trước” – ông Chuẩn dự báo.

Nguồn : (baocongthuong)

Quy định chi tiết từng loại công ty cổ phần

Những quy định về công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp (DN) năm 2005 khá nhiều và chi tiết, nhưng vẫn chưa đủ, có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn quản lý DN.

CôngThương – Luật DN năm 2005 đã dành Chương IV (từ Điều 77 đến Điều 129) quy định khá chi tiết về những vấn đề quan trọng của công ty cổ phần như: Cổ phần, cổ đông, đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát… Điều đó là cần thiết, tất yếu. Bởi, công ty cổ phần là loại hình DN có khá nhiều lợi thế trong huy động vốn và việc quản lý, điều hành công ty cổ phần phức tạp hơn so với các loại hình DN khác. Tuy nhiên, những quy định của Luật DN năm 2005 vẫn chưa đủ, có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn quản lý DN.

Trong thực tế ở nước ta và nhiều nước phát triển trên thế giới, đã xuất hiện các loại công ty cổ phần khác nhau tùy thuộc mức độ “xã hội hóa” của các cổ đông. Có thể tạm chia ra: Công ty cổ phần nội bộ – các cổ đông đều trong một gia đình, dòng tộc; công ty cổ phần mở rộng – các cổ đông không còn giới hạn trong phạm vi một gia đình, dòng tộc nhưng chưa phải là công ty cổ phần đại chúng; công ty cổ phần đại chúng nhưng chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán; công ty cổ phần có lợi ích công cộng – đã đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Trong thực tế ở nước ta và nhiều nước phát triển trên thế giới, đã xuất hiện các loại công ty cổ phần khác nhau tùy thuộc mức độ “xã hội hóa” của các cổ đông. Mối quan hệ giữa các cổ đông, cơ cấu tổ chức và yêu cầu quản lý có sự khác nhau rất cơ bản giữa các loại công ty cổ phần.

Mối quan hệ giữa các cổ đông, cơ cấu tổ chức và yêu cầu quản lý có sự khác nhau rất cơ bản giữa các loại công ty cổ phần nêu trên. Chẳng hạn, theo quy định của Luật DN 2005, công ty cổ phần phải có tối thiểu 3 cổ đông. Và một gia đình gồm bố, con trai và con dâu cùng góp vốn thành lập công ty cổ phần thì ranh giới giữa đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị không còn trên thực tế. Khi đó, những quy định về triệu tập đại hội đồng cổ đông, về ban kiểm soát cũng không có ý nghĩa trong quản lý công ty. Về yêu cầu quản lý công ty cũng tương tự.
Để bảo đảm sự minh bạch trong quản lý công ty cổ phần, Luật DN quy định thành viên ban kiểm soát “không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và người quản lý khác”. Quy định này chỉ có giá trị về lý thuyết đối với công ty cổ phần nội bộ. Thực tế đã có công ty cổ phần có đến 12 cổ đông. nhưng tất cả đều là người trong nhà gồm: Bố, mẹ, con trai, con gái, con dâu, con rể. Công ty cũng thành lập ban kiểm soát nhưng đều là các cổ đông và ban kiểm soát chủ yếu kiểm soát hoạt động của những người làm công, ăn lương trong công ty. Luật Kế toán cũng quy định kế toán trưởng công ty cổ phần không được là người có liên quan của hội đồng quản trị, giám đốc và ban kiểm soát. Song, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty cổ phần nội bộ có quy mô khá lớn khẳng định rằng, ông không thể chấp nhận quy định đó.
Vì những lý do trên, đề nghị Luật DN sửa đổi tới đây cần quy định chi tiết hơn về từng loại công ty cổ phần. Có thể chia công ty cổ phần thành 3 loại hình, có sự khác nhau cơ bản gồm: Công ty cổ phần nội bộ; công ty cổ phần mở rộng (bao gồm cả công ty cổ phần đại chúng nhưng chưa đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán) và công ty cổ phần có lợi ích công cộng (đã đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán). Từ sự phân biệt một cách cơ bản đó của Luật DN, các luật khác có liên quan như Luật Kế toán, Luật Chứng khoán… sẽ sửa đổi những yêu cầu quản lý tương ứng cho phù hợp.

Nguồn : (Báo công thương)

Vinacomin ký hợp đồng phối hợp kinh doanh năm 2014

Sáng 20/12, tại Quảng Ninh, Vinacomin đã tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch và ký hợp đồng phối hợp kinh doanh năm 2014.

Theo báo cáo của Phó Tổng giám đốc Vinacomin Nguyễn Văn Biên, ngành Than – Khoáng sản Việt Nam vừa bước qua năm 2013 – một năm với nhiều khó khăn và thách thức. Tuy nhiên, với sự đồng lòng, phát huy truyền thống quý báu “Kỷ luật và đồng tâm” của những người thợ mỏ, Vinacomin đã từng bước vượt khó, cơ bản các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh đều hoàn thành theo kế hoạch.

Đồng thời, Phó Tổng Giám đốc cũng nhấn mạnh mục tiêu của Vinacomin trong năm 2014 là “An toàn – Đổi mới – Hiệu quả – Phát triển”, do đó, Tập đoàn đã xây dựng kế hoạch với những nhóm giải pháp cụ thể. Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chính Vinacomin đặt ra trong năm 2014 là: tổng doanh thu 105,5 ngàn tỷ đồng, lợi nhuận 2.000 tỷ đồng, than tiêu thụ 35 triệu tấn, tiền lương bình quân 7,9 triệu đồng/người/tháng và 8,2 triệu đồng/người/tháng (đối với sản xuất than). Vinacomin sẽ tập trung ổn định sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, tăng cường quản trị chi phí, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ, đảm bảo tiến độ công trình; tiếp tục nâng cao hiệu quả các mặt quản lý…

Cũng tại Hội nghị, Tổng Giám đốc Lê Minh Chuẩn đã lần lượt ký hợp đồng phối hợp kinh doanh năm 2014 với các đơn vị và một số đơn vị đã ký hợp đồng phối hợp sản xuất kinh doanh với nhau.

Kết luận Hội nghị, Tổng Giám đốc Lê Minh Chuẩn tổng kết lại các vấn đề liên quan đến việc triển khai kế hoạch 2014 đã được đưa ra tại Hội nghị như vấn đề đầu tư, củng cố hệ thống quản lý than, triển khai các dự án trọng điểm… Tổng Giám đốc khẳng định, với sự chuẩn bị kế hoạch kỹ lưỡng, với sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của những người thợ mỏ, Vinacomin đang sẵn sàng bước vào năm mới – năm 2014 với không ít thách thức phía trước.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam

Chính phủ vừa ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV).
Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (viết tắt bằng tiếng Việt là TKV, viết tắt tiếng Anh là VINACOMIN) là Công ty mẹ của Tập đoàn các công ty TKV, do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên theo Quyết định số 989/QĐ-TTg ngày 25/6/2010của Thủ tướng Chính phủ.

Ngành, nghề kinh doanh chính của TKV là khảo sát, thăm dò, đầu tư, xây dựng, khai thác, vận tải, sàng tuyển, chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm than, khí mỏ, nước ngầm ở mỏ và các khoáng sản khác đi cùng với than; khảo sát, thăm dò, đầu tư, xây dựng, khai thác, vận tải, sàng tuyển, làm giàu quặng, luyện kim, gia công, chế tác, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm khoáng sản; sản xuất, mua, bán, dự trữ, sử dụng, xuất nhập khẩu các loại vật liệu nổ công nghiệp và nitơrat amôn; đầu tư, xây dựng, sản xuất điện; mua, bán điện.

Vốn điều lệ của TKV đến năm 2015 là 35 nghìn tỷ đồng.
Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của TKV gồm có: Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng; bộ máy giúp việc. Hội đồng thành viên của TKV có 7 thành viên, trong đó có một thành viên là Chủ tịch Hội đồng thành viên. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng thành viên không quá 5 năm. Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại.

TKV có 27 đơn vị trực thuộc công ty mẹ Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; 7 đơn vị sự nghiệp; 17 công ty TNHH một thành viên TKV nắm giữ 100% vốn điều lệ; 36 công ty cổ phần TKV nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc nắm quyền chi phối khác; 7 công ty TKV nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Môi trường để thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành

Thực hiện các phong trào “Thanh niên lập nghiệp – Tuổi trẻ giữ nước”, “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”…, trong những năm qua, Đoàn Than Quảng Ninh đã cụ thể hóa các phong trào sát với thực tế của ngành và chỉ đạo, tổ chức đạt hiệu quả cao. Thông qua các phong trào là môi trường để đoàn viên thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.

Đoàn Than Quảng Ninh là một đoàn cấp trên cơ sở tương đương cấp huyện có tính chất đặc thù do số lượng đoàn viên, số lượng cơ sở đoàn trực thuộc lớn nhất Tỉnh đoàn Quảng Ninh cũng như trong toàn quốc, do vậy có vai trò quan trọng trong các phong trào thanh niên của tỉnh. Đối với ngành Than, đoàn viên thanh niên có mặt ở hầu hết các lĩnh vực, có trình độ, tay nghề, sức khỏe, tinh thần xung kích, sáng tạo, luôn là lực lượng nòng cốt trong sản xuất và các hoạt động của các đơn vị.

Trong những năm vừa qua, BTV Đoàn Than Quảng Ninh đã bám sát chỉ đạo của cấp ủy Đảng và nhiệm vụ SXKD của Tập đoàn, cụ thể hóa các phong trào sát với thực tế của ngành để chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác Đoàn và phong trào thanh niên đạt hiệu quả cao. Một trong các lĩnh vực hoạt động hiệu quả của Đoàn Than Quảng Ninh là xung kích trong lao động sản xuất thông qua các mô hình tập hợp đoàn kết thanh niên như: mô hình công trường, phân xưởng, tổ đội, đầu xe máy thanh niên quản lý. Việc đăng ký thực hiện với mục tiêu đạt năng suất cao, năng suất kỷ lục đã góp phần tích cực hoàn thành vượt mức kế hoạch năm, nhiều công trường, phân xưởng, tổ đội, đầu xe đạt kỷ lục đã được Tập đoàn và các đơn vị tuyên dương khen thưởng. Tiêu biểu là Công trường Trụ Đông – Đoàn TN than Hà Tu; Công trường vỉa 14 – Đoàn TN than Núi Béo; Phân xưởng Thanh niên khai thác 7 – Đoàn TN than Vàng Danh; Đội đào lò nhanh Chi đoàn K5 – Đoàn TN than Vàng Danh …

Ngoài ra các cơ sở Đoàn đã duy trì và phát huy mô hình “Công trình thanh niên” với việc xung kích đảm nhận và hoàn thành hàng trăm công trình trọng điểm đảm bảo an toàn, tiến độ, chất lượng, mang lại hiệu quả trong sản xuất của các đơn vị. Trong phong trào tiến quân vào khoa học kỹ thuật là các mô hình “Ban Khoa học kỹ thuật trẻ”, “Tổ hỗ trợ sáng kiến” đã phát huy tính sáng tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lực lượng ĐVTN, nhiều đề tài khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã góp phần giải quyết các khó khăn, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất. Các mô hình phong trào “Đoàn kết 3 lực lượng”, “Đội thanh niên xung kích”… cũng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Tại Hội nghị tuyên dương mô hình thanh niên quản lý tiêu biểu và thợ trẻ lao động giỏi, thu nhập cao do Đoàn Than Quảng Ninh tổ chức nhân kỷ niệm 45 năm ngày Bác Hồ gặp đoàn đại biểu công nhân, cán bộ ngành Than (15/11/1968-15/11/2013) đã có 45 mô hình Thanh niên quản lý tiêu biểu và 33 thợ trẻ lao động giỏi, thu nhập cao được tuyên dương, khen thưởng.

Chúc mừng thành tích của các tập thể và các thợ trẻ lao động giỏi, thu nhập cao, đồng chí Lê Minh Chuẩn – Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Vinacomin đã đánh giá cao hoạt động của Đoàn Than Quảng Ninh đồng thời ghi nhận và biểu dương thành tích của các tập thể và các đoàn viên thanh niên tiêu biểu. Tổng giám đốc nhấn mạnh tổ chức Đoàn và lực lượng ĐVTN đã đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển Tập đoàn, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn hiện nay. Tổng giám đốc cũng đề nghị tổ chức Đoàn tiếp tục nhân rộng, phát triển các mô hình đạt hiệu quả cao hơn, quy mô lớn hơn, tập trung vào các lĩnh vực như đầu tư xây dựng mỏ, cơ giới hóa khai thác hầm lò, khoa học kỹ thuật, an toàn, môi trường… vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ và sự phát triển bền vững của Tập đoàn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Quý 1 phấn đấu đạt 27% kế hoạch năm

Đó là chỉ đạo của Tổng Giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn tại Hội nghị giao ban trực tuyến điều hành sản xuất tháng 1, quý 1 năm 2014 giữa các đầu cầu Hà Nội, Lâm Đồng, Đăk Nông, Hà Tĩnh và 3 vùng tại Quảng Ninh diễn ra ngày 31/12/2013.

Theo đó, tháng 1/2013, toàn Tập đoàn sẽ phấn đấu sản xuất và tiêu thụ 3,5 triệu tấn than, trong đó: tiêu thụ trong nước 2,75 triệu tấn, xuất khẩu 0,75 triệu tấn than sạch; bóc đất 15 triệu mét khối, đào 24 ngàn mét lò các loại v.v. Phấn đấu kết thúc quý 1 sẽ đạt trên 27% kế hoạch năm 2014 (35 triệu tấn than). Tổng Giám đốc Lê Minh Chuẩn cũng chỉ đạo các đơn vị cần bám sát nhiệm vụ, tận dụng thời tiết thuận lợi đẩy mạnh sản xuất vì quý 1 rơi vào tháng nghỉ Tết nguyên đán. Ngoài ra, các sản phẩm như alumin, vật liệu nổ công nghiệp, điện cũng sẽ được sản xuất ổn định ngay từ tháng đầu, quý đầu năm 2014.

Trong tháng 12 vừa qua, toàn Tập đoàn đã sản xuất 3,7 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ 4,4 triệu tấn, đạt doanh thu than 6.500 tỷ đồng. Nhiều sản phẩm quan trọng như đồng tấm, alumin, tinh quặng sắt, vật liệu nổ, điện… sản xuất tốt, góp phần ổn định đời sống việc làm và thu nhập cho người lao động.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

TKV gặp mặt đầu xuân Giáp Ngọ

Sáng 06/2 (mùng 7 Tết Giáp Ngọ), ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam đã tổ chức cầu truyền hình trực tiếp gặp mặt đầu xuân Giáp Ngọ tại 7 điểm cầu: Hà Nội, Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Lâm Đồng, Đăk Nông và Hà Tĩnh. Đồng chí Trần Xuân Hòa – Chủ tịch HĐTV, đồng chí Lê Minh Chuẩn – Tổng Giám đốc cùng đông đảo lãnh đạo, CBCNV Tập đoàn và giám đốc các đơn vị thành viên đã tham dự.

Tại buổi gặp mặt, Tổng Giám đốc Lê Minh Chuẩn đã gửi lời chúc mừng năm mới – Xuân Giáp Ngọ tới toàn thể CBCNV trong Tập đoàn, đồng thời thể hiện quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu sản xuất kinh doanh năm 2014. Tổng Giám đốc nhấn mạnh: TKV sẽ tiếp tục đổi mới và phát triển, tăng cường hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Tổng Giám đốc cũng bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành Trung ương và địa phương, các Quý khách hàng đã luôn đồng hành cùng TKV trong các giai đoạn xây dựng và phát triển.

Cũng trong ngày làm việc đầu tiên của Xuân Giáp Ngọ, các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn đã đến thăm, chúc mừng năm mới và động viên CBCNV các đơn vị trong Tập đoàn tiếp tục nỗ lực phấn đấu vì sự phát triển bền vững của TKV, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ giao phó.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Năm 2013, TKV chi 33 tỷ đồng hỗ trợ cho ba huyện nghèo theo NQ 30a

Năm 2013, TKV tiếp tục hỗ trợ cho 3 huyện Mèo Vạc – Hà Giang, Ba Bể – Bắc Kạn, Đam Rông – Lâm Đồng với tổng số tiền 33 tỷ đồng (11 tỷ đồng/huyện) để triển khai các công trình xây dựng trường học, trạm y tế, mua sắm các trang thiết bị y tế và giáo dục. Theo báo cáo tổng hợp, tính đến hết năm 2013 đã giải ngân xong cho 3 huyện.

Đây là hoạt động đầy ý nghĩa được ngành Than – Khoáng sản Việt Nam duy trì đều đặn nhiều năm nay và đã tạo được những hiệu ứng tích cực. Với quan điểm sẽ song hành hai nhiệm vụ: vừa đầu tư phát triển kinh doanh vừa thể hiện trách nhiệm xã hội với cộng đồng, trong năm 2014, TKV sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội từ thiện, chung tay, góp phần cùng xã hội chia sẻ với những gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Chấn chỉnh công tác khai báo điều tra tai nạn, sự số

Nhằm rút kinh nghiệm và quản lý tốt công tác an toàn lao động, giảm thấp nhất những sự cố, tai nạn lao động, trong năm 2014, Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị khai báo nghiêm túc, kịp thời và chính xác các vụ sự cố, tai nạn.

Theo đó, ngoài việc phải báo cáo các cấp có thẩm quyền những vụ sự cố, tai nạn lao động kịp thời và chính xác, giám đốc các đơn vị còn phải có trách nhiệm công khai, giải thích rõ nguyên nhân để xảy ra sự cố, tai nạn lao động, đồng thời giải quyết thoả đáng quyền lợi của người lao động khi bị xảy ra sự cố tai nạn. Lãnh đạo mà trực tiếp là giám đốc các đơn vị phải chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc Tập đoàn và trước pháp luật nếu thực hiện sai quy định, hoặc để có đơn thư khiếu kiện về công tác an toàn vệ sinh lao động. Ngoài ra, Tập đoàn cũng yêu cầu các đơn vị quan tâm hơn nữa đến công tác khám chữa bệnh và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro xảy ra trong lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp v.v. Các đơn vị xây dựng các phương án thủ tiêu sự cố cụ thể trình Tập đoàn phê duyệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc để phấn đấu trong năm 2014 giảm 10% các loại tai nạn lao động so với năm 2013, phấn đấu triệt tiêu các vụ sự cố, tai nạn lao động nặng.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

34 đơn vị được tặng bằng khen trong công tác Vì sự tiến bộ phụ nữ

Sáng ngày 3/3/2014, tại Quảng Ninh, Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 104 năm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và tổng kết công tác Vì sự tiến bộ phụ nữ năm 2013. Tới dự có đồng chí Trịnh Thanh Hằng – Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Nữ công Tổng LĐLĐ Việt Nam; lãnh đạo Hội LHPN Việt Nam; lãnh đạo LĐLĐ, Hội LHPN tỉnh Quảng Ninh; đồng chí Ngô Hoàng Ngân – Phó TGĐ, Trưởng ban VSTBPN Tập đoàn, Bí thư Đảng ủy Than QN; đồng chí Đỗ Đình Hiền – Chủ tịch Công đoàn TKV; lãnh đạo Đoàn TQN; các đồng chí Trưởng ban VSTBPN, Chủ tịch Công đoàn, Trưởng ban Nữ công và nữ CNVC xuất sắc của các đơn vị.

Trong năm 2013, thực hiện phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ Tập đoàn và các đơn vị đã triển khai thực hiện, cụ thể hóa các hoạt động đạt kết quả tốt. Với số lượng 26.200 người, chiếm 19%, nữ CNVC-LĐ trong Tập đoàn đã phát huy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, lao động sáng tạo, thực hiện 389 sáng kiến và 405 công trình nữ công, tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, giúp đỡ nữ CNVC khó khăn, hoạt động văn hóa thể thao, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng, giữ gìn hạnh phúc gia đình… Đồng thời, được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp trong Tập đoàn, nữ CNVC đã tích cực học tập, nâng cao trình độ, nhiều chị được quy hoạch, đề bạt giữ các chức vụ quản lý, đảng, đoàn thể, tích cực tham gia các hoạt động bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ…

Phát biểu tại hội nghị, các đồng chí lãnh đạo Tổng LĐLĐ Việt Nam, lãnh đạo Tập đoàn đã biểu dương và đánh giá cao hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ và các phong trào nữ CNVC của Tập đoàn. Đồng chí Ngô Hoàng Ngân – Phó TGĐ, Trưởng ban VSTBPN Tập đoàn, Bí thư Đảng ủy Than QN gửi lời chúc mừng nữ CNVC nhân ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và nhấn mạnh nữ CNVC-LĐ Tập đoàn có vai trò quan trọng trong sản xuất và giữ gìn hạnh phúc gia đình, trong năm 2014 Ban VSTBPN Tập đoàn và Công đoàn TKV tiếp tục phối hợp thực hiện tốt các hoạt động chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của lao động nữ, đảm bảo việc làm, thu nhập, các chế độ chính sách, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nữ CNVC.

Nhân dịp này, Ban Nữ công Công đoàn Công ty than Hòn Gai được Tổng LĐLĐ Việt Nam đã tặng cờ thi đua đã có thành tích xuất sắc trong phong trào ““Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; Ban Nữ công Công đoàn TKV và 2 Ban Nữ công Công đoàn cơ sở được tặng bằng khen của Tổng LĐLĐ Việt Nam; Trung ương Hội LHPN Việt Nam tặng Kỷ niệm chương “Vì sự phát triển của phụ nữ Việt Nam” cho 8 cá nhân thuộc Tập đoàn; Tổng giám đốc Vinacomin tặng bằng khen cho 34 đơn vị, 6 cá nhân có thành tích trong công tác vì sự tiến bộ phụ nữ năm 2013.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Vinacomin chuẩn bị chào bán cổ phần lần đầu ba tổng công ty lớn

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản (Vinacomin) dự kiến sẽ bán đấu giá cổ phần ba tổng công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực điện lực, công nghệ mỏ và khoáng sản vào quý IV năm nay.

Theo kế hoạch, ngày 31-3 tới, Tập đoàn sẽ xác định xong giá trị doanh nghiệp ba tổng công ty lớn bao gồm: Tổng Công ty Ðiện lực, Công nghiệp mỏ Việt Bắc và Khoáng sản. Dự kiến, cuối tháng 9, sẽ hoàn thành phương án chào bán cổ phần lần đầu (IPO) để tiến hành đấu giá. Năm 2015, ba đơn vị này sẽ chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Vinacomin đang đàm phán bán cổ phần với các đối tác chiến lược trong và ngoài nước để lựa chọn đối tác phù hợp và báo cáo Chính phủ phê duyệt.

Điều chỉnh lãi suất cho vay ngắn hạn trong nội bộ Tập đoàn

Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Nguyễn Văn Biên vừa ký quyết định về việc điều chỉnh lãi suất cho vay ngắn hạn trong nội bộ Tập đoàn.

Theo đó, kể từ ngày 01/4/2014, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND từ nguồn vốn nhàn rỗi của Tập đoàn và/hoặc từ Công ty Tài chính – TKV (có nguồn gốc từ nguồn vốn uỷ thác của Tập đoàn) là 6,0%/năm.