rèm cửa tphcm

rèm cửa sổ

rèm vải

rèm cuốn

rèm roman

rèm văn phòng

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

rèm cầu vồng

Rèm vải phòng khách

rèm vải chống nắng

Rèm cửa sổ

Rèm vải

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cuốn

Rèm văn phòng

Rèm gia đình

Rèm cầu vồng

Rèm sáo gỗ

Rèm sáo nhôm

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cầu vồng

Rèm cuốn

Rèm gỗ

Rèm lá dọc

màn cửa đẹp

rèm vải

rèm gia đình

rèm văn phòng

rèm cầu vồng

rèm cuốn

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

màn cửa hcm

màn cửa

màn vải

màn cuốn

màn cầu vồng

màn cầu vồng

màn cửa

màn vải đẹp

rèm cửa tphcm

rèm động cơ

rèm cuốn

rèm vải phòng khách

rèm vải phòng ngủ

rèm cầu vồng

rèm sáo

rèm nhôm

rèm roman

rèm sáo gỗ

rèm gỗ màu đen hà nội

rèm roman chống nắng hà nội

rèm vải cản nắng chống cháy

rèm cuốn chống cháy

rèm y tế kháng khuẩn

rèm cầu vồng kháng khuẩn

rèm cuốn in tranh trường học

rèm sáo nhựa giả gỗ

rèm cuốn không cẩn khoan tường

rèm phòng tắm giá rẻ

rèm cuốn xuyên sáng nhà hàng

rèm cửa

rèm cửa

Author Archives: khoahx

Vinacomin khai mạc giải bóng chuyền nam phong trào năm 2013

Sáng 16/7, tại nhà thi đấu thể thao Công ty CP than Đèo Nai, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã tổ chức khai mạc giải bóng chuyền nam phong trào năm 2013.

Giải bóng chuyền nam Vinacomin năm 2013 quy tụ 11 đội bóng được đánh giá là ngang sức ngang tài đến từ các công ty, đơn vị thuộc Tập đoàn. Các đội bốc thăm chia 3 bảng, thi đấu theo thể thức vòng tròn tính điểm, chọn đội nhất và nhì có số điểm cao nhất ở các bảng vào thi đấu vòng tiếp theo.

Giải đấu là cơ hội tốt để các đội tuyển bóng chuyền nam của Tập đoàn thi đấu cọ sát, tích lũy kinh nghiệm chuẩn bị cho các giải lớn hơn. Đây cũng là dịp để giao lưu học hỏi, thắt chặt tình đoàn kết giữa các VĐV cũng như các công ty, đơn vị trong Tập đoàn. Dự kiến giải sẽ kết thúc vào ngày 19/7/2013.

Sau lễ khai mạc, trận đấu giữa đội bóng chuyền nam Công ty CP than Đèo Nai và đội bóng chuyền nam Tổng công ty Đông Bắc đã diễn ra. Ở trận đấu này, khán giả được mãn nhãn với nhiều pha bóng hay, hấp dẫn và hồi hộp của cả hai đội./.

Nguồn : Vinacomin

Hợp tác đào tạo giữa VINACOMIN và Trường Đại học Queensland

Mới đây, tại văn phòng Tập đoàn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Đặng Thanh Hải và lãnh đạo ban Lao động – Tiền lương, ban Hợp tác quốc tế và Trường Quản trị Kinh doanh đã có buổi tiếp và làm việc với ông Brett Cunningham, Phó Viện trưởng SMI – Trường Đại học Queensland.

Vinacomin quan tâm đào tạo cán bộ quản lý cấp cao về khai thác hầm lò và chế biến khoáng sản đáp ứng nhiệm vụ SXKD trong tình hình mới (Ảnh minh hoạ)

Tại buổi làm việc, PTGĐ Đặng Thanh Hải đã giới thiệu về các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Tập đoàn và nhu cầu của Vinacomin trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên thông qua công tác đào tạo hiện nay.

Về phía Trường Đại học Queensland, ông Brett cũng đã giới thiệu về năng lực, kinh nghiệm và mong muốn hợp tác đào tạo với Vinacomin về các lĩnh vực là thế mạnh của SMI như khai thác, chế biến khoáng sản, quản lý khí mỏ, quản lý nước và môi trường.

Hai bên đã trao đổi thẳng thắn những thuận lợi, khó khăn về các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như về đào tạo cán bộ trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế có nhiều bất ổn. SMI và Vinacomin nhất trí sẽ cùng hợp tác và triển khai các hoạt động đào tạo trong các lĩnh vực mà SMI có thế mạnh và Vinacomin có nhu cầu. Trước mắt, hai bên sẽ xem xét hợp tác trong đào tạo chương trình Tiến sỹ, thạc sỹ cho cán bộ của Vinacomin học tại Đại học Queensland và chương trình đào tạo cán bộ quản lý cấp cao về khai thác hầm lò và chế biến khoáng sản. Trường Queensland sẽ cân nhắc việc cấp học bổng đào tạo tiến sỹ cho cán bộ của Tập đoàn.

Nguồn : Vinacomin

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng biểu dương Dự án Nhà máy sản xuất Amon Nitrat đảm bảo tiến độ

Ngày 18/7, Đoàn công tác của Bộ Công Thương do đồng chí Vũ Huy Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương làm Trưởng đoàn đã về kiểm tra tiến độ thực hiện Dự án Dự án Nhà máy sản xuất Amon Nitrat do Tổng Công ty Hoá chất mỏ – Vinacomin là chủ đầu tư. Dự buổi làm việc cùng với Đoàn có các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn, lãnh đạo các sở, ngành liên quan của tỉnh Thái Bình.

Dự án Nhà máy sản xuất Amon Nitrat có công suất thiết kế 200.000 tấn/năm. Địa điểm xây dựng tại Cụm công nghiệp xã Thái Thọ, Thái Thụy, Thái Bình. Dự án chia thành 4 gói thầu gồm: san lấp mặt bằng, cung cấp và lắp đặt thiết bị phụ trợ, hệ thống cung cấp điện và gói thầu nhà máy chính. Đến nay, tổng khối lượng công việc cũng như công tác giải ngân đều đạt trên 50%. Trong đó, đự án đã hoàn thành công tác san lấp mặt bằng; các công trình phụ trợ (đường nội bộ, xưởng cơ khí, tường rào bảo vệ, rãnh thoát nước…) đã hoàn thành từ đến 95%; hệ thống điện đã hoàn thành đưa vào sử dụng; riêng gói thầu nhà máy chính (gói thầu quan trọng nhất) đã hoàn thành thiết kế kỹ thuật, cơ bản hoàn thành thiết kế thi công, lắp đặt tuyến ống ngầm và các bồn chứa hóa chất… cũng đã đạt 50%. Dự kiến, công trình sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành thử nghiệm từ tháng 9/2014.

Phát biểu kết luận, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng ghi nhận, đánh giá cao sự nỗ lực của chủ đầu tư và các nhà thầu thi công cũng như sự phối hợp tạo điều kiện của chính quyền và các ngành chức năng tỉnh Thái Bình. Khẳng định đây là các dự án công nghiệp trọng điểm không riêng với ngành Công Thương mà với cả quốc gia. Khi đi vào hoạt động dự án sẽ hình thành nên tổ hợp công nghiệp lớn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển KT-XH của tỉnh Thái Bình. Vì vậy các chủ đầu tư cần khắc phục khó khăn, tăng cường phối hợp với nhà thầu thi công và chính quyền địa phương đẩy nhanh tiến độ.

Cũng nhân dịp này, Bộ trưởng cùng đoàn công tác cũng đến thăm Dự án Trung tâm điện lực (TTĐL) Thái Bình gồm Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình cũng nằm tại khu vực này. Dự án TTĐL Thái Bình gồm Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1 do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư và Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam làm chủ đầu tư. Dự án xây dựng trên diện tích 254,22 ha, tổng công suất thiết kế 1.800 MW, sản lượng điện khoảng 11 tỷ kWh/ năm. Hiện tại, một số hạng mục như san lấp mặt bằng, đường dẫn vào TTĐL, hạ tầng điện đã hoàn thành. Riêng Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 (công suất 1.200 MW) tổng tiến độ đạt 26,6%, trong đó công tác thiết kế đạt 39,6%, ký hợp đồng mua sắm thiết bị đạt 77,76%, hợp đồng chế tạo và vận chuyển đạt 38,76%, thi công xây dựng đạt 1,79%. Tuy nhiên, dự án TTĐL cần rà soát lại tổng tiến độ, nếu chậm phải báo cáo ngay Bộ Công Thương và Thủ tướng Chính phủ. Đối với Nhà máy sản xuất Amon Nitrat, dự án cần tăng cường công tác bảo đảm an toàn thi công, đặc biệt là an toàn trong vận hành nhà máy, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực và ưu tiên sử dụng lao động địa phương nếu đáp ứng được yêu cầu.

Một số hình ảnh của đoàn công tác:

 

Nguồn : Vinacomin

Vinacomin: 11 biện pháp đảm bảo An toàn – VSLĐ 6 tháng cuối năm 2013

Sáng ngày 19/7/2013, Vinacomin đã tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác An toàn – VSLĐ 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ, biện pháp đảm bảo an toàn 6 tháng cuối năm 2013. Dự Hội nghị có đồng chí Lê Minh Chuẩn, Tổng Giám đốc và các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, HĐTV, Ban điều hành Tập đoàn, Công đoàn TKV; Đảng ủy, Đoàn Than Quảng Ninh và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc. Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Vũ Thành Lâm chủ trì Hội nghị.

Trong 6 tháng đầu năm 2013, Tập đoàn và các đơn vị trực thuộc đã triển khai thực hiện kế hoạch An toàn – Vệ sinh lao động(AT – VSLĐ), có nhiều giải pháp, tổ chức thực hiện công tác AT – VSLĐ – PCCN nhằm đảm bảo an toàn, hạn chế các vụ TNLĐ, sự cố thiết bị, thực hiện kế hoạch AT- VSLĐ đạt giá trị 493,42 tỷ đồng, bằng 51,2% kế hoạch năm, một số đơn vị đã thực hiện đạt trên 60% kế hoạch năm. Công tác AT – VSLĐ diễn biến phức tạp do đặc thù nghề nghiệp, thời tiết mưa bão, các nguy cơ mất an toàn gia tăng. Theo báo cáo, các vụ TNLĐ, sự cố thiết bị lớn, nghiêm trọng như cháy nổ khí, bục nước, sập lò được ngăn chặn, khống chế không để xảy ra, tuy nhiên toàn Tập đoàn đã để xảy ra 16 vụ TNLĐ nghiêm trọng, trong đó 12 vụ xảy ra trong hầm lò và 4 vụ xảy ra trên mặt bằng; sự cố thiết bị nghiêm trọng để xảy ra một vụ là sự cố chìm tàu than của Công ty Vận tải thủy. Nhiệm vụ công tác AT – VSLĐ 6 tháng cuối năm 2013, Tập đoàn triển khai 11 biện pháp đảm bảo an toàn nhằm ngăn chặn nguy cơ TNLĐ, khắc phục những hạn chế tồn tại, đảm bảo an toàn trong sản xuất.

Các đại biểu dự Hội nghị

Hội nghị đã phân tích nguyên nhân các vụ TNLĐ, trong đó nguyên nhân chính dẫn đến các vụ TNLĐ nghiêm trọng xảy ra vẫn chủ yếu do người lao động vi phạm nội quy lao động, vi phạm quy trình kỹ thuật, còn chủ quan, đáng lưu ý là số vụ TNLĐ nghiêm trọng liên quan đến lĩnh vực cơ điện, vận tải mỏ chiếm 9/16 vụ, bằng 56,25%, tai nạn mang tính lặp lại như ngạt khí vẫn xảy ra. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn chưa tốt, việc kiểm soát sản xuất của các đơn vị chưa chặt chẽ, biện pháp kỹ thuật an toàn, quy trình còn chưa thiết thực dẫn đến người lao động chưa nắm bắt được cụ thể.

Tổng Giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn phát biểu tại Hội nghị

Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh công tác AT – VSLĐ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải chỉ ra được và làm rõ các nguyên nhân dẫn đến TNLĐ để có biện pháp khắc phục, ngăn chặn nguy cơ xảy ra TNLĐ. Ngoài các nguyên nhân đã được đánh giá, Tổng Giám đốc đã phân tích, làm rõ và bổ sung thêm các nguyên nhân từng vụ TNLĐ nghiêm trọng đề rút kinh nghiệm và yêu cầu hệ thống làm công tác an toàn trong Tập đoàn cần tập trung chỉ đạo, có biện pháp hữu hiệu thực hiện công tác AT – VSLĐ nhằm giảm thiểu các vụ TNLĐ nghiêm trọng và sự cố thiết bị, đảm bảo an toàn, hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ năm 2013.

Nguồn : Vinacomin

Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp thiết bị mỏ

Ngày 1/8, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ – Vinacomin đã có buổi làm việc với Công ty Cổ phần Thiết bị Công nghệ MIPEC nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp thiết bị mỏ. MIPEC là đại diện của nhà sản xuất thiết bị khai khoáng hàng đầu của Nga KOPEYSK MACHINE-BUILDING PLANT và Công ty EICKHOFF chuyên sản xuất thiết bị khấu than của Đức.

Tại buổi làm việc, ông Dmitry Kipelov – chuyên gia của hãng đã giới thiệu một số thiết bị cơ giới hoá cho khai thác hầm lò. Hai bên đã thảo luận một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực cơ giới hóa khai thác than cũng như những khó khăn về điều kiện địa chất khi áp dụng tại Việt Nam.

ThS. Lưu Văn Thực – Phó Viện trưởng, đại diện Viện Khoa học Công nghệ Mỏ – Vinacomin đã bày tỏ sự quan tâm đến các thiết bị và công nghệ do Công ty Cổ phần Thiết bị Công nghệ MIPEC làm đại diện, cũng như công tác bảo dưỡng, bảo trì thiết bị trong quá trình hoạt động và mong muốn hai bên sẽ có những hợp tác hiệu quả trong thời gian tới./.
Nguồn : (Vinacomin)

Lãnh đạo Vinacomin kiểm tra công tác phòng chống bão số 5

Sáng 3/8, ông Phạm Văn Mật, Phó Tổng giám đốc Vinacomin, Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất than tại Quảng Ninh cùng các thành viên Ban phòng chống mưa bão và Tìm kiếm cứu nạn Tập đoàn đã kiểm tra công tác phòng chống mưa bão tại các đơn vị.

Kiểm tra tại khai trường Công ty than Núi Béo

Đoàn đã đến các đơn vị Than Núi Béo, Hòn Gai, Hà Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu, Uông Bí và một số đơn vị thuộc khối tiêu thụ than, nhiệt điện, cơ khí. Tại các đơn vị lộ thiên, đoàn đã kiểm tra các khu vực bãi thải, hệ thống thoát nước, tuyến đê bao dọc các tầng thải, đập chắn đất đá chân bãi thải, hồ nước đập, mương thoát nước sau đập, phân tách dòng chảy theo đúng phương án.

Kiểm tra phương án thoát nước chống ngập mỏ tại Xí nghiệp than Thành Công

Tại các đơn vị khối hầm lò, đoàn kiểm tra hệ thống bơm nước, điện dự phòng. Theo đó, đoàn chỉ đạo các đơn vị: Bố trí cán bộ trực canh gác và theo dõi công trình để kịp thời phát hiện nguy cơ có thể xảy ra sự cố. Tổ chức sơ tán người và thiết bị tại các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn nếu cần thiết; chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn tại các vị trí xung yếu để ứng phó khi xảy ra sự cố.
Kiểm tra tại khai trường Công ty than Hà Tu

Đoàn công tác lưu ý các đơn vị khai thác hầm lò, do trong tháng 7 đã diễn ra mưa nhiều, nước đã ngấm và tích một lượng rất lớn trên các khu vực khai thác hầm lò, cho nên các đơn vị cần đặc biệt chú ý phương án phòng chống ngập mỏ; kiểm tra bề mặt địa hình, san lấp các hố tụ thuỷ, trám lấp các vết nứt và khu sụt lún; kiểm tra, khởi động máy phát điện diezen đảm bảo sẵn sàng phát điện khi bị mất điện lưới; chuẩn bị phương án sơ tán người và thiết bị đến nơi an toàn và sẵn sàng đối phó với các tình huống mưa to gây lũ, ngập lụt, sạt lở đất…

Kiểm tra nhà xưởng, kho tàng, triển khai giằng néo đảm bảo chắc chắn đề phòng tốc mái, có phương án tăng cường đảm bảo an ninh trật tự trong thời gian bão đổ bộ. Các nhà máy nhiệt điện thuộc Vinacomin kiểm tra, xác định lượng than dự phòng để đảm bảo cung cấp đốt lò trong thời gian mưa bão, đề phòng trường hợp sự cố không cấp được than từ ngoài nhà máy.

Trước đó, Vinacomin cũng đã có công điện số 04/CĐ-BCĐ ngày 1/8/2013 có công điện khẩn số 05/CĐ – BCĐ triển khai công tác phòng chống bão số 5 tại các đơn vị

Cùng liên quan đến việc bão số 5, ông Vũ Thành Lâm, Phó Tổng giám đốc Vinacomin cho biết, moong nước nằm trên mặt đất, thuộc Công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, tràn xuống làm ngập khoảng 2km đường lò của Công ty than Mông Dương – Vinacomin. Tuy sự việc không bị thiệt hại về người, nhưng khiến 6 tổ hợp bơm và trạm điện trị giá hàng trăm tỷ đồng của công ty vẫn bị ngập sâu trong nước.

Để khắc phục sự cố này, Công ty than Mông Dương đã cho máy xúc đến vị trí được xác định là nguyên nhân gây ra sự cố để tiến hành san lấp, nhưng Công ty Thiên Thuận Tường ngăn cản. “Mưa bão đang đến gần, nếu không xử lý được sự cố này, tình hình sẽ rất nguy hiểm”. UBND TP Cẩm Phả cho biết, trong ngày hôm nay, nếu công ty Thiên Thuận Tường không hợp tác, chính quyền sẽ có biện pháp cưỡng chế.

Theo ông Phạm Đình Hòa – Phó ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh – một trong những hiểm họa lớn nhất nếu bão Jebi vào Quảng Ninh – đặc biệt là Hạ Long – là nguy cơ sạt lở.

Trong đợt mưa kéo dài gần 20 ngày vừa qua, toàn thành phố có gần 30 điểm sạt lở, trong đó nhiều hộ mất nhà, đổ nhà. “Mưa mới tạm dừng được 2 ngày, nền đất vẫn còn rất yếu. Bão số 5 đã vào, tình hình sẽ rất nguy hiểm” – ông Hòa cảnh báo.

Nguồn : (Vinacomin)

Vinacomin gồng mình trong mưa bão

Ngay sau bão số 5 với gió mạnh và mưa lớn đổ bộ vào các tỉnh vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, bão số 6 đã hình thành và áp sát bờ biển các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, Nghệ An, tiếp tục gây mưa. Trước đó, suốt một tuần, lượng mưa tại vùng Quảng Ninh đã lên đến hàng trăm mm. Với đặc thù khai thác và chế biến than bị ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết, ngành Than đang gồng mình trong mưa bão.

Bơm thi với trời

Sáng ngày 7-8-2013, do ảnh hưởng trực tiếp từ bão số 6, tại khai trường các đơn vị khai thác và chế biến than vùng Hòn Gai, cơn mưa xối xả khiến khai trường mờ mịt. Hầu hết các thiết bị mỏ lộ thiên, sàng tuyển đã phải ngừng làm việc. Công tác phòng chống bão được các đơn vị gấp rút triển khai. Người ta che bạt cho những kho than lớn mà trước đó bung ra được nửa ngày nắng với hy vọng than khô để sàng tuyển. Kỹ sư Bùi Xuân Vững, lãnh đạo Đảng uỷ Than Quảng Ninh, người đã có nhiều năm lăn lộn trong các đường lò nhìn ra mưa ngao ngán: Lộ thiên chỉ đơn giản là dừng sản xuất và rút thiết bị về nơi an toàn. Nhưng các đơn vị khai thác hầm lò, trước bão số 5 đã mưa hàng tuần trời. Nay bão số 6 đến, tiếp tục gây mưa. Mưa kéo dài, lưu lượng nước thẩm thấu trong các đường mới là điều đáng ngại. Các đơn vị hầm lò tiếp tục phải huy động hết công suất các tổ hợp bơm nước, đồng thời phải đề phòng bục nước có thể xảy ra. Đây là việc làm không lạ với ngành mỏ, song hết sức quan trọng.

Đến các đơn vị khai thác than tại vùng Quảng Ninh hiện nay, chúng tôi thấy rõ điều này. Từ các đơn vị lộ thiên như Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao Sơn, đến các đơn vị khối hầm lò như Hòn Gai, Hạ Long, Mông Dương, Khe Chàm… chúng tôi thấy đơn vị nào cũng tập trung bơm nước. Trời cứ tiếp tục mưa, và các đơn vị cứ bơm nước. Không được để moong than bị ngập nước. Các đường lò nước thẩm thấu đến đâu, bơm cạn đến đó. Ước tính, bình quân hàng năm, các đơn vị trong Vinacomin đã bơm thi với trời hàng trăm triệu mét khối nước. Riêng những ngày mưa lớn này thì công suất được vận hành tối đa. Mất điện lưới, các đơn vị sẽ chạy máy phát Diezel để việc bơm nước không bị gián đoạn dù là một phút.

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn, mặc dù trong 24 đến 36 giờ tiếp theo, bão số 6 sẽ di chuyển theo hướng giữa Tây Bắc và Tây Tây Bắc mỗi giờ đi được khoảng 20km. Đến 16 giờ ngày 08/8, vị trí trung tâm vùng áp thấp ở vào khoảng 22,1 độ Vĩ Bắc; 103,8 độ Kinh Đông, trên khu vực vùng núi phía Tây Bắc Bộ. Sức gió mạnh nhất ở trung tâm vùng áp thấp giảm xuống dưới cấp 6 (tức là dưới 39 km một giờ). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của bão, từ chiều tối nay (7/8), vùng ven biển các tỉnh phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa gió sẽ mạnh dần lên cấp 6, cấp 7, vùng gần tâm bão cấp 8, giật cấp 9, cấp 10. Ở các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ có mưa, mưa vừa, có nơi mưa to và dông; từ đêm nay ở Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to đến rất to. Vùng núi cần đề phòng lũ quét và sạt lở đất. Vùng ven biển các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa đề phòng nước biển dâng kết hợp với thủy triều cao 3 – 4m. Với tình hình thời tiết này, vùng Than sẽ tiếp tục gồng mình bơm nước hết công suất trong nhiều ngày tới.

Vượt bão số 5

Ngay sau bão số 5, phóng viên chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Thành Lâm, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn, Trưởng Ban Phòng chống mưa bão và tìm kiếm cứu nạn Vinacomin. Ông Lâm cho biết, do chủ động đối phó với diễn biến phức tạp của bão số 5 nên sau bão hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) than của Vinacomin tại Quảng Ninh không nhiều xáo trộn, hầu hết các đơn vị đã nhanh chóng ổn định sản xuất trở lại. Theo báo cáo tổng hợp từ các đơn vị, do chủ động làm tốt công tác phòng chống mưa bão nên không có thiệt hại về người do bão số 5 gây ra. Tuy nhiên, cơn bão đã ảnh hưởng trực tiếp tới SXKD một số đơn vị, nhiều vị trí sản xuất phải tạm ngừng để tập trung bơm nước do lượng mưa lớn đã làm trôi lấp một số vị trí thoát nước, tại các mỏ than Cao Sơn, Cọc Sáu, Mông Dương, Hà Lầm… Đặc biệt, Công ty than Mông Dương bị ngập cục bộ nhiều đoạn đường lò, vùi lấp khá nhiều thiết bị. Công ty than Hòn Gai cũng bị ngập một số đoạn đường lò tại Xí nghiệp than Cao Thắng, Xí nghiệp than Thành Công. Nhiều vị trí phải ngừng sản xuất. Mưa lớn cũng làm sạt lở một số tuyến đường vận chuyển tại một số mỏ khiến đa phần các mỏ lộ thiên phải ngừng sản xuất. Ngoài ra, nhiều đơn vị trên diện rộng đã bị mất điện cục bộ từ một đến hai tiếng trên diện rộng. Các đơn vị đã phải chủ động phát điện từ các trạm điện Diezel của đơn vị để duy trì sản xuất và bơm nước.

Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Tập đoàn, ngay trong và sau bão, các đơn vị đã tổ chức bơm rút nước và đưa nhiều điểm ngập úng trở lại sản xuất bình thường. Nhiều đơn vị lộ thiên tổ chức làm đường khắc phục sự cố để duy trì sản xuất. Về công tác phòng chống thất thoát than, đa phần các đơn vị đã chủ động trang bị bạt che mưa cho hầu hết các kho than. Đồng thời khơi thông hệ thống cống rãnh thoát nước xung quanh các kho, làm hố lắng than trôi để thu hồi ngay. Do vậy, không để xảy ra thất thoát than ở các đơn vị sản xuất, sàng tuyển và quản lý than. Có thể khẳng định, Vinacomin đã vượt qua bão số 5 một cách thận trọng. Đồng thời Vinacomin cũng đã xây dựng nhiều phương án đề phòng mưa lớn do bão số 6 gây ra.

Chủ động phòng bão số 6

Trong những ngày này, lãnh đạo Vinacomin tập trung cao độ với công tác phòng chống mưa bão. Lãnh đạo Vinacomin chia làm nhiều tốp đi kiểm tra hiện trường các đơn vị như Than Núi Béo, Than Hòn Gai, Hà Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu, Than Uông Bí, Mông Dương, Khe Chàm, Hạ Long… cũng như các đơn vị thuộc khối tiêu thụ than, nhiệt điện, cơ khí. Tại các đơn vị lộ thiên, đoàn đã kiểm tra các khu vực bãi thải, hệ thống thoát nước, tuyến đê bao dọc các tầng thải, đập chắn đất đá chân bãi thải, hồ nước đập, mương thoát nước sau đập, phân tách dòng chảy theo đúng phương án. Tại các đơn vị khối hầm lò, đoàn kiểm tra hệ thống bơm nước, điện dự phòng. Theo đó, đoàn chỉ đạo các đơn vị: Bố trí cán bộ trực canh gác và theo dõi công trình để kịp thời phát hiện nguy cơ có thể xảy ra sự cố. Tổ chức sơ tán người và thiết bị tại các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn nếu cần thiết; chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn tại các vị trí xung yếu để ứng phó khi xảy ra sự cố.

Lãnh đạo Tập đoàn lưu ý các đơn vị khai thác hầm lò, do trước đó đã diễn ra mưa nhiều, nước đã ngấm và tích một lượng rất lớn trên các khu vực khai thác hầm lò, cho nên các đơn vị cần đặc biệt chú ý phương án phòng chống ngập mỏ; kiểm tra bề mặt địa hình, san lấp các hố tụ thuỷ, trám lấp các vết nứt và khu sụt lún; kiểm tra, khởi động máy phát điện diezel đảm bảo sẵn sàng phát điện khi bị mất điện lưới; chuẩn bị phương án sơ tán người và thiết bị đến nơi an toàn và sẵn sàng đối phó với các tình huống mưa to gây lũ, ngập lụt, sạt lở đất… Mặt khác, các đơn vị kiểm tra nhà xưởng, kho tàng, triển khai giằng néo đảm bảo chắc chắn đề phòng tốc mái, có phương án tăng cường đảm bảo an ninh trật tự trong thời gian bão đổ bộ.

Tập đoàn yêu cầu lãnh đạo các đơn vị không được di chuyển khỏi cơ quan của mình, tập trung chỉ huy phòng chống và ứng phó với bão số 6. Các đơn vị tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến cơn bão, báo cáo công tác chuẩn bị và ứng phó trước, trong và sau cơn bão, báo cáo kịp thời các tình huống sự cố xảy ra để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do bão số 6 gây ra.
Nguồn : (Vinacomin)

Đất hiếm có ý nghĩa như thế nào với con người

Với 17 nguyên tố quý giá, quặng đất hiếm có vai trò ngày càng lớn đối với các ngành công nghiệp và tương lai của thế giới.

Quặng đất hiếm chứa 17 nguyên tố có hàm lượng rất nhỏ trong vỏ trái đất, như Yttrium và lanthanum. Chúng nằm ở giữa bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Nguyên tố đầu tiên trong đất hiếm được phát hiện vào năm 1787. Đa số chúng được dùng trong lĩnh vực công nghiệp và quốc phòng. Người ta dùng 17 nguyên tố trong đất hiếm để sản xuất các linh kiện trong điện thoại di động, pin mặt trời, motor điện hiệu suất cao, động cơ xe hơi dùng cả xăng và điện, nam châm trong các máy phát thủy điện cực nhỏ và cả các thiết bị trong vũ trụ.

Ngoài ra đất hiếm còn là nguyên liệu quan trọng đối với việc phát triển các dạng năng lượng không gây ô nhiễm môi trường. Báo The Christian Science Monitor cho biết, trong những năm đầu thập niên 40, đất hiếm là thứ mà rất ít người biết. Nhưng sau khi Frank Spedding, một nhà hóa học người Mỹ, tìm ra cách phân tách và tinh chế từng nguyên tố thì giới khoa học mới chú ý tới nó. Những tác dụng của đất hiếm bắt đầu được khám phá trong thập niên 60.
Mặc dù được gọi là đất hiếm, song trên thực tế những nguyên tố trong đất hiếm khá sẵn trong tự nhiên. Mức độ phổ biến của chúng tương đương với mạ kền hay thiếc. Thế nhưng chúng không phải là những thứ dễ khai thác và chiết tách.
Các mỏ đất hiếm tồn tại ở khắp nơi trên thế giới. Cục Địa chất Mỹ nhận định tổng trữ lượng đất hiếm trên toàn cầu lên tới 99 triệu tấn, trong đó Trung Quốc có 36 triệu tấn và Mỹ có 13 triệu tấn.

17 nguyên tố trong đất hiếm đặc biệt vì chúng có nhiều tính chất vật lý khó tin. Chúng tạo ra nhiều công dụng kỳ diệu khi kết hợp với những nguyên liệu thông thường khác. Chẳng hạn, Europium là nguyên tố giúp con người biến tivi đen trắng thành tivi màu, Erbium được đặt vào các sợi cáp quang truyền dữ liệu để ánh sáng trong cáp di chuyển xa hơn.
Một số nguyên tố trong đất hiếm được dùng để sản xuất những nam châm nhỏ hơn song mạnh hơn dành cho ô tô, ổ đĩa máy tính, máy phát điện, động cơ và cả hệ thống dẫn đường cho tên lửa. Nhiều nguyên tố khác làm tăng khả năng chịu nhiệt của các cánh quạt trong động cơ phản lực và làm tăng độ sáng của các ống nhòm hồng ngoại (dùng để quan sát trong đêm).

Mỹ và một số nước là nguồn cung cấp đất hiếm chủ yếu trong 50 năm qua. Nhưng nhờ chi phí lao động thấp và sự thiếu vắng những quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường, Trung Quốc trở thành nước bán đất hiếm với giá thấp nhất trên thế giới.

Cục Địa chất Mỹ khẳng định những mỏ đất hiếm chưa được phát hiện trên thế giới có trữ lượng đủ lớn để đáp ứng nhu cầu của loài người trong tương lai. Tuy nhiên, giới khoa học không dám chắc liệu những mỏ mới sẽ được phát hiện kịp thời để đáp ứng nhu cầu đang tăng vọt hay không. Theo Cục Địa chất Mỹ, nguồn cung đất hiếm sẽ thấp hơn cầu khoảng 40 nghìn tấn trong vòng 5 năm tới.

Khai giảng lớp Đào tạo cán bộ kế cận cấp cao Vinacomin năm 2013

Ngày 6/8, tại Trường Quản trị kinh doanh – Vinacomin đã diễn ra lễ khai giảng lớp đào tạo cán bộ kế cận cấp cao Vinacomin năm 2013. Đến dự có TS.Trần Xuân Hòa – Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn; ông Đặng Thanh Hải – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn; đại diện lãnh đạo Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam (AITCV) – bà Nguyễn Thị Bích Hòa – Giám đốc đào tạo, Dr Fedric Giảng viên Quản trị chiến lược doanh nghiệp khai khoáng.

Chương trình đào tạo bao gồm 08 chuyên đề chuyên sâu do các giảng viên quốc tế của Viện Công nghệ Châu Á thực hiện trong thời gian 03 tháng.

Cuối khóa học, học viên phải báo cáo tiểu dự án trước Hội đồng đánh giá của Hội đồng thành viên Vinacomin và đội ngũ chuyên gia AIT làm cơ sở để cấp chứng nhận hoàn thành khóa học.

Chương trình đào tạo cán bộ kế cận cấp cao là cụ thể hóa chỉ đạo của Đảng ủy Tập đoàn, Hội đồng Thành viên Vinacomin trong việc xây dựng, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận cấp cao nhất đủ năng lực phục vụ chiến lược phát triển của Tập đoàn trong giai đoạn sắp tới.

Nguồn : (Vinacomin)

Xuất khẩu than: Thuế tăng, sản lượng giảm

Sau 1 tháng thuế xuất khẩu (XK) than tăng từ 10% lên 13% theo Thông tư 71/2013-TT-BTC ngày 23/5/2013 của Bộ Tài chính, sản lượng than XK của Tập đoàn đã sụt giảm nhiều so với tháng trước. Khó khăn lại đến với thợ mỏ.

Trong điều kiện kinh tế suy giảm, giá than thế giới chưa phục hồi, mặc dù Tập đoàn đã cắt giảm mạnh giá thành tạm thời cả về đất bóc, khấu hao, tiền lương và các chi phí khác, nhưng sản lượng than tiêu thụ vẫn giảm mạnh. Để không bị lỗ khi mức thuế XK tăng, Tập đoàn buộc phải điều chỉnh giá than XK tăng tương ứng, vì thế nhiều khách hàng truyền thống đã chuyển hướng nhập khẩu than sang các thị trường khác. Tháng 7, Vinacomin chỉ bán được hơn 2 triệu tấn than cả trong nước và XK, chưa bằng 60% so với các tháng trước (6 tháng tiêu thụ 21,5 triệu tấn, bình quân đạt 3,58 triệu tấn/tháng, trong đó XK 1,2 triệu tấn/ tháng).

Điều này đã ảnh hưởng xấu tới việc làm, thu nhập và an sinh xã hội của hàng vạn gia đình thợ mỏ, trong khi điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, có nơi đã xuống âm 300m so với mặt nước biển. Đây là những thách thức không nhỏ mà Vinacomin đang phải nỗ lực vượt qua. Về mặt nhà nước, khi sản lượng giảm (dự kiến trước đây nếu điều chỉnh thuế về 10% từ giữa tháng 7 thì giảm khoảng 4 triệu tấn than, nhưng nay dự kiến sẽ giảm nhiều hơn) thì các loại thuế tài nguyên, phí môi trường, thuế giá trị gia tăng (GTGT) cũng sẽ giảm mạnh (trên 1 ngàn tỷ đồng), phần nào ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân.

Mặc dù tiêu thụ giảm nhưng để đảm bảo an toàn thì hầu hết các mỏ hầm lò vẫn phải sản xuất, thông gió, thoát nước mỏ, đảm bảo việc làm tối thiểu cho công nhân mỏ. Hệ lụy là tồn kho sẽ tăng, ảnh hưởng đến môi trường, tăng chi phí quản lý, lãi vay, bảo vệ,… Đặc biệt, nếu than tồn kho quá lâu, chất lượng sẽ giảm. Đương nhiên, doanh thu than sẽ giảm ở con số hàng nghìn tỷ đồng.

Thực tế hiện nay, các loại thuế, phí thu từ ngành than đều ở mức cao của thế giới (đối với than XK trên 30% gồm: Thuế tài nguyên 5-7%, thuế XK 13%, thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ 10%, phí môi trường nộp ngân sách khoảng 1%, chi phí môi trường tại doanh nghiệp 2%,…). Điều đó sẽ không khuyến khích khai thác nơi có điều kiện khó khăn, cân đối tài chính ngành than càng khó, sản lượng than của Vinacomin đang giảm mạnh, việc làm bị ảnh hưởng và thu hẹp.

Hiện nay, nền kinh tế chưa được phục hồi, giá than thế giới còn thấp, giá một số chủng loại than đang tiếp tục giảm, vì vậy, Vinacomin đã có văn bản đề nghị giữ mức thuế XK than 10% như 6 tháng đầu năm để bán được than theo thị trường thế giới. Tạo điều kiện để ngành than ổn định sản xuất, giải quyết việc làm, an sinh xã hội vùng mỏ và cũng tạo điều kiện có sản lượng để tính các loại thuế tài nguyên, phí môi trường, thuế GTGT và thuế XK, nếu không sẽ giảm đáng kể thu ngân sách từ ngành than năm 2013. Khi đó, mục tiêu đảm bảo việc làm cho công nhân, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn và nguồn thu cho ngân sách không đạt được. Tuy nhiên, vấn đề này các cơ quan nhà nước cũng vẫn đang xem xét.

Mức thuế suất thuế XK 10% là mức cao nhất hiện nay. Ở Trung Quốc, sản xuất 3,5-3,7 tỷ tấn than, vừa XK, vừa nhập khẩu thuế suất cũng 10%, riêng than cocking 0%. Còn các nước khác như Úc, Indonesia đều XK 250- 300 triệu tấn than/năm vẫn được hưởng thuế XK 0%, Nga 5%, Mông Cổ 5 – 7%… Nếu than Việt Nam chịu thuế XK trên 10% thì không thể bán để ổn định sản xuất được.

Nguồn : (Vinacomin)

Hơn 70 cán bộ được tập huấn công tác “Vì sự tiến bộ phụ nữ”

Từ 7 đến 9/8, tại Trường Quản trị Kinh doanh – Vinacomin, 73 cán bộ các công ty thành viên và đơn vị trực thuộc Tập đoàn đã được các chuyên gia về giới tập huấn về công tác “Vì sự tiến bộ phụ nữ” với các nội dung: Lồng ghép giới và bình đẳng giới trong sử dụng lao động của doanh nghiệp; thông tin 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới; Những biện pháp nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới v.v.

Trong thời gian tập huấn, các học viên còn được đại diện Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ Tập đoàn phổ biến Định hướng công tác Vì sự tiến bộ phụ nữ Vinacomin 2013-2014; kết quả công tác Vì sự tiến bộ phụ nữ 6 tháng đầu năm 2013 và được giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với Ban “Vì sự Phát triển phụ nữ” của Tổng Công ty công nghiệp Hóa chất mỏ – Vinacomin.
Nguồn : (Vinacomin)

Hội thi AT – VSV giỏi Vinacomin lần thứ VIII, năm 2013 thành công tốt đẹp

Hội thi An toàn – Vệ sinh viên (AT – VSV) giỏi lần thứ VIII, năm 2013 tổ chức từ ngày 24 – 26/8/2013 tại Công ty CP Than Núi Béo với 33 đơn vị trong Tập đoàn tham gia đã thành công tốt đẹp. Chiều ngày 26/8/2013, Ban tổ chức đã tổng kết, trao giải cho các tập thể và cá nhân. Công ty Than Quang Hanh đã đạt giải Nhất toàn đoàn.

Trao giấy chứng nhận và tiền thưởng cho các AT – VSV giỏi, xuất sắc

Hội thi An toàn – Vệ sinh viên (AT – VSV) giỏi được tổ chức 2 năm/lần từ cấp cơ sở đến cấp Tập đoàn. Đây là đợt sinh hoạt rộng lớn, đánh giá chất lượng hoạt động của mạng lưới AT – VSV trong toàn Tập đoàn do tổ chức Công đoàn quản lý. Thực hiện kế hoạch liên tịch của Tổng giám đốc và Ban thường vụ Công đoàn TKV về việc tổ chức Hội thi AT – VSV giỏi các cấp, năm 2013, đã có 42 đơn vị trong Tập đoàn tổ chức thi cấp cơ sở với tổng số 1.685 AT – VSV tham gia, có 1.273 AT – VSV đạt giỏi và xuất sắc. Hội thi AT – VSV giỏi lần thứ VIII, năm 2013 cấp Tập đoàn có 33 đơn vị tham gia với tổng số 99 AT – VSV. Nội dung thi gồm có 3 phần là thi năng khiếu với tiểu phẩm tuyên truyền về công tác an toàn, thi lý thuyết trả lời câu hỏi, tình huống liên quan đến công tác AT – VSLĐ và phần thi kỹ năng thực hành.

Tổng kết Hội thi, đồng chí Vũ Thành Lâm – Phó Tổng giám đốc Vinacomin, Trưởng Ban chỉ đạo đánh giá cao các đơn vị đã có sự quan tâm, chỉ đạo, đầu tư, tập luyện thể hiện qua các tiểu phẩm hấp dẫn, chất lượng, sáng tạo, nội dung thiết thực, có tác động truyền tải lớn đến người lao động về công tác an toàn – vệ sinh lao động. Ban tổ chức cũng đánh giá cao sự cố gắng, am hiểu về kiến thức, kỹ năng thực hành của các thí sinh trong Hội thi và đơn vị chủ nhà Công ty CP Than Núi Béo đã có sự chuẩn bị tốt, phục vụ chu đáo góp phần vào thành công của Hội thi. Bên cạnh đó, BTC cũng rút kinh nghiệm một số đơn vị còn chưa quan tâm, chưa tổ chức thi cấp cơ sở và tham gia thi cấp Tập đoàn, một số tiểu phẩm còn hạn chế, chất lượng một số thí sinh dự thi chưa cao. Hội thi đã thực sự tạo nên sân chơi bổ ích cho các AT – VSV, nâng cao trình độ, kỹ năng, hoạt động của mạng lưới AT – VSV, tuyên truyền đến đông đảo người lao động thực hiện tốt công tác AT – VSLĐ, xây dựng văn hóa an toàn lao động nhằm hạn chế đến mức thấp nhất TNLĐ và sự cố thiết bị trong quá trình sản xuất.

Đ/c Đỗ Đình Hiền – Chủ tịch Công đoàn TKV và đ/c Vũ Thành Lâm – Phó Tổng giám đốc Vinacomin
trao giải toàn đoàn cho các đơn vị

Kết quả, Ban tổ chức đã công nhận và trao giấy chứng nhận cho 10 AT – VSV đạt loại giỏi và 89 AT – VSV đạt xuất sắc. Giải Nhất phần thi năng khiếu được trao cho Tổng Công ty Đông Bắc; giải Nhì thuộc về Than Uông Bí, Quang Hanh và Công ty Môi trường; giải Ba Than Hà Tu và các giải Khuyến khích là Than Hạ Long, Nam Mẫu và Tổng Công ty Khoáng sản. Giải toàn đoàn, Công ty Than Quang Hanh đạt giải Nhất; Tổng Công ty Đông Bắc và Công ty Môi trường đạt giải Nhì; Than Núi Béo, Than Uông Bí và Tổng Công ty Hóa chất mỏ giải Ba; 14 đơn vị đạt giải Khuyến khích.

Nguồn : (vinacomin)

Gần 550 tỷ đồng cho công tác an sinh xã hội

Với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” của ngành Than – Khoáng sản Việt Nam, với phương châm “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”, trong 5 năm qua, cán bộ, công nhân viên Vinacomin đã đóng góp, trích từ quỹ phúc lợi… hỗ trợ tổng số tiền gần 547 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội.

Một ngôi trường do Vinacomin xây dựng tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Vinacomin đã đặc biệt chú trọng đến các cá nhân, gia đình, địa phương nghèo, gặp nhiều khó khăn: dành 12 tỷ đồng thăm hỏi tặng quà các trung tâm thương binh nặng và trẻ mồ côi, tật nguyền ở các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Quảng Ninh; dành 35 tỷ đồng xây dựng trường học tại các địa phương ĐacKrông (Quảng Trị), Bảo Lâm (Lâm Đồng), ĐắcRlấp (Đắc Nông); Sơn Động (Bắc Giang), Mông Dương (Cẩm Phả), Yên Thọ (Đông Triều – Quảng Ninh)…; hàng chục tỷ đồng ủng hộ nhiều địa phương xóa hàng nghìn ngôi nhà tạm, nhà dột nát, ủng hộ bão lụt tại các tỉnh miền Trung. Ngoài ra, Tập đoàn cũng dùng hàng trăm tỷ đồng ủng hộ xây dựng các công trình công ích như: hỗ trợ Bệnh viện Lao tỉnh Quảng Ninh 12 tỷ đồng mua thiết bị y tế, Lăng Vua Minh Mạng tỉnh Thừa Thiên Huế 3,2 tỷ đồng; góp lắp đặt hệ thống cáp điện huyện Đảo Cô tô 150 tỷ đồng…

Theo sự phân công của Chính phủ, Tập đoàn đã hỗ trợ cho 3 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a là Ba Bể (Bắc Kạn), Mèo Vạc (Hà Giang), Đam Rông (Lâm Đồng) hơn 100 tỷ đồng để xóa hàng nghìn nhà dột nát, xây dựng chợ, mua thiết bị y tế, xây dựng trường học, trạm y tế, hỗ trợ tổ chức đào tạo nghề công nhân kỹ thuật cho tổng số 550 con em đồng bào dân tộc với kinh phí 25 triệu đông/người/khoá học 18 tháng, bao gồm chi phí đào tạo, kinh phí ăn, ở cho học sinh và sẽ bố trí việc làm cho các em sau khi ra trường. Nhờ đó đã góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 3 huyện nghèo, giúp bà con dân tộc có điều kiện xây dựng kinh tế, từng bước ổn định cuộc sống.

Những hành động nghĩa tình của Vinacomin đã tạo được cơ sở vật chất cho sự phát triển kinh tế của người dân và địa phương, đơn vị được hỗ trợ, nhiều gia đình, cá nhân khó khăn có điều kiện từng bước ổn định cuộc sống, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân vững mạnh./.

Nguồn : (vinacomin)

Vinacomin: Người lao động là trung tâm

“Khó có ngành nào chăm lo cho đời sống công nhân cả về vật chất lẫn tinh thần được như ngành Than”- đó là khẳng định của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng sau những lần về thăm CN-CB ngành Than.

Làm và chơi hết mình

Ngoài việc dành hàng chục tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hiện đại đáp ứng phục vụ các sự kiện lớn, mỗi công ty của Tập đoàn đều xây dựng bộ máy tổ chức có đủ chức năng nghiệp vụ về các bộ môn múa, ca nhạc, kịch với đội nghệ thuật nòng cốt (có nơi hàng trăm người). Các đội nghệ thuật này đã giành nhiều giải cao cấp quốc gia và cấp tỉnh cũng như hoạt động phong trào sôi nổi dành cho tất cả mọi công nhân. Tiêu biểu của các phong trào này là: Công ty Tuyển than Cửa Ông, Công ty than Hòn Gai, Công ty than Cọc Sáu, Công ty than Quang Hanh, Tổng Công ty Hóa chất mỏ…

Ngoài ra, hàng năm, hoạt động thể dục, thể thao của các đơn vị cũng sôi nổi không kém, với các giải cầu lông, quần vợt, đua thuyền, cờ vua, cờ tướng… thu hút hàng ngàn công nhân lao động tham gia. Trong đó đỉnh cao là 2 đội bóng thường xuyên tham gia các giải cấp quốc gia: Đội bóng đá nữ Than – Khoáng sản VN (luôn có mặt trong nhóm các đội bóng đá nữ mạnh của cả nước) và đội bóng đá nam Than Quảng Ninh vừa xuất sắc dành suất lên hạng chuyên nghiệp. “Làm và chơi hết mình”- giống như một tiêu chí riêng của thợ mỏ vùng than.

Thả sức ăn tự chọn

Để đảm bảo quyền lợi cho thợ mỏ – những người phải làm việc dưới hầm lò ở độ sâu hàng trăm mét rất vất vả, nặng nhọc, công đoàn các đơn vị đã phối hợp cùng chuyên môn chú trọng các chế độ chính sách và điều kiện làm việc, sức khỏe của người lao động. Đáng nói nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay, với việc tổ chức và giám sát của công đoàn, bếp ăn công nghiệp của các đơn vị vẫn duy trì suất ăn tự chọn. Riêng những người làm việc ở hầm lò còn được bồi dưỡng thêm bánh mì, sữa tươi, hay các loại nước hoa quả khác…

Tiêu biểu là Công ty than Mông Dương mỗi tháng chi xấp xỉ 3 tỷ đồng cho bữa ăn công nghiệp. Thức ăn ở đây thường xuyên có tới 18 – 22 món như: thịt gà, tôm kho, sườn rán chua ngọt, rau luộc, canh… để người ăn dễ lựa chọn. Bếp ăn công nghiệp được xây dựng khang trang, sạch sẽ, thoáng mát, có thể phục vụ đồng thời cho hàng ngàn người ăn.

Cùng với việc bố trí trạm y tế tại trung tâm mỏ, công đoàn và chuyên môn các đơn vị đều tổ chức mời các bác sỹ và thuê các trang thiết bị y tế hiện đại về khám sức khỏe định kỳ cho công nhân 6 tháng/lần hoặc đột suất. Những ai có vấn đề về sức khỏe được đưa đi điều trị và điều dưỡng ngay. Ngoài ra, các đơn vị còn bố trí 3 trạm trực hầm y tế tại các hầm lò với đầy đủ cán bộ, nhân viên y tế trực sản xuất 3 ca 24/24 giờ, đảm bảo chăm sóc sức khỏe kịp thời công nhân ốm đau cũng như khi có sự cố, tai nạn xảy ra. Đặc biệt, mỗi năm hàng vạn người được đi nghỉ cuối tuần, đi điều dưỡng phục hồi sức khoẻ. Những lao động xuất sắc được đi tham quan, nghỉ mát tại nhiều vùng có khí hậu tốt trên thế giới.
Đảm bảo thu nhập cho người lao động, phấn đấu mọi người đều có việc làm ổn định và được hưởng các chế độ chính sách cao hơn luật định…là mục tiêu mà Công đoàn ngành Than luôn hướng tới và nỗ lực thực hiện. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần khẳng định: Ở Vinacomin, người lao động là trung tâm.

Nguồn : (vinacomin)

Ký kết hợp tác toàn diện với Vietinbank

Chiều 30/9, tại Hà Nội, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) đã tổ chức đánh giá kết quả hợp tác giai đoạn 2007-2013 và ký kết hợp tác toàn diện giai đoạn 2013-2018, đưa mối quan hệ hợp tác giữa hai bên lên một tầm cao mới.

Ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược từ năm 2007, Vinacomin và Vietinbank đã từng bước cụ thể hóa các nội dung trong thỏa thuận hợp tác một cách hiệu quả, cùng nhau vượt qua khó khăn, thách thức và ngày càng phát triển lớn mạnh theo các định hướng chiến lược của hai bên.

Từ năm 2007 đến nay, Viettinbank đã tài trợ cho các nhu cầu tín dụng của Vinacomin và các đơn vị thành viên để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm cũng như đầu tư cho các dự án lớn, trọng điểm theo quy hoạch ngành than được Chính phủ phê duyệt.

Vietinbank luôn ưu tiên cấp tín dụng đối với các nhu cầu vốn ngắn hạn, trung dài hạn, tài trợ thương mại và các nhu cầu vay vốn khác của Vinacomin và các dự án trọng điểm với tổng dư nợ luôn ở mức trên 10.000 tỷ đồng.

Nhiều dự án lớn của Vinacomin đã được Vietinbank cam kết tài trợ vốn như: 8.000 tỷ đồng cho dự án khai thác hầm lò mỏ than Khe Chàm II-IV; 3.000 tỷ đồng cho dự án khai thác hầm lò mỏ than Núi Béo; 1.000 tỷ đồng cho dự án khai thác phần lò giếng mỏ Nam Mẫu; 1.000 tỷ đồng cho dự án nhà máy tuyển than Khe Chàm; 2.100 tỷ đồng cho Dự án nhà máy sản xuất Alumin Nhân Cơ; 1.300 tỷ đồng cho dự án Amon Nitrat…

Các sản phẩm tín dụng Vietinbank cung cấp cho Vinacomin và các đơn vị thành viên bao gồm: cho vay tài trợ vốn lưu động, cho vay tài trợ dự án, bảo lãnh, chiết khấu chứng từ, thuê mua tài chính, tư vấn và đầu tư trái phiếu… với chính sách về lãi suất và phí ưu đãi theo quy chế dành cho cấp khách hàng chiến lược quan trọng.

Vietinbank cũng là nhà đầu tư lớn nhất đối với các khoản trái phiếu đã được Vinacomin phát hành. Đặc biệt, Vietinbank và Vinaocmin đã phối hợp nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ chuyên biệt, đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng của Vinacomin và các đơn vị thành viên.

Với mong muốn tiếp tục đẩy mạnh sự hợp tác có hiệu quả mà hai bên đã đạt được trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay, Vinacomin và Vietinbank tiếp tục ký kết hợp tác toàn diện giai đoạn 2013-2018, nâng mối quan hệ giữa hai bên lên một tầm cao mới.

Phát biểu tại Lễ ký kết, lãnh đạo Vinacomin khẳng định, Vinacomin mong muốn Vietinbank tiếp tục là nhà tài trợ vốn lớn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinacomin. Vinacomin sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Vietinbank trong việc tham gia thu xếp, tài trợ vốn, đồng thời tạo điều kiện cho các sản phẩm dịch vụ của Vietinbank tiếp cận tới các doanh nghiệp trong Tập đoàn.

Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo VietinBank cũng cho biết, VietinBank mong muốn tiếp tục là nhà tài trợ vốn lớn nhất và là ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính – ngân hàng chủ đạo cho Vinacomin với nhiều ưu đãi nhất. Ngoài ra, VietinBank cũng sẽ tiếp tục phối hợp với Vinacomin thiết kế các sản phẩm phù hợp với đặc thù hoạt động của Vinacomin như sản phẩm tài khoản tích lũy trả nợ, các giải pháp quản trị dòng tiền, các sản phẩm cấu trúc về lãi suất hoặc ngoại tệ.

Nguồn : (Vinacomin)

Gắn lương, thưởng với công tác an toàn: Biện pháp nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động

Công tác đảm bảo an toàn trong sản xuất luôn được Tập đoàn và các đơn vị thành viên đặc biệt quan tâm và xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và tiến bộ thời gian qua song số lượng sự cố tai nạn lao động nặng vẫn không giảm. Để xảy ra tình trạng trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, phải thẳng thắn nhìn nhận là do chưa có chế tài phù hợp nhằm nâng cao ý thức và gắn trách nhiệm của người lao động với công tác an toàn.

Còn nặng tính răn đe, trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao

Thực tế, từ năm 2003, Tập đoàn đã có văn bản quy định về kỷ luật, trách nhiệm vật chất trong công tác an toàn bảo hộ lao động, ban hành theo Quyết định số 339/QĐ – LĐTL – AT. Đây gần như là văn bản duy nhất của Tập đoàn quy định chi tiết các mức độ xử lý lỗi về an toàn lao động gắn với tiền lương áp dụng thống nhất trong toàn Tập đoàn. Theo đó, người lao động chỉ được hưởng đủ lương sản phẩm hoặc lương thời gian nếu trong quá trình làm việc không vi phạm quy phạm an toàn, biện pháp an toàn và thực hiện đủ, có chất lượng quy trình kỹ thuật. Ngoài ra, hằng năm, Tập đoàn ban hành cơ chế tiền thưởng mục tiêu công tác an toàn vệ sinh lao động cho đối tượng là lãnh đạo các đơn vị. Tập đoàn cũng ban hành quyết định số 1015/QĐ-HĐTV quy định mức xử lý người đứng đầu doanh nghiệp khi để xảy ra tai nạn lao động chết nhiều người. Việc xử lý không xét đến nguyên nhân mà chỉ xem xét trách nhiệm, năng lực quản lý của người đứng đầu.

Tại các công ty con, các đơn vị trực thuộc, việc triển khai xây dựng phương pháp trả lương gắn với trách nhiệm của mỗi cán bộ công nhân viên với công tác an toàn lao động được tiến hành trên cơ sở quy định của Tập đoàn đã đề cập ở trên và được cụ thể hóa trong Thỏa ước lao động tập thể phù hợp với đặc thù của mỗi đơn vị. Chẳng hạn, Công ty than Vàng Danh xác định cụ thể mức tiền lương an toàn đối với từng công việc. Nếu người lao động không thực hiện đầy đủ các biện pháp, quy trình an toàn thì sẽ không được hưởng lương của công việc đó. Tại Công ty than Hòn Gai, chế độ trả lương đối với CNCB vi phạm bị xử lý xếp loại B,C theo nội duy lao động của Công ty. CNCB vi phạm còn phải học lại an toàn, phải trả thù lao cho người huấn luyện ngoài giờ theo thỏa thuận, phải bồi thường thiệt hại do vi phạm gây ra… Công ty than Khe Chàm tính tiền lương theo công thức: Q=Q1+Q2, trong đó, Q1 là phần tiền lương được trả theo năng suất, chất lượng sản phẩm và được thanh toán tối đa 90%; phần thứ 2 – Q2 được trả theo thực hiện công tác an toàn lao động và được thanh toán tối đa 10%.v.v

Tuy nhiên, qua phân tích cho thấy, việc trả lương gắn với công tác an toàn lao động mặc dù đã được Tập đoàn và các đơn vị quan tâm nhưng chế độ khuyến khích người làm tốt công tác an toàn còn mờ nhạt, mang nặng biện pháp răn đe; trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao.

Đã có phạt phải có thưởng

Xuất phát từ thực tế đó cộng với cơ sở phân tích kết cấu tiền lương của Tập đoàn, và cũng là để nâng cao hơn nữa công tác đảm bảo an toàn trong SXKD, đặc biệt là trong bối cảnh tỷ trọng khai thác than bằng công nghệ hầm lò ngày càng gia tăng, chưa kể thời gian tới sẽ đưa vào vận hành thêm các nhà máy điện, hóa chất hiện đại với quy mô lớn; thời gian qua, Tập đoàn đã nghiên cứu, xây dựng cơ chế trả lương và biện pháp kinh tế nhằm gắn trách nhiệm của người lao động với an toàn lao động.

Theo dự thảo cơ chế mới, về cơ bản, tiền lương của người lao động được kết cấu làm 2 phần. Đó là lương theo sản phẩm, công việc và tiền lương thực hiện công tác an toàn. Cơ chế thanh toán, các nhóm lỗi không được hưởng toàn bộ hoặc một phần tiền lương an toàn được Tập đoàn quy định hết sức cụ thể.

Điểm mới trong cơ chế trả lương và biện pháp kinh tế gắn với công tác an toàn mới này là giải pháp thưởng cho công tác đảm bảo an toàn. Mục tiêu xuyên suốt của Tập đoàn là dùng các giải pháp mang tính khuyến khích, động viên (không trừng phạt) để mọi người nâng cao ý thức trách nhiệm, đề cao vai trò cá nhân, vai trò người đứng đầu trong công tác an toàn lao động. Nguyên tắc thưởng an toàn đảm bảo tính dân chủ, chính xác, công khai, công bằng, thành tích đến đâu, thưởng đến đó. Mức thưởng mục tiêu an toàn được xác định theo năm. Hàng tháng, quý được tạm ứng theo kết quả thực hiện công tác an toàn.

Hình thức và mức thưởng như sau, tất cả mọi người lao động đều được treo thưởng an toàn với mức thưởng tính theo tiền lương an toàn, hệ số 3-1. Quỹ thưởng cá nhân chiếm 5% tổng quỹ lương. Nhóm bị tác động bởi công tác an toàn lao động ở mức độ cao, nếu không mắc lỗi an toàn trong năm thì sẽ được thưởng 3 tháng mức tiền lương an toàn. Nhóm bị tác động bởi công tác an toàn ở mức độ trung bình và thấp sẽ được thưởng 1 tháng. Thưởng tập thể vẫn duy trì như cơ chế hiện hành, chiếm 0,2% quỹ lương.

Ngoài ra, trong cơ chế mới lần này, Tập đoàn đề xuất việc thưởng phát hiện nguy cơ gây mất an toàn. Đây là cách thưởng với mục đích “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nhằm khuyến khích người lao động quan tâm quan sát, ghi lại và kịp thời báo cáo nguy cơ mất an toàn cho các bộ phận có thẩm quyền để kịp thời có biện pháp sửa chữa, khắc phục, tránh lặp lại. Cũng theo cơ chế mới, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị được đề cao hơn.

Cần sự đồng lòng vào cuộc của tất cả các đơn vị

Đảm bảo an toàn trong SXKD là nhiệm vụ hết sức quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, phạm vi tác động lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của Tập đoàn nói chung và bản thân mỗi đơn vị nói riêng. Chính vì vậy, rất cần sự chung tay của tất cả đơn vị thành viên trong Tập đoàn trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Cũng chính bởi mức độ quan trọng của vấn đề này nên trước khi ban hành quyết định, Tập đoàn đã có bản dự thảo cơ chế mới về trả lương và các biện pháp kinh tế để gắn trách nhiệm của người lao động với công tác an toàn. Trên cơ sở đó, Tập đoàn yêu cầu tổng giám đốc, giám đốc các đơn vị nghiên cứu kỹ các cơ chế theo bản dự thảo, nhất là về khía cạnh pháp lý và khả năng áp dụng trong thực tiễn, đồng thời đề xuất thêm các cơ chế quản lý phù hợp. Tập đoàn, thông qua Ban Lao động tiền lương, sẽ tổng hợp, nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cơ chế trả lương mới gắn với công tác an toàn, làm sao để phát huy cao nhất ý thức trách nhiệm của mỗi CNCB vì sự phát triển bền vững ngành Than – Khoáng sản Việt Nam.

Nguồn : (Vinacomin)

Vinacomin giao ban điều hành sản xuất quý 4

Ngày 01 tháng 10 năm 2013, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam đã tổ chức giao ban tình hình sản xuất 9 tháng đầu năm và bàn nhiệm vụ giải pháp quý 4 năm 2013.

Trong 9 tháng đầu năm nay, Vinacomin vẫn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề tiêu thụ than chậm do xuất khẩu giảm. Mặt khác trong quý 3 vừa qua, than bán cho các hộ tiêu thụ điện trong nước giảm do EVN vận hành hết công suất các nhà máy thuỷ điện, giảm phát công suất các nhà máy nhiệt điện đốt than. Tính đến nay, lượng than tồn kho vẫn giữ ở mức 7,8 triệu tấn. Tuy nhiên Tập đoàn đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp trong điều hành như tiết giảm tối đa chi phí sản xuất, điều động lao động linh hoạt, sản xuất các chủng loại than phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường… Do vậy về cơ bản việc làm của người lao động được giữ vững. Tư tưởng người lao động yên tâm, gắn bó chờ cơ hội để phát triển.

Về sản xuất, trong 9 tháng, toàn Tập đoàn sản xuất 31 triệu tấn than nguyên khai; bóc đất 152 triệu m3; đào lò 258 ngàn mét; tiêu thụ 28,2 triệu tấn than sạch, trong đó xuất khẩu 8,4 triệu tấn; doanh thu 68 ngàn tỷ đồng, trong đó doanh thu than đạt 38 ngàn tỷ đồng. “Với tình hình hiện nay, trong quý 4 năm 2013, Vinacomin sẽ phấn đấu tiêu thụ cả năm đạt gần 39 triệu tấn than hoặc 41 triệu tấn than, giảm mức tồn kho, đảm bảo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, tình hình sản xuất quý 4 năm nay và kế hoạch năm 2014, bức tranh sẽ có thể có nhiều gam màu” – Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn nhận định. Ông Chuẩn lý giải, gam màu sáng đó là, tình hình tiêu thụ than hiện đã có hợp đồng xuất khẩu trong quý 4 gần 3 triệu tấn. Nhu cầu than nội địa dự kiến cũng sẽ tăng 2,5 đến 3 triệu tấn trong năm 2014. Như vậy, việc đưa mức tiêu thụ đạt 39 đến 40 triệu tấn của cả năm là không khó. Ngoài ra, hiện nay nhà máy alumin Tân Rai đã vận hành chạy thử đạt 100% công suất, sẽ sớm bàn giao đưa vào vận hành chính thức. Tiêu thụ alumin cũng đã đạt 80 ngàn tấn. Dự kiến trong quý 4, alumin cũng sẽ tham gia 130 ngàn tấn nữa… Đến năm 2014, nhà máy Tân Rai sẽ vào vận hành ổn định, sản lượng khoảng 400 – 450 ngàn tấn. Các sản phẩm điện, khoáng sản cũng đạt được kế hoạch đề ra. Còn gam màu không sáng, đó là việc các chính sách áp vào hòn than sẽ nặng nề hơn như, thuế tài nguyên, chính sách về môi trường gia tăng… Do vậy không còn cách nào khác là phải đẩy mạnh hơn nữa việc tiết kiệm, hạ giá thành. Ngoài ra, tình trạng thiếu lao động thợ lò, thừa lao động gián tiếp cũng là bài toán khó. “Đây là những vấn đề lớn, cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị” – ông Chuẩn nói.

Cũng tại hội nghị, Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn chỉ đạo các đơn vị khai thác chế biến kinh doanh than, các đơn vị khác đứng chân tại vùng Quảng Ninh tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động thi đua chào mừng 50 năm ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh, coi đây là những bông hoa đẹp chào mừng tỉnh Quảng Ninh 50 năm thành lập. Về công tác an toàn lao động, Tổng giám đốc chỉ đạo các ban Tập đoàn phối hợp với các tổ chức đoàn thể quần chúng tổng kiểm tra, rà soát việc chấp hành nội quy, quy phạm an toàn trong sản xuất, phấn đấu đảm bảo an toàn, hạn chế thấp nhất những sự cố tai nạn đáng tiếc xảy ra.

Nguồn : (Vinacomin)

CNCB Cơ quan Tập đoàn quyên góp ủng hộ hơn 82 triệu đồng cho đồng bào miền Trung bị thiệt hại do bão lũ gây ra

Chiều 7/10, CNCB Cơ quan Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam ở cả hai điểm cầu: Trụ sở Tập đoàn (Hà Nội) và Trung tâm điều hành sản xuất than ở Quảng Ninh (Hạ Long) đã tổ chức quyên góp ủng hộ cho đồng bào miền Trung bị thiệt hại do bão lũ gây ra. Tính đến thời điểm này, tổng số tiền CNCB Cơ quan Tập đoàn quyên góp được là hơn 82 triệu đồng.

Được biết, tuần qua, cơn bão số 10 đã đổ bộ vào các tỉnh miền Trung nước ta, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Để góp phần chia sẻ khó khăn với đồng bào các tỉnh bị ảnh hưởng do bão số 10 gây ra, ngày 2/10/2013, Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra lời kêu gọi vận động toàn dân ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung bị thiệt hại do bão lũ gây ra.

Theo hướng dẫn của Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là mỗi cán bộ công nhân viên ủng hộ ít nhất 1 ngày lương, Tổng Giám đốc và Ban Thường vụ Công đoàn Tập đoàn đã có công văn số 150 ngày 7/10/2013 gửi các công ty con, đơn vị trực thuộc về việc đóng góp kinh phí ủng hộ đồng bào các tỉnh bị thiệt hại để khắc phục hậu quả. Với tinh thần, truyền thống tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách của người Việt Nam, CNCB Cơ quan Tập đoàn đã tổ chức vận động CNCB chung tay góp sức cùng đồng bào các tỉnh bị thiệt hại do bão lũ gây ra sớm ổn định cuộc sống.

Một số hình ảnh tại buổi quyên góp, ủng hộ:

 

Nguồn : (Vinacomin)

Vinacomin: 9 tháng đầu năm doanh thu 69 ngàn tỷ đồng

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Vinacomin chỉ đạo các đơn vị tập trung cho công tác tiêu thụ than, phấn đấu cả năm tiêu thụ trên 39 triệu tấn than, giảm tồn kho và ổn định việc làm cho người lao động.

Trong 9 tháng đầu năm, than nguyên khai sản xuất 31 triệu tấn, than tiêu thụ 28,2 triệu tấn; bóc đất 152 triệu mét khối; đào 258 km đường lò, trong đó gần 40 km đường lò xây dựng cơ bản. Cùng với nhiều sản phẩm như: điện trên 6 triệu kWh; khoáng sản trên 500 tấn thiếc thỏi, gần 6 ngàn tấn kẽm thỏi, 35 ngàn tấn tinh quặng đồng, trên 7 ngàn tấn đồng tấm; hóa chất 46 ngàn tấn thuốc nổ và nhiều sản phẩm cơ khí, dịc vụ khác… doanh thu toàn Tập đoàn đạt gần 69 ngàn tỷ đồng, trong đó doanh thu than là chủ yếu với 38 ngàn tỷ đồng. Lợi nhuận ước đạt 1.500 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của CNCB đạt 7,2 triệu đồng/người/tháng.

Trong 9 tháng đầu năm nay, Vinacomin đã có nhiều giải pháp đồng bộ trong công tác điều hành như tăng cường quản lý đầu tư, đẩy mạnh các tiến độ dự án trọng điểm, thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác đầu tư để huy động vốn, linh hoạt trong xử lý tiền và quản lý tài chính, sắp xếp tổ chức, tinh giảm biên chế… Ngoài ra, Vinacomin cũng đã chủ động kiến nghị với Trung ương Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành về những khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Do vậy, toàn Tập đoàn đã giữ vững việc làm và ổn định mức thu nhập cho người lao động. Tư tưởng của công nhân, cán bộ ổn định và đoàn kết, đồng lòng khắc phục khó khăn. Tuy nhiên, do tiêu thụ than chậm nên tồn kho hiện nay vẫn ở mức cao, lên đến 7,8 triệu tấn, trong đó, than sạch 5,6 triệu tấn.

Quý IV – 2013, Vinacomin tập trung đẩy mạnh công tác tiêu thụ để giảm tồn kho, tiếp tục sắp xếp lại công tác tổ chức sản xuất, thực hiện lộ trình đề án tái cơ cấu đảm bảo tiến độ và hiệu quả, phấn đấu ổn định việc làm và thu nhập, tư tưởng cho người lao động. Về sản lượng tiêu thụ than quý IV đặt ra 10,8 triệu tấn, trong đó bán trong nước 7,7 triệu tấn, xuất khẩu 3,1 triệu tấn, để đạt mức tiêu thụ 39 triệu tấn trong cả năm 2013. Vinacomin cũng sẽ tổ chức tổng kiểm tra việc chấp hành nội quy, quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn của các đơn vị để hạn chế thấp nhất sự cố, tai nạn lao động. Ngoài ra, Vinacomin chỉ đạo các đơn vị tiếp tục rà soát, thực hiện tiết giảm chi phí sản xuất của các đơn vị, nâng cao hiệu quả công tác đầu tư cũng như trong sản xuất, kiên quyết chỉ đạo tăng cường sự phối hợp trong Tập đoàn về sử dụng các sản phẩm dịch vụ với chất lượng và giá cạnh tranh, tiếp tục triển khai thực hiện tái cơ cấu Tập đoàn, làm tốt công tác phối hợp với các bộ ngành để giải quyết những vướng mắc, tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất, ổn định việc làm cho người lao động v.v.
Nguồn : (Vinacomin)

Viện KHCN mỏ – Vinacomin: Làm việc với Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh

Trong giai đoạn 2013-2014, Viện Khoa học công nghệ mỏ – Vinacomin được Bộ Công thương giao thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khai thác và tuyển khoáng hợp lý quặng thiếc sa khoáng đáp ứng yêu cầu kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng Quỳ Hợp-Nghệ An” thuộc “Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm về công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản” thực hiện đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”.

Trong quá trình thực hiện đề tài, vừa qua, đoàn công tác của Viện Khoa học công nghệ mỏ – Vinacomin do Phó Viện trưởng ThS. Hoàng Minh Hùng cùng nhiều cán bộ liên quan thuộc Phòng Công nghệ Tuyển – Luyện kim, Phòng Công nghệ Khai thác Lộ thiên và Phòng Nghiên cứu Công nghệ Môi trường của Viện đã làm việc với Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh để phối hợp triển khai thực hiện đề tài. Đoàn cán bộ của Viện đã cùng với cán bộ của Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh tiến hành khảo sát thực tế hiện trạng công tác khai thác, tuyển khoáng, môi trường các mỏ quặng thiếc sa khoáng vùng Quỳ Hợp – Nghệ An.

Nguồn : (Vinacomin)

Trung tâm nhiệt điện lớn nhất của cả nước

Với lợi thế nguồn tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là than, trong định hướng phát triển, đến năm 2015 Quảng Ninh sẽ là một trung tâm nhiệt điện lớn của cả nước. Để hướng tới phát triển bền vững, Quảng Ninh sẽ chú trọng đảm bảo cân bằng giữa phát triển công nghiệp nhiệt điện đi đôi với bảo vệ môi trường.

Theo quy hoạch đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh sẽ có 14 nhà máy nhiệt điện tập trung tại các địa phương Uông Bí, Đông Triều, Hạ Long, Cẩm Phả và Hải Hà. Hiện nay đã có 6 dự án hoàn thành và đi vào vận hành, 3 dự án đang triển khai, số còn lại trong quy hoạch điện VII do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 2011.

Uông Bí là địa phương đầu tiên trên địa bàn tỉnh QN có nhà máy nhiệt điện, sau dự án nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 (300MW) đi vào vận hành ổn định từ năm 2009, tháng 4-2013 vừa qua dự án Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 2 công suất 330MW đã chính thức phát điện. Dự án hoàn thành đúng thời điểm cả nước đang cần tăng cường công suất phát điện, điều này khẳng định vai trò của Nhiệt điện Uông Bí trong việc phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Dự án Nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 được xây dựng và triển khai tại phường Hà Khánh, TP Hạ Long. Trong đó, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 1 có công suất 600MW. Dự án đã vận hành đi vào hoạt động và chính thức hoà lưới điện quốc gia từ tháng 3-2010. Dự án Nhiệt điện Quảng Ninh 2 cũng có công suất 600MW, khởi công xây dựng ngày 28-5-2007. Tính đến thời điểm hiện tại, tiến độ thi công ước đạt 92,8%.

Đối với vùng than Cẩm Phả, các nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả 1, 2 có công suất 600MW, do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư đều đã vận hành phát điện cho hệ thống lưới điện quốc gia. Tháng 4 vừa qua, thêm một nhà máy nhiệt điện nữa của Vinacomin khánh thành tại xã Bình Khê, huyện Đông Triều. Nhà máy này có công suất 440MW, sử dụng công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn thân thiện môi trường, sử dụng và tận thu nguồn than chất lượng thấp tại vùng Mạo Khê để phát điện. Đặc biệt, cùng với dự án Nhiệt điện Mông Dương 1 có công suất 1.000MW, dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2015, Nhiệt điện Mông Dương 2 với công suất lên tới 1.200MW đang khẩn trương lắp đặt. Khi đi vào hoạt động, hằng năm Nhà máy sẽ phát điện lên lưới điện quốc gia 6,5 tỷ kWh qua đường dây 500kV mạch kép Mông Dương, Trạm biến áp 500kV Quảng Ninh. Theo kế hoạch, tổ máy số 1 sẽ được hoàn thành, đưa vào vận hành thương mại sau 40 tháng (quý I-2015), tổ máy số 2 sẽ đưa vào vận hành sau 46 tháng (dự kiến quý 3-2015). Đến thời điểm này, tiến độ thi công các hạng mục như lắp đặt phần vỏ trên cho tuabin số 2, hàn đường ống ngưng tụ hơi nước cho tuabin số 2, nâng thanh móc cho lò hơi số 2, lắp ráp lò hơi phụ… đạt được khoảng 89%, riêng tiến độ xây dựng đạt 73%. Đặc biệt, để các hạng mục được triển khai theo đúng kế hoạch đề ra, các nhà thầu đã huy động trên 6.500 cán bộ, kỹ sư, công nhân trong nước và nước ngoài tham gia lao động trực tiếp tại công trường. Khi hoàn thành, Nhiệt điện Mông Dương 2 sẽ trở thành nhà máy nhiệt điện lớn nhất cả nước. Cùng với các nhà máy nhiệt điện trên, dự án Nhiệt điện Thăng Long công suất 600MW xây dựng tại huyện Hoành Bồ hiện đang trong giai đoạn triển khai mặt bằng. Dự kiến giai đoạn 1 của dự án sẽ vận hành vào năm 2017.

Có thể thấy khi các dự án nhiệt điện đang xây dựng, lắp đặt đi vào vận hành ổn định, Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm sản xuất điện lớn nhất cả nước với tổng công suất phát điện đến năm 2015 dự kiến là 5.150MW.

Tuy nhiên, với việc đổi mới mô hình tăng trưởng, từ “nâu” sang “xanh”, Quảng Ninh sẽ chú trọng tới công nghệ nhiệt điện thân thiện với môi trường để phát triển một cách bền vững.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Vinacomin ổn định sản xuất, đón đầu giai đoạn mới

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội được Chính phủ trình ra Quốc hội nêu rõ, trong thời gian tới Chính phủ tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng, dịch vụ công thiết yếu như điện, than, xăng dầu, nước, dịch vụ y tế… theo lộ trình phù hợp, bảo đảm công khai minh bạch, tính đúng, tính đủ nhằm tạo sự hài hòa cho người sử dụng và người cung cấp dịch vụ…

Giảm xuất khẩu, hướng tới nội địa

Hiện nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang là hộ tiêu thụ than lớn nhất của thị trường nội địa. Trong quy hoạch điện VII có điều chỉnh, từ sau 2018, nguồn điện huy động từ thủy điện sẽ giảm dần (nguồn đặt đã hết – PV) trong khi nhiệt điện tăng nhanh, từ 25% hiện tại lên trên 50% tổng công suất hệ thống. Và khi nhiệt điện khí hiện mới chỉ triển khai trong nội bộ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thì đương nhiên nhiệt điện than vẫn không thể né tránh vị trí tiên phong trong tương lai gần. Từng đó than phục vụ quả là điều không đơn giản khi thời điểm 2018 không còn xa.

“Đến 1/8 vừa rồi, các cơ quan chức năng mới quyết định điều chỉnh giá than bán cho điện. Giá bán mới đã đạt 100% giá thành (trước đó chỉ bằng 86%) sản xuất năm 2013. Đó là thông tin dù muộn nhưng hết sức phấn khởi, bởi yếu tố thị trường đã được trả lại cho giá than và giá điện. Điều này giúp khả năng tài chính của Vinacomin được cải thiện và cơ hội đón đầu nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong thời gian tới cũng sáng sủa hơn”, Phó Tổng giám đốc, người phát ngôn Vinacomin Nguyễn Văn Biên khẳng định. Xác định rõ thời điểm sau 2018, khi công suất từ các nguồn huy động từ các nhà máy nhiệt điện than tăng nhanh theo chỉ đạo của Chính phủ, nguồn than cung cấp từ Vinacomin sẽ buộc phải tăng lên gấp rưỡi hiện tại.

“Để tăng năng suất từ 40 lên 60 triệu tấn than/năm, không có cách nào khác ngoài việc tăng chậm, chắc. Tăng công suất cũng như bước lên cầu thang vậy, từng bước từng bước một. Sau 40 sẽ là 45, 50 rồi nâng dần lên 55, 60 triệu tấn. Nếu ai đó nói đầu tư mạnh cho Vinacomin năm sau tăng gấp rưỡi năm trước là không đúng”, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Văn Biên đặt vấn đề. Còn nhớ, suốt một thời gian dài, giá than bán cho điện chỉ đạt 50%, cùng lắm 60% giá thành sản xuất. Tình hình đó khiến ngành than buộc phải khai thác “cố”, nhằm có một lượng dôi dư phục vụ xuất khẩu nhằm bù vào chi phí.

Riêng với xuất khẩu, thông tin của Vinacomin cũng cho hay, sau khi hạn chế từ giữa năm vì không được giá (thuế xuất khẩu tăng), phần lớn khách hàng truyền thống của Tập đoàn đã chuyển hướng sang Indonesia, Nga, Mông Cổ, Triều Tiên, Ukraina… Thực tế đó chứng tỏ, vị trí của Vinacomin trên bản đồ xuất khẩu than thế giới cũng không phải ghê gớm lắm, xuất khẩu than không thể là cái cớ để Vinacomin làm cao với Chính phủ như ai đó ác mồm. Bản thân lãnh đạo Vinacomin cũng xác định, nếu thị trường nội địa tiêu thụ trọn vẹn lượng than sản xuất, đồng thời giá bán được định đoạt theo thị trường thì Tập đoàn cũng chẳng dại gì mang nguyên liệu thô “hiến” cho nước ngoài, rồi giơ đầu chịu báng. Vấn đề là xuất khẩu vào lúc này cũng có 2 mặt của nó. Ngoài việc tiêu thụ nốt phần than tồn kho, dôi dư, xuất khẩu còn mang lại nguồn ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt năm nay khi thu ngân sách đang gặp nhiều khó khăn, đương nhiên lượng ngoại tệ có được từ xuất khẩu than nghiễm nhiên được coi là bù đắp quan trọng cho thiếu hụt đó…

Như vậy, nút thắt lớn nhất với riêng ngành than – khoáng sản đã được tháo gỡ. Vấn đề là hướng đi tiếp theo của Tập đoàn sẽ ra sao, thực hiện thế nào trong giai đoạn quá độ đón đầu nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới?

Giữ chân thợ lò bằng niềm tin

Sau khi giá than cho điện đã được giải quyết thì vấn đề lớn nhất của Vinacomin hiện tại là giữ vững nhịp sản xuất, ổn định tinh thần công nhân, đặc biệt là công nhân hầm lò để sẵn sàng tăng tốc sau khi ổn định nguồn lực.

Trong buổi họp báo quý III/2013 mới đây, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Văn Biên đã thông báo mức thu nhập trung bình 7,2 triệu đồng/tháng/người lao động toàn Tập đoàn. Theo tìm hiểu thực tế, từ cách đây 2 năm, 10 triệu/tháng không còn là mức lương mong chờ của công nhân hầm lò nữa rồi. Bằng chứng là người Quảng Ninh vào làm việc trong ngành than khoảng 5 năm gần đây dường như đã “vắng bóng”. Thợ lò tuổi nghề ngắn, nguy hiểm bủa vây, bệnh nghề nghiệp rình rập… nếu không trả được một mức lương “đảm bảo cuộc sống” thì quả khó nói đến chuyện họ gắn bó với công việc.

Theo tìm hiểu của phóng viên, sức ép khai thác với công suất năm sau cao hơn năm trước thực chất là do lịch sử để lại. Bản thân lịch sử ngành than lại chịu nhiều thiệt thòi từ chính… chính sách bù giá cho điện. Nguyên Tổng giám đốc Đoàn Văn Kiển từng tâm sự, là người đứng đầu ngành, liệu có đồng chí nào có thể ngẩng cao đầu nếu thu nhập của công nhân ngành mình tụt dần đều không? Với anh em ngành than, ông cũng như vậy, ông không thể “lờ” đi đời sống công nhân khi đó là mối quan tâm hàng đầu của nhiều thế hệ lãnh đạo. “Giá than bán cho điện được “định hướng” suốt một thời gian dài, chỉ dao động từ 50, cùng lắm là 60% giá thành sản xuất. Trong khi gần 10 vạn con người ngành than luôn là trụ cột gia đình, kéo theo sau lưng gần nửa triệu người tỉnh Quảng Ninh. Chúng tôi lấy đâu làm nguồn bù, nếu đó không phải xuất khẩu than? Ngành than không có lỗi khi vừa phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị, vừa phải gồng mình lo an sinh xã hội cho 40% dân số địa phương. Trong 20 năm làm Tổng giám đốc rồi Chủ tịch HĐQT, tôi chưa thấy ngành điện than vãn lấy một ngày vì không đủ than đốt điện cho các nhà máy của họ! Đừng nói đến chuyện lấy thu nhập của anh em để đánh đu với thị trường! Họ xả thân vì ngành, làm ra thật nhiều than phục vụ phát triển, họ phải được hưởng những gì tốt nhất” – ông Kiển thể hiện quan điểm một cách mạnh mẽ.

7,2 triệu đồng/tháng là mức lương bình quân 14 vạn người lao động ngành. Quan điểm phát triển chính sách thu nhập của Vinacomin là ưu tiên tối đa cho lực lượng lao động sản xuất trực tiếp, giảm dần khu vực gián tiếp cả về số lượng lẫn mức lương. Giữ gìn lao động cũng chính là gìn giữ sự nghiệp sản xuất than.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Vinacomin: Bức tranh tài chính đang dần ổn định

Theo Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Nguyễn Văn Biên, số nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu của Vinacomin từ khoản phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu tháng 9 vừa qua nhiều hơn dự kiến. Nguyên nhân một phần do mức lãi suất tương đối tốt, một phần do sự đánh giá tín nhiệm của các nhà đầu tư vào chỉ số tài chính của Tập đoàn vẫn cao.

Với nguồn thu từ phát hành trái phiếu trong kỳ hạn 5 năm, Vinacomin sẽ có điều kiện sử dụng nguồn vốn này cho các dự án dài hạn trong cơ cấu vốn của mình, không phải vay ngắn hạn để đầu tư. Khoản vốn thu được từ phát hành trái phiếu sẽ được phân bổ vào 3 nhóm dự án trọng điểm: 50% cho các dự án than, 30% cho các dự án bauxite, còn lại là dành cho dự án amôn nitrat.

Về vấn đề thoái hết vốn các khoản đầu tư ngoài ngành, PTGĐ Biên cho biết, hiện Vinacomin đầu tư ngoài ngành vào lĩnh vực tài chính khoảng 500 tỷ đồng, chiếm khoảng 1,5% so với vốn chủ sở hữu 34.000 tỷ đồng. Trong đó, 300 tỷ đồng vốn đầu tư vào ngân hàng, 70 tỷ đồng đầu tư vào chứng khoán, còn lại là bảo hiểm… Chậm nhất là từ nay tới năm 2015 Vinacomin sẽ thoái vốn xong.

Cũng theo PTGĐ Nguyễn Văn Biên, khoản nợ 2.000 tỷ đồng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã được giải quyết từ nhiều tháng nay. Hiện tại, EVN còn nợ tiền than không nhiều, chỉ khoảng trên, dưới 200 tỷ đồng.

Nguồn : (Báo công thương)

Đang xuất khẩu than đã lo nhập khẩu

Ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) trao đổi về việc thoái vốn ngoài ngành và tương lai sẽ phải nhập khẩu than.

CôngThương – Việc thoái vốn của Vinacomin thế nào khi nhiều đơn vị khác đang nơm nớp lo mất vốn chủ sở hữu, thưa ông?

Vinacomin hiện đang tập trung thoái vốn theo lộ trình được Thủ tướng phê duyệt. Tổng vốn đầu tư của tập đoàn vào ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm khoảng trên 500 tỷ đồng. Trong đó, ngân hàng 300 tỷ đồng, chứng khoán 70 tỷ đồng và còn lại là bảo hiểm. Nếu so với vốn chủ sở hữu của tập đoàn (34.000 tỷ đồng), số vốn đầu tư ngoài ngành của tập đoàn chiếm khoảng 1,5%.

Vì sao, tới đây sẽ phải nhập khẩu than, trong khi hiện Vinacomin đang xuất khẩu, thưa ông?
Những năm trước đây, than nội địa bán dưới giá thành, nhà nước phải cân đối nguồn thu bằng việc xuất khẩu than để bù giá cho các hộ tiêu thụ trong nước. Đồng thời, việc xuất khẩu than sẽ thu ngoại tệ để nhập khẩu vật tư thiết bị.
Đến nay, giá than đã bằng giá thành và tới đây, trong năm 2014, chủ trương giá than trong nước sẽ phải bù đắp chi phí và có lãi nên sản lượng than xuất khẩu của Vinacomin chỉ ở mức tối thiểu để ổn định sản xuất và duy trì việc làm cho công nhân.

Lúc này, ý nghĩa của việc xuất khẩu than đã khác trước. Tập đoàn chỉ xuất khẩu phần còn lại sau khi cung ứng đủ nhu cầu trong nước. Năm nay, sản lượng than xuất khẩu sẽ giảm so với kế hoạch đã được phê duyệt. Tương lai sẽ phải nhập khẩu than để phục vụ sản xuất nội địa.

Nguồn : (baocongthuong)

Lào Cai cần tiếp tục thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

LCĐT – Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng, Lào Cai cần tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế để phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ sự phát triển trong những năm tiếp theo.

Chiều nay (2/11), tại Trung tâm Hội nghị của tỉnh, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Đoàn công tác của Chính phủ đã có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Lào Cai.
Tham gia buổi làm việc, về phía Đoàn công tác có đồng chí Giàng Seo Phử, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; lãnh đạo các bộ: Công thương, Tài nguyên – Môi trường, Giao thông – Vận tải, Văn hóa – Thể thao và Du lịch…
Về phía tỉnh Lào Cai có các đồng chí: Nguyễn Văn Vịnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Phạm Văn Cường, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Doãn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; lãnh đạo một số sở, ban, ngành của tỉnh…
Tham gia buổi làm việc còn có đại diện một số tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.
Quang cảnh buổi làm việc.
Tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã báo cáo khái quát với Phó Thủ tướng và Đoàn công tác tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh. Đồng chí nêu rõ: Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013 của tỉnh được thực hiện trong bối cảnh kinh tế thế giới, kinh tế trong nước tiếp tục gặp khó khăn hơn. Trên địa bàn tỉnh, thời tiết diễn biến bất lợi: Rét đậm, khô hạn, thiên tai… gây thiệt hại lớn về người và tài sản ở nhiều địa phương, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống nhân dân; giá cả đầu vào cho sản xuất tăng, trong khi đầu ra khó khăn, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn…
Mặc dù vậy, kinh tế – xã hội của tỉnh vẫn phát triển ổn định và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong đó, GDP tăng hơn 14%; văn hóa, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực; quốc phòng, an ninh được củng cố và giữ vững, hoạt động đối ngoại đạt nhiều kết quả tích cực…
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: Dự kiến hết năm 2013, so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, trong tổng số 18 chỉ tiêu tổng hợp định lượng về kinh tế – xã hội thì có 4 chỉ tiêu vượt mục tiêu; 3 chỉ tiêu đạt mục tiêu; 5 chỉ tiêu đạt trên 90%; 4 chỉ tiêu đạt trên 80% và 2 chỉ tiêu đạt trên 70%…

Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh phát biểu tại buổi làm việc.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cũng báo cáo với Phó Thủ tướng và Đoàn công tác định hướng phát triển của tỉnh Lào Cai trong thời gian tới, với mục tiêu đảm bảo kinh tế phát triển nhanh và bền vững, gắn phát triển kinh tế với ổn định xã hội, để đến năm 2015 xây dựng Lào Cai thành tỉnh phát triển của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Tại buổi làm việc, tỉnh Lào Cai đề nghị Chính phủ và bộ, ngành Trung ương một số nội dung: Hỗ trợ có mục tiêu đầu tư Khu Kinh tế cửa khẩu và Khu hành chính mới; đề nghị Trung ương xem xét và đồng ý chủ trương về Đề án nâng cấp đô thị Sa Pa. Về công nghiệp, đề nghị hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp Tằng Loỏng; chuyển đổi Cụm Công nghiệp Bắc Duyên Hải thành Khu Công nghiệp Bắc Duyên Hải; bổ sung Khu Công nghiệp Tân An – Tân Thượng (Văn Bàn) vào quy hoạch các khu công nghiệp cả nước đến năm 2015; tiếp tục chủ trương xây dựng nhà máy DAP số 3 tại Lào Cai; điều chỉnh nâng giá mua điện của các nhà máy thủy điện. Về giao thông, tỉnh đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai và dự án đường bộ cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Tỉnh cũng kiến nghị Trung ương một số nội dung về nông – lâm nghiệp; về chương trình xóa đói – giảm nghèo và một số vấn đề khác.
Cũng tại buổi làm việc, lãnh đạo một số tổng công ty, doanh nghiệp đang hoạt động tại Lào Cai đã phát biểu nêu những kiến nghị, đề xuất với Phó Thủ tướng và Đoàn công tác, trong đó có vấn đề khai thác và giá bán quặng apatít nguyên liệu.
Đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương đã phát biểu làm rõ thêm những thành tựu, hạn chế cũng như giải đáp về những nội dung liên quan, đồng thời gợi ý cho Lào Cai một số vấn đề phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định: Những thành tựu mà tỉnh Lào Cai đạt được trong thời gian qua là rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước gặp nhiều khó khăn. Thời gian tới, các dự án hạ tầng giao thông, công nghiệp trọng điểm, như đường cao tốc Lào Cai – Nội Bài nối với tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Yên Viên – Lào Cai… cùng nhiều nhà máy lớn trên địa bàn hoàn thành, sẽ tạo cơ hội cho Lào Cai phát triển nhanh hơn nữa.

Phó Thủ tướng phát biểu tại buổi làm việc.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Cơ hội, đồng thời cũng là thách thức đặt ra cho Lào Cai, bởi với đặc thù là tỉnh vùng cao, biên giới, nhiều dân tộc cùng chung sống, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, đặc biệt là cơ sở hạ tầng. Xác định được vấn đề này nên thời gian qua, tỉnh đã có nhiều giải pháp thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Trong điều kiện ngân sách khó khăn, tỉnh nên tiếp tục có những cơ chế, chính sách để huy động được nhiều hơn nữa các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, tiếp tục quan tâm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ sản xuất, bảo vệ doanh nghiệp thông qua việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công tác quản lý thị trường; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại; giá cả…
Về nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, xã hội gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, Phó Thủ tướng cho rằng tỉnh cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả các giải pháp giảm tỷ lệ hộ nghèo nhanh và bền vững, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng cao. Quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong những năm tiếp theo, đồng thời bảo đảm anh ninh chính trị, trật tự – an toàn xã hội…
Về những đề xuất, kiến nghị của tỉnh Lào Cai và các doanh nghiệp, Phó Thủ tướng giao các bộ, ngành hữu quan tiếp thu, xem xét cùng giải quyết, tháo gỡ.
Trước đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Đoàn công tác của Chính phủ đã thăm Khu Công nghiệp Tằng Loỏng (Bảo Thắng) và kiểm tra tình hình sản xuất – kinh doanh của một số nhà máy ở Khu Công nghiệp này.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nghe báo cáo quy hoạch Khu Công nghiệp Tằng Loỏng.
Phó Thủ tướng thăm Nhà máy Luyện đồng Lào Cai (tại Khu Công nghiệp Tằng Loỏng).
Phó Thủ tướng nghe báo cáo tiến độ xây dựng Nhà máy Gang thép Việt – Trung (tại Khu Công nghiệp Tằng Loỏng).

Nguồn : (baolaocai.vn)

Tiếng Việt Khai mạc Giải quần vợt phong trào Vinacomin 2013

Thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao năm 2013, sáng ngày 5/11/2013, tại Công ty than Nam Mẫu, Tập đoàn đã tổ chức khai mạc Giải quần vợt phong trào Vinacomin 2013 chào mừng kỷ niệm 77 năm ngày Truyền thống công nhân Mỏ – Truyền thống ngành Than (12/11/1936-12/11/2013).

Tới dự có đồng chí Phạm Văn Mật – Thành viên HĐTV Vinacomin; đồng chí Phạm Trung Hưng – Chánh Văn phòng Vinacomin, Phó Trưởng ban tổ chức giải; lãnh đạo các Ban điều hành Tập đoàn; Công đoàn TKV; Đảng ủy, Đoàn Than Quảng Ninh; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Tập đoàn và các VĐV.

Tham gia giải năm nay có 19 đơn vị trực thuộc Tập đoàn với tổng số trên 160 vận động viên nam, nữ. Giải được diễn ra từ 4/11-8/11/2013 tại các sân thi đấu quần vợt của Công ty than Nam Mẫu và Trường Cao đẳng nghề mỏ Hữu Nghị.

Đây là hoạt động thể thao lớn trong kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao năm 2013 của Vinacomin chào mừng các ngày lễ kỷ niệm trọng đại của đất nước, của tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn nhằm nâng cao sức khỏe CBCNV, góp phần thực hiện hoàn thành nhiệm vụ SXKD quý IV và cả năm 2013, đồng thời đẩy mạnh phong trào thể thao nói chung, phát triển bộ môn quần vợt nói riêng trong toàn Tập đoàn.

Nguồn : (Vinacomin.vn)

Tập trung đầu tư dự án sản xuất than – khoáng sản

Vinacomin đang tiếp tục rà soát, cắt giảm các dự án, hạng mục đầu tư chưa cấp bách; chỉ giữ lại các dự án, hạng mục chính phục vụ trực tiếp cho sản xuất, các dự án quyết định tăng trưởng của Tập đoàn, của các đơn vị.

Hiện nay, Tập đoàn đang tập trung triển khai các dự án khai thác than hầm lò xuống sâu dưới mức -150 (Công ty than Mạo Khê); -35 khu Lộ Trí (Công ty than Thống Nhất); Dự án Đầu tư khai thác mỏ than Khe Chàm III; -50 mỏ than Ngã Hai (Công ty than Quang Hanh), khai thác phần lò giếng mỏ than Nam Mẫu; khai thác phần dưới mức -50 Mỏ than Hà Lầm (Công ty than Hà Lầm); xây dựng công trình khai thác giai đoạn II mỏ than Mông Dương (Công ty than Mông Dương); đầu tư khai thác phần lò giếng khu Cánh Gà, Mỏ than Vàng Danh…

Bên cạnh đó, Tập đoàn tiếp tục đẩy nhanh việc hiện đại hóa công nghệ khai thác hầm lò bằng việc áp dụng mạnh vì chống thủy lực đơn, giá thuỷ lực di động, cơ giới hóa công tác đào và chống lò khai thông, mở vỉa và chuẩn bị sản xuất ở những nơi có thể cơ giới hóa; đầu tư các thiết bị khoan tự hành phục vụ công tác đào lò, tăng cường đầu tư thiết bị an toàn mỏ hầm lò như hệ thống cảnh báo khí mêtan tại các mỏ hầm lò để đảm bảo an toàn sản xuất.

Tập đoàn cũng lựa chọn phương án đổ thải hợp lý cho các khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả; Đầu tư các thiết bị bốc xúc vận chuyển và triển khai nghiên cứu phương án vận tải hỗ hợp: Băng tải – trục tải – ôtô; tăng cường đầu tư thiết bị bốc xúc, vận tải than cho các mỏ lộ thiên theo nhiều hình thức. Mặt khác, đa dạng hoá các hình thức đầu tư như thuê tài chính, thuê hoạt động thiết bị… để giảm sức ép về vốn đầu tư; lựa chọn hợp lý hình thức thuê đầu tư-xây dựng-vận hành các hệ thống băng tải đá và than tại các công ty sản xuất than nhằm đảm bảo hiệu quả chung.

Tập đoàn cũng tiếp tục thực hiện đầu tư dự án khu liên hợp gang thép Cao Bằng, khu liên hợp gang thép Lào Cai, mở rộng nâng công suất khu mỏ tuyển đồng Sin Quyền, cải tạo nâng cao chất lượng nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên, khai thác lộ thiên khu Đông mỏ thiếc sa khoáng Tĩnh Túc, khai thác tuyển và luyện quặng vàng gốc mỏ vàng Minh Lương – Văn Bàn – Lào Cai, hoàn thành dự án đầu tư khai thác và tuyển quặng Cromit mỏ Cổ Định – Thanh Hóa từ 40.000 tấn/năm lên 80.000 tấn/năm.

Ngoài ra, Tập đoàn còn đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư các dự án mở rộng và nâng công suất khu mỏ đồng Sin Quyền, mỏ sắt Kíp Tước, nhà máy luyện đồng Lào Cai (giai đoạn I) 3 vạn tấn/năm), khai thác mỏ đồng Vi Kẽm, dự án đầu tư khai thác, chế biến magnesite Kong Chro, Gia Lai; Hoàn thành đưa vào vận hành thương mại nhà máy nhiệt điện Mạo Khê. Đồng thời thực hiện tiếp dự án nhà máy nhiệt điện Nông Sơn; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tư nhà máy thuỷ điện Đồng Nai 5./.

Nguồn : (vietnamplus)

Cần nhân rộng những mô hình trình diễn chế biến sâu khoáng sản

Được sự quan tâm của Bộ Công Thương, UBND tỉnh Thái Nguyên, Cục Công nghiệp địa phương, Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN 1 đã phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Thái Nguyên và Công ty TNHH Xây dựng và PTNT Miền Núi xây dựng, triển khai “Mô hình trình diễn kỹ thuật luyện xỉ Titan bằng lò điện hồ quang” từ nguồn kinh phí KCQG năm 2013.

Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Thái Nguyên (TTKC) đã triển khai nhiều hoạt động mang nhiều ý nghĩa. Mô hình luyện titan là một trong những đề án được đánh giá cao về mặt kinh tế và xã hội. Bởi, trên thực tế Titan có những đặc tính rất tốt, sử dụng được trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, đồng thời là một loại kim loại hiếm trên thế giới, nên nhiều nước có nền công nghiệp phát triển lại hạn chế khai thác ở trong nước, mà chủ yếu nhập khẩu tinh quặng thô về để chế biến. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác nguồn quặng này như “thuyền không lái” và xuất khẩu tràn lan sang các nước. Việc làm này đã gây thất thu lớn cho nền kinh tế, vì vậy, đã đến lúc cần phải xây dựng một chiến lược phát triển hợp lý ngành khai thác và chế biến quặng Titan.
Để hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nông thôn phát triển, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Thái Nguyên đã dành nguồn kinh phí khuyến công quốc gia 250 triệu đồng để xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật mới và Công ty TNHH và Phát triển thương mại miền núi – đơn vị tiên phong trong việc đưa dây chuyền công nghệ mới vào chế biến khoáng sản đã triển khai xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật luyện xỉ titan bằng lò điện hồ quang.

Hệ thống điều khiển tự động dây chuyền chế biến xỉ Titan

Tóm tắt quy trình
Cơ sở lý thuyết về công nghệ luyện luyện xỉ titan bao gồm hai quá trình, đó là hoàn nguyên trong trạng thái rắn và hoàn nguyên trong trạng thái lỏng. Khi hoàn nguyên trong trạng thái rắn (tiến hành trong vùng nhiệt độ không cao), chủ yếu oxyt sắt được hoàn nguyên đến kim loại, còn oxyt titan chỉ được hoàn nguyên đến oxyt hoá trị thấp.
Kết quả nhận được thiêu phẩm chứa sắt kim loại dưới dạng các hạt nhỏ nằm xen kẽ các oxyt titan hóa trị bốn và thấp hơn trong hạt Ilmenite. Khi hoàn nguyên trạng thái lỏng, do tiến hành ở nhiệt độ cao hơn, nên oxyt sắt được hoàn nguyên triệt để hơn, hàm lượng FeO trong xỉ giảm xuống còn từ 1-5%, đồng thời có một số các oxyt khó hoàn nguyên cũng được hoàn nguyên một phần, như: Cr2O3, MnO, SiO2, V2O5 … và đi vào kim loại. Oxyt titan cũng hoàn nguyên đến kim loại một phần nhỏ, chủ yếu là hoàn nguyên đến các oxyt hóa trị thấp Ti3O5, Ti2O3 đi vào xỉ. Xỉ titan là dung dịch rắn trên nền oxyt titan.
Tinh quặng ilmenite được sấy phối liệu với than hoàn nguyên chất phụ gia và nạp vào lò điện hồ quang. Quá trình phối liệu trong lò là quá trình vừa hoàn nguyên oxyt sắt trong ilmenite và nấu chảy ilmenite đã hoàn nguyên để phân tách sắt kim loại và xỉ chứa TiO2 . Sau thời gian nấu luyện, cả xỉ và kim loại được tháo ra, thu được gang và xỉ Titan. Việc gia công tiếp theo: Đập, nghiền, sàng và tuyển từ đối với xỉ Titan nhằm tách bỏ các hạt sắt đã hoàn nguyên ra khỏi xỉ thành phẩm. Xỉ thành phẩm qua sàng và tuyển từ đạt cỡ hạt 0.7-0.85mm, được đóng bao hoặc để rời trong kho, còn các hạt xỉ lẫn sắt tách ra được đưa quay lại lò để luyện lại.

Hiệu quả mang lại từ mô hình
Qua phân tích và thực tế cho thấy, việc áp dụng kỹ thuật luyện xỉ titan bằng lò điện hồ quang đạt hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế, các chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Nhà máy đều giảm đáng kể so với các công nghệ luyện kim khác, từ đó tăng giá trị sản phẩm titan khi xuất ra thị trường. Về mặt xã hội, Nhà máy đi vào hoạt động đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương. Ngoài ra, còn tạo việc làm cho trên 200 lao động với mức thu nhập bình quân từ 3 đến 4 triệu đồng/người/tháng. Mặt khác, kỹ thuật luyện xỉ này có tác động rất ít đến môi trường tự nhiên. Như vậy, có thể khẳng định, mô hình kỹ thuật luyện xỉ titan bằng lò điện hồ quang có tính khả thi cao, giúp doanh nghiệp có thể thu hồi toàn bộ vốn đầu tư trong vòng 6 năm.

Thực tế cho thấy các sản phẩm xỉ Titan là một loại hình sản phẩm không thể thiếu với sự phát triển xã hội và là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới. Với những ưu điểm trên, việc xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật luyện xỉ Titan bằng lò điện hồ quang là cần thiết. Đồng thời, mô hình này thành công có thể nhân rộng ra các địa phương khác có mỏ và khai thác mỏ.

Nguồn : (Tapchicongthuong.vn)

Cấp phép tràn lan, quản lý chồng chéo

Việc quản lý tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập khiến tài nguyên cạn dần, nguy hại hơn, sức công phá đối với môi trường không hề nhỏ.

CôngThương – Cấp phép tràn lan
Báo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho thấy, hiện cả nước phát hiện được khoảng 5.000 mỏ, điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản. Tính đến tháng 5-2013, cả nước có 79 giấy phép thăm dò khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp; 503 giấy phép khai thác khoáng sản do các cơ quan Trung ương cấp còn đang hoạt động, chưa kể 4.200 giấy phép do UBND các tỉnh, thành cấp đang có hiệu lực.
Số lượng giấy phép được cấp nhiều như vậy nhưng theo ông Lại Hồng Thanh, Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường), chỉ khoảng 30-40% số DN, tổ chức và cá nhân khai thác khoáng sản báo cáo định kỳ, song ngay cả thông tin trong báo cáo cũng chưa đầy đủ, chưa chính xác. Bởi vậy, Nhà nước không kiểm soát được sản lượng khai thác thực tế của DN, đồng nghĩa với việc không nắm được thực trạng tài nguyên khoáng sản, nguồn lực phát triển đất nước. Số lượng giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản đang khá lớn, nhưng lực lượng, kinh phí cho công tác thanh tra, kiểm tra của Trung ương cũng như địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, trung bình 2 năm mới thanh tra, kiểm tra định kỳ một lần nên hoạt động khai thác khoáng sản trái phép còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương.

Nhấn mạnh đến vai trò cấp phép của địa phương, ông Phạm Gia Túc, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, các dự án khai thác khoáng sản chủ yếu do địa phương cấp phép, nhưng khả năng quản lý giám sát của địa phương lại rất yếu. Dẫn chứng cho nhận định của mình, ông Túc cho hay, trong chuyến làm việc tại Tuyên Quang, lãnh đạo tỉnh cho biết có DN khai thác tại địa phương mỗi năm chỉ nộp ngân sách 5 tỷ đồng, nhưng con đường đi qua khu mỏ đó thì bị hỏng nặng. Tỉnh này lại phải bỏ ra 30 tỷ đồng để sửa chữa. “Hiện các hoạt động điều tra thăm dò cơ bản chưa tốt, cấp phép có vấn đề, quản lý giám sát bị buông lỏng gây tác động tiêu cực đến môi trường và hiệu quả kém”, ông Túc nói.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Mai Xuân Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban kinh tế của Quốc hội cho biết, sau khi khảo sát ở nhiều nơi khai thác khoáng sản, các đại biểu Quốc hội nhận thấy ở đâu có hoạt động khai thác khoáng sản thì ở đó môi trường bị tàn phá, hạ tầng yếu kém dần và đời sống người dân nghèo đói. Nguyên nhân của tình trạng này được ông Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Công an lý giải rằng, việc phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản như hiện nay dẫn đến việc khó quy trách nhiệm. “Bất cập là ở chỗ luật pháp không làm rõ trách nhiệm quản lý tài nguyên khoáng sản cho ai. Không cá nhân nào phải chịu trách nhiệm trước dân”, ông Lê Văn Cương cho hay.

Gắn trách nhiệm cho từng cấp
Với tình trạng quản lý chồng chéo như hiện nay, các chuyên gia cho rằng, nên thống nhất việc quản lý tài nguyên khoáng sản về một mối. “Việc gì cũng cần một đầu mối, một cơ quan và người đứng đầu phải có trách nhiệm. Việc quản lý này phải giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường”, ông Lê Văn Cương nói. Theo đó, khi đã gắn trách nhiệm phải giao đủ quyền cho họ và dứt khoát phải tạo điều kiện để tập thể, cá nhân đó thực hiện, nếu làm không tốt thì sẽ xử lý nghiêm.
Bên cạnh đó, theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, quản trị tài nguyên khoáng sản hiệu quả đang là một xu thế mà nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực thúc đẩy. Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng (viết tắt là EITI) được xem như là một trong những công cụ hữu ích để giúp các quốc gia quản lý tốt hơn tài nguyên thiên nhiên. Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển thì cho rằng, khi tham gia EITI sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam như: Quản lý tài nguyên khoáng sản tốt hơn, sử dụng tốt hơn, hiệu quả hơn; tăng nguồn thu/giảm thất thoát cho ngân sách quốc gia; nâng cao vị thế của Việt Nam, tăng khả năng cạnh tranh và thúc đẩy đầu tư nước ngoài; tạo được hệ thống cơ sở dữ liệu tốt cho ngành khai khoáng; hỗ trợ tích cực trong thực hiện các chủ trương, chính sách về minh bạch, trách nhiệm giải trình, phòng chống tham nhũng… ở Việt Nam.
Mặc dù EITI được cho là một giải pháp khá tích cực trong giai đoạn hiện nay đối với công tác quản trị tài nguyên khoáng sản nhưng theo nhiều các chuyên gia, muốn tham gia EITI, Việt Nam cần phải có quyết tâm chính trị như: Cần có cá nhân “cao cấp”, có uy tín thúc đẩy EITI, hay nói cách khác cần một cá nhân của một cơ quan đi theo suốt quá trình EITI để hiểu và thực thi quá trình này ở Việt Nam, sau đó là quyết định và cam kết của Chính phủ (tài chính, pháp lý và sự tham gia của nhóm đa bên) về EITI. Ông Matthieu Solomon, Quản lý chương trình Đông Nam Á, Viện Giám sát nguồn thu (RWI) khuyến nghị một số biện pháp nhằm cải thiện minh bạch và trách nhiệm giải trình như: Xây dựng chính sách yêu cầu công khai thông tin trong lĩnh vực dầu khí, khoáng sản; đảm bảo các cơ quan xây dựng pháp luật công bố đầy đủ và đúng hạn báo cáo về hoạt động dầu khí, khoáng sản; công khai các hợp đồng ký kết với công ty khai khoáng, yêu cầu và công bố báo cáo tác động môi trường và xã hội, giải quyết các hạn chế trong quản trị DN nhà nước và minh bạch…

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh:
Có vấn đề lợi ích nhóm trong khai thác khoáng sản. Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép ít nhưng địa phương cấp phép nhiều. Đặc biệt nhiều mỏ, nếu xét về tổng thể là mỏ lớn, phải được Trung ương đồng ý, nhưng người ta lách luật bằng cách chia nhỏ ra để địa phương cấp. Năng lực giám sát yếu, pháp luật chưa hoàn thiện đang làm cho tài nguyên chảy vào túi một nhóm người chứ không phải là tất cả. Khai thác khoáng sản vừa làm cho người dân phải chịu ô nhiễm môi trường, đói nghèo, trong khi tài nguyên bị lấy đi thì khai thác để làm gì, cho ai.

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Linh Ngọc:
Chính phủ, các bộ, ngành liên quan trong lĩnh vực khoáng sản trong thời gian tới cần tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn, xây dựng các cơ chế, chính sách, hoàn thiện thể chế, bộ máy quản lý đến việc thực thi của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản. Bằng những hành động thiết thực, cụ thể, nguồn tài nguyên khoáng sản được quản lý có hiệu quả mới thực sự phát huy vai trò quan trọng của các loại tài sản này cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguồn : (Theo báo Hải Quan)

Dự án bôxít bị chậm: Vấn đề không phải ở đầu ra

Bôxít với những vướng mắc từ phía Trung Quốc là đề tài mà báo chí đặt ra với ĐBQH Trần Xuân Hòa bên hành lang Quốc hội.

CôngThương – Cái vướng – theo Chủ tịch TKV – không phải ở vấn đề đầu ra, mà ở con đường cho xe 40 tấn đang xuống cấp mà chúng ta chưa có vốn.

Thực tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã nói nhiều về vấn đề bôxít tại Quốc hội. Việc dự án bôxít bị chậm là vì lý do kinh tế hay nguyên nhân nào khác, thưa ông?
– Tôi nghĩ là dự án có khó khăn một chút về kinh tế. Thứ hai là, những dự án rút kinh nghiệm của những dự án lớn, mà Nhà nước trước đây làm, cho nên hiện các cơ quan của Chính phủ đều xem xét rất kỹ mỗi khi đưa ra một dự án. Nhưng tôi tin tưởng rằng thời gian tới, chúng ta sẽ có những giải pháp để giải quyết các dự án.
Còn việc không bình thường ở chỗ đường quốc lộ – về nguyên tắc – phải cho xe trọng tải 40 tấn đi. Nhưng vì hiện nay, đường xuống cấp mà chúng ta chưa có vốn. Chính vì vậy, Chính phủ đang đề nghị phát hành thêm vốn trái phiếu chính phủ để nâng cấp làm đường theo đúng tiêu chuẩn. Anh nào đi vượt trọng tải thì đương nhiên bị phạt rồi, nhưng đường không phải chỉ làm cho xe 15-20 tấn đi.

Quốc lộ đều phải cho xe 40 tấn đi, nhưng vì hiện nay vấn đề đường xuống cấp, tiền chúng ta thiếu. Cho nên, chúng ta buộc phải yêu cầu giảm trọng tải của xe. Tôi nghĩ đấy là bài toán chắc chắn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, chứ không phải đối với TKV bị ảnh hưởng trong vấn đề trọng tải. Mà tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam có cạnh tranh được hay không chính là ở hạ tầng.

Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta giải quyết tốt bài toán hạ tầng và một trong những lý do mà rất nhiều đại biểu ủng hộ cho Nhà nước phát hành trái phiếu đợt này, đó chính là chúng ta phải nhanh chóng hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng. Nếu không hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng này, thì đây là một điểm nghẽn của nền kinh tế chúng ta. Cho nên tôi nghĩ chúng ta phải giải quyết bài toán này.
-Ông có thể cho biết kết quả chạy thử của dự án giai đoạn đầu hiện như thế nào?
– Hiện chúng tôi đang hoàn chỉnh hồ sơ để bàn giao với nhà thầu. Vì về cơ bản, chất lượng đã chuẩn với hợp đồng. Hi vọng trong năm nay sẽ chạy, nhưng đang có vướng về phíaTrung Quốc, vì luật của chúng ta hơi khác với họ. Họ làm xong rồi, nhưng yêu cầu của Việt Nam là tất cả những hồ sơ phải theo quy chuẩn của Việt Nam.

Hiện giữa hai bên đang hoàn chỉnh hồ sơ, hoàn tất hoàn công thì phía Trung Quốc chưa có kinh nghiệm khi lần đầu làm dự án tại Việt Nam. Chúng tôi đang đẩy nhanh quá trình hoàn tất các thủ tục, cùng hỗ trợ để hoàn tất hồ sơ tiến hành bàn giao sớm. Còn hiện chúng tôi đang vận hành và đưa về công suất theo yêu cầu.
-Ông có thể giải thích cụ thể vướng phía Trung Quốc là gì? Họ không mua sản phẩm đầu ra?
– Đầu ra thì nhiều, vì đầu ra của alumin thì không lo. Nhưng quan trọng nhất là chúng ta cố gắng làm sao để hoàn thiện hạ tầng. Bài toán hạ tầng luôn là bài toán rất khó đối với tập đoàn như chúng tôi phải phát triển ở vùng sâu, vùng xa; chứ chúng tôi mà bỏ tiền ra thì vô lý.
-Việc Chính phủ thu bớt phần lợi nhuận của tập đoàn thì các kế hoạch năm tới cũng bị ảnh hưởng như thế nào, thưa ông?
– Câu chuyện Nhà nước đối với các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước, mà Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch sản xuất hằng năm, 5 năm, thậm chí là 10 năm như TKV thì trong đó có các chương trình phát triển rồi.

Ví dụ như năm nay, TKV làm hơn 40 triệu tấn than, đến 2015 là 50 triệu tấn, năm 2020 là 60 triệu tấn, và sau 2025 là 65 triệu tấn, rồi mấy nhà máy điện như Quỳnh Lưu (Nghệ An); Hải Phòng 3 (Hải Phòng) đều phải vào hoạt động giai đoạn 2020-2022. Kể cả cảng nhập khẩu than phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện phía nam. Như vậy vốn đầu tư là rất lớn.

Tổng mức đầu tư các dự án này mỗi năm TKV đầu tư vào khoảng gần 40 ngàn tỉ đồng. Và 40 ngàn tỉ để có vốn đối ứng, thì ít nhất TKV phải cần 8 ngàn tỉ để đầu tư không, nghĩa là lợi nhuận dành cho đầu tư sau thuế. Nhưng, với mức đầu tư lợi nhuận của 2-3 ngàn tỉ như hiện nay mà Nhà nước thu hết thì mỗi lần thực hiện dự án hằng năm, thì lại thực hiện cơ chế xin-cho. Như vậy, rất khó cho doanh nghiệp. Và ai lúc đấy chịu về tiến độ thực hiện các dự án để đáp ứng nền kinh tế quốc dân.
-Các Tập đoàn, Tổng công ty đều có kế hoạch như TKV, nhưng đơn vị nào cũng không chịu nộp thì rất khó cho Chính phủ trong chuyện cân đối thu-chi?

– Tôi hiểu rằng, bên cạnh đó có những doanh nghiệp nhà nước mà đã định hình sản xuất ổn định rồi, thì có thể những chỗ đó anh mới gọi là thu lợi tức, chứ kế hoạch mà anh phát triển đã được Nhà nước cân đối kể cả vấn đề dùng vốn đối ứng và thương hiệu của anh anh làm thì không nên. Bởi vì nếu như vậy chắc phải thành lập đại tập đoàn, siêu tập đoàn. Và một ai đó quyết định anh thu về cũng được, nhưng ai xử lý dòng lưu thông của vấn đề vốn.

Ai chịu trách nhiệm, bởi người thu về có chịu trách nhiệm trong đi vay như chúng tôi phải đi thỏa thuận với các ngân hàng trong vấn đề thu xếp vốn. Tôi chắc là không. Cho nên,chúng ta đừng vì câu chuyện đang thiếu ngân sách mà từ chuyện này nhảy sang chuyện khác.

Còn việc giám sát không những chỉ Chính phủ, mà Quốc hội tới đây cũng tăng cường giám sát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Điều đó là quan trọng, chứ trong vấn đề kinh tế chúng ta ”giật mình” rồi đi ”nhảy giật cục” như thế thì các doanh nghiệp rất là khó kh

Nguồn : (baocongthuong)