rèm cửa tphcm

rèm cửa sổ

rèm vải

rèm cuốn

rèm roman

rèm văn phòng

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

rèm cầu vồng

Rèm vải phòng khách

rèm vải chống nắng

Rèm cửa sổ

Rèm vải

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cuốn

Rèm văn phòng

Rèm gia đình

Rèm cầu vồng

Rèm sáo gỗ

Rèm sáo nhôm

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cầu vồng

Rèm cuốn

Rèm gỗ

Rèm lá dọc

màn cửa đẹp

rèm vải

rèm gia đình

rèm văn phòng

rèm cầu vồng

rèm cuốn

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

màn cửa hcm

màn cửa

màn vải

màn cuốn

màn cầu vồng

màn cầu vồng

màn cửa

màn vải đẹp

rèm cửa tphcm

rèm động cơ

rèm cuốn

rèm vải phòng khách

rèm vải phòng ngủ

rèm cầu vồng

rèm sáo

rèm nhôm

rèm roman

rèm sáo gỗ

rèm gỗ màu đen hà nội

rèm roman chống nắng hà nội

rèm vải cản nắng chống cháy

rèm cuốn chống cháy

rèm y tế kháng khuẩn

rèm cầu vồng kháng khuẩn

rèm cuốn in tranh trường học

rèm sáo nhựa giả gỗ

rèm cuốn không cẩn khoan tường

rèm phòng tắm giá rẻ

rèm cuốn xuyên sáng nhà hàng

rèm cửa

rèm cửa

Author Archives: Trần Minh Hùng

Giá kim loại ngày 23/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 23/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,877.50
Đồng (Copper) 5,920.50
Kẽm (Zinc) 2,607.50
Niken (Nickenl) 11,615.00
Chì (Lead) 2,011.50
Thiếc (Tin) 20,780.00
Vàng (Gold) 1,284.70
Thép phế liệu (Steel scrap) 296.00

Giá kim loại ngày 22/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 22/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,867.50
Đồng (Copper) 5,926.50
Kẽm (Zinc) 2,602.00
Niken (Nickenl) 11,615.00
Chì (Lead) 2,002.50
Thiếc (Tin) 20,890.00
Vàng (Gold) 1,284.00
Thép phế liệu (Steel scrap) 298.00

 

 

Giá kim loại ngày 21/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 21/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,842.50
Đồng (Copper) 5,951.50
Kẽm (Zinc) 2,569.00
Niken (Nickenl) 11,670.00
Chì (Lead) 2,003.00
Thiếc (Tin) 20,790.00
Vàng (Gold) 1,280.40
Thép phế liệu (Steel scrap) 298.00

 

 

VIMICO phấn đấu doanh thu 2019 đạt 6.951 tỷ đồng

Vừa qua, tại Hà Nội, Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2018 và Hội nghị người lao động năm 2019.

Trong báo cáo trình bày tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Tuệ – Tổng Giám đốc Tổng công ty Khoáng sản nhấn mạnh, VIMICO triển khai thực hiện kế hoạch năm 2018, bên cạnh thuận lợi là giá bán một số sản phẩm kim loại trên thị trường như đồng, kẽm… duy trì tương đối ổn định, những thách thức VIMICO phải đối mặt vẫn là chủ yếu. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án; tài nguyên khoáng sản tại một số mỏ giảm. Tại Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn do khai thác xuống sâu, vị trí đổ thải xa, cung độ kéo dài, chiều cao nâng tải lớn… đã ảnh hưởng đến khả năng vận tải toàn mỏ. Thêm đó, công tác sản xuất tại Công ty CP Gang thép Cao Bằng gặp khó do giá nguyên vật liệu đầu vào (than cốc) tăng cao, giá bán phôi thép giảm do ảnh hưởng của thị trường thép thế giới. Trong khi đó, các chính sách quản lý và chế tài xử lý về môi trường, kiểm soát hoạt động khai thác khoáng sản của Nhà nước và địa phương ngày càng thắt chặt; chính sách về thuế, phí luôn thay đổi và có mức thu cao; tình hình an ninh trật tự trên địa bàn diễn biến rất phức tạp…

Trong vô vàn những khó khăn ấy, năm 2018, một lần nữa VIMICO tiếp tục nhân lên truyền thống đoàn kết, sáng tạo không ngừng để hoàn thành nhiệm vụ được giao, đảm bảo đủ việc làm và ổn định thu nhập cho người lao động. Về sản xuất, các dây chuyền công nghệ khai thác, tuyển khoáng, luyện kim quặng đồng, thiếc, kẽm… hoạt động tương đối ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu công nghệ. Trong công tác tiêu thụ, Tổng công ty tiếp tục có nhiều biện pháp linh hoạt, theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới để lựa chọn thời điểm, phương án tiêu thụ đảm bảo giá bán cạnh tranh, có lợi nhất cho doanh nghiệp.

Bên cạnh việc tích cực triển khai đề án tái cấu trúc Tổng công ty, thực hiện các giải pháp kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả vẫn là dấu ấn quan trọng của VIMICO trong năm qua. Cụ thể, với công tác tuyển khoáng đã đảm bảo kỹ thuật công nghệ, thực hiện các giải pháp cải tiến kỹ thuật, giảm tiêu hao vật tư, năng lượng, giảm chi phí sản xuất, điển hình như: Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền đã thử nghiệm, triển khai từ tháng 6/2018 ổn định thay thế Butyl xantat bằng thuốc tuyển PAX trong tuyển nổi đồng, các chỉ tiêu công nghệ đạt yêu cầu, tinh quặng đồng đạt chất lượng > 25% Cu, hiện đang tiếp tục tách S trong tinh quặng sắt xuống < 1% S không sử dụng axit sulfuric; đã chạy thử Nhà máy tuyển đồng số 2 từ tháng 11/2018; các xưởng tuyển kẽm – chì đều được duy trì hoạt động tốt, xưởng tuyển xỉ đồng đang chạy thử nghiệm thuốc tuyển PAX thay thế Butyl xantat nhằm nâng cao thực thu, giảm đồng đuôi thải. Với công tác luyện kim, sản xuất đồng cathode đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo lắp đặt và đưa vào vận hành từ tháng 8/2018 hệ thống điện cực tự thiêu để thay thế điện cực graphit đã giảm trên 50% chi phí/1 tấn sản phẩm, nâng cao chất lượng đồng cathode, cải tiến phương pháp vận chuyển tinh xỉ đồng; trong sản xuất kẽm đã cải tiến thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất 10% và thời gian hoạt động lò thiêu lớp sôi tăng 1,5 lần, thực hiện khử Cl trong dung dịch điện phân; trong sản xuất gang thép đã thực hiện tốt thu hồi khí than dư lò cao để sản xuất vôi nung giá rẻ, cung cấp toàn bộ cho sản xuất…

“Có thể nói, chính tinh thần đoàn kết, sự đồng lòng cùng quyết tâm của tập thể cán bộ công nhân viên lao động trong toàn Tổng công ty là “bệ đỡ” quan trọng nhất giúp Tổng công ty Khoáng sản từng bước vượt qua khó khăn – Tổng Giám đốc VIMICO – Trịnh Văn Tuệ khẳng định.

Phát huy những kết quả đã đạt được, Tổng công ty đặt những mục tiêu và đề ra những nhóm giải pháp cụ thể cho sản xuất kinh doanh năm 2019 như: tập trung triển khai thực hiện đề án tái cấu trúc của Tổng công ty đã được phê duyệt, hoàn thành công tác thoái vốn tại một số công ty con cổ phần và công ty liên kết theo đúng tiến độ đề ra; đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án trọng điểm, để đảm bảo đưa các dự án trọng điểm của Công ty mẹ – Tổng công ty vào sản xuất đúng tiến độ đề ra; tiếp tục hoàn thiện nâng cao các mặt quản lý từ công tác quản lý kỹ thuật cơ bản, công tác khoán quản trị chi phí, quản trị nội bộ; tăng cường, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu khai thác – tuyển khoáng – luyện kim – cơ điện nhằm tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, coi đây là giải pháp then chốt để nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong đó chú trọng tập trung vào hoàn thiện ổn định công nghệ luyện phôi thép tại Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng…

Tham dự và chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Lê Minh Chuẩn – Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch HĐTV Tập đoàn ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, cố gắng của tập thể CBCNV – LĐ Tổng công ty Khoáng sản cùng những kết quả mà đơn vị đã đạt được trong năm qua. Cùng với đó, đồng chí Chủ tịch HĐTV cũng nhấn mạnh, năm 2019 và thời gian tới, Tổng công ty cần tiếp tục có những giải pháp đặc thù, đẩy mạnh triển khai những nhóm giải pháp đã mang lại hiệu quả cao thời gian qua; tập trung trọng tâm cho vấn đề tái cơ cấu, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận, chia sẻ trong toàn Tổng công ty khi thực hiện đề án này; đảm bảo triển khai đúng tiến độ các dự án trọng điểm; tăng cường hoàn thiện hơn nữa công tác quản trị doanh nghiệp, quản trị chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh…

Tại Hội nghị, Tổng Giám đốc Tổng công ty đã ký hợp đồng phối hợp kinh doanh năm 2019 với các đơn vị thành viên. Lãnh đạo Tổng công ty cũng tặng cờ thi đua cho Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai và Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên vì đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh năm 2018.

 

 

 

 

Giá kim loại ngày 18/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 18/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,851.00
Đồng (Copper) 6,022.00
Kẽm (Zinc) 2,577.00
Niken (Nickenl) 11,610.00
Chì (Lead) 1,972.00
Thiếc (Tin) 20,900.00
Vàng (Gold) 1,283.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 292.00

 

 

 

Giá kim loại ngày 17/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 17/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,804.00
Đồng (Copper) 5,933.00
Kẽm (Zinc) 2,502.00
Niken (Nickenl) 11,450.00
Chì (Lead) 1,948.00
Thiếc (Tin) 20,745.00
Vàng (Gold) 1,292.80
Thép phế liệu (Steel scrap) 292.00

 

 

“Đổi mới – Thiết thực – Hiệu quả”

Đó là chủ đề hoạt động được Công đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Công đoàn TKV) nhất trí thông qua tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2018 và triển khai nhiệm vụ năm 2019 diễn ra sáng ngày 17/1. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu – Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đồng chí Đặng Thanh Hải – Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tập đoàn TKV đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

 

Tại Hội nghị, đồng chí Lê Thanh Xuân – Chủ tịch Công đoàn TKV đã báo cáo kết quả phong trào CNVCLĐ và hoạt động Công đoàn năm 2018, triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2019.

Theo đó, năm 2018, các cấp công đoàn đã tập trung triển khai các hoạt động theo hướng thiết thực, hiệu quả với phương châm hướng về cơ sở, phục vụ đoàn viên và người lao động. Cụ thể hóa chủ đề  “Năm vì lợi ích đoàn viên công đoàn” với các nội dung hoạt động và hình thức đa dạng gắn với mục tiêu “Mỗi công đoàn cơ sở – Một lợi ích đoàn viên”. Các hình thức phát động thi đua “Tháng công nhân”, “ Tháng công đoàn tham gia quản lý”, “90 ngày đêm sản xuất và tiêu thụ than”… được triển khai thiết thực, tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ góp phần hoàn thành toàn diện nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn. Đặc biệt đã tổ chức thành công Đại hội Công đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam lần thứ V và triển khai rộng khắp các hoạt động chào mừng Đại hội XII Công đoàn Việt Nam.

Bên cạnh đó, với những thuận lợi, khó khăn chung của Tập đoàn, Công đoàn các cấp đã phối hợp chặt chẽ với chuyên môn và các đoàn thể chính trị, tập trung tuyên truyền, phát động phong trào thi đua lao động sản xuất với nhiều hành động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế, được đông đảo công nhân lao động hưởng ứng tham gia. Một số hoạt động nổi bật của Công đoàn TKV trong năm như: Phát huy dân chủ ở cơ sở tạo sự “Chia sẻ, đồng thuận và hài lòng” của người lao động, sự hưởng ứng tích cực và nêu cao ý thức chính trị của công nhân mỏ; đồng hành cùng với chuyên môn tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chỉ đạo, điều hành phù hợp, các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đều tăng cao so với năm 2017, vượt mục tiêu trước thời hạn 2 năm mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn TKV lần thứ 2 đã đề ra; năng suất lao động tăng 15,7% đến 15,8% so với thực hiện năm 2017, tiền lương bình quân đạt mức 10,8 triệu đồng/người/tháng, tăng 11,9% thực hiện năm 2017; điều kiện làm việc, sinh hoạt, chế độ của người lao động không ngừng được cải thiện… Nổi bật của phong trào thi đua là chiến dịch thi đua 90 ngày đêm sản xuất và tiêu thụ than với hơn 150 lò chợ, tổ máy đạt và vượt năng suất kỷ lục ngành; có 3.450 công nhân lao động được khen thưởng trong phong trào thi đua “Lao động giỏi, thu nhập cao”; 1.635 công trình công đoàn, 38 cá nhân được Tổng Liên đoàn trao tặng Bằng lao động sáng tạo… Người lao động trong toàn Tập đoàn cơ bản được bố trí đủ việc làm, bảo đảm thu nhập, các chế độ chính sách được thực hiện đầy đủ; tư tưởng ổn định, yên tâm lao động sản xuất, gắn bó với doanh nghiệp.

Với chủ đề hoạt động năm 2019 là “ĐỔI MỚI – THIẾT THỰC – HIỆU QUẢ”, Công đoàn TKV tiếp tục đổi mới, nâng cao phương thức hoạt động, động viên cán bộ đoàn viên và người lao động đoàn kết, vượt qua khó khăn, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ SXKD của Tập đoàn đã đề ra.

Thay mặt Đảng ủy, Hội đồng thành viên, lãnh đạo Tập đoàn, Tổng Giám đốc Tập đoàn Đặng Thanh Hải đã ghi nhận sự đóng góp và chúc mừng những thành tích đạt được trong năm 2018 của cán bộ, đoàn viên và tổ chức công đoàn các cấp trong TKV. Bước sang năm 2019, Tổng Giám đốc đề nghị công đoàn các cấp cần phối hợp chặt chẽ với chuyên môn và các tổ chức trong hệ thống chính trị toàn Tập đoàn làm tốt một số nhiệm vụ chính sau: cùng với chuyên môn xây dựng các giải pháp thiết thực, tháo gỡ khó khăn trong SXKD; đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong SXKD và quản lý; phát động nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất với phương châm “Toàn bộ – Toàn diện – Toàn thể” tạo động lực, khí thế sôi nổi trong công nhân lao động; tích cực tham gia xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát huy dân chủ trong doanh nghiệp; tiếp tục chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; đội ngũ cán bộ công đoàn cần tiếp tục năng động sáng tạo, đổi mới phương thức hoạt động, hướng về cơ sở và vì mục tiêu chung là xây dựng Tập đoàn ngày càng phát triển bền vững.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu chúc mừng, đánh giá cao những kết quả SXKD nói chung hoạt động của tổ chức công đoàn nói riêng mà TKV và Công đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua. Năm 2019, đồng chí đề nghị các cấp công đoàn TKV cần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ đoàn viên, người lao động; đổi mới việc thực hiện phong trào thi đua yêu nước theo hướng lan toả, thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh công tác tuyên truyền với nội dung hiện đại và phương thức mới, lan toả rộng khắp văn hoá công đoàn ngành than; tích cực đưa nghị quyết đại hội công đoàn các cấp vào cuộc sống với tư duy mới, cách làm mới, thiết thực chào mừng kỷ niệm 90 năm thành lập Công đoàn Việt Nam…

Nhân dịp này, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Ngọ Duy Hiểu đã trao Cờ thi đua, Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho các tập thể và cá nhân thuộc Công đoàn TKV. Đồng thời, Công đoàn TKV đã vinh danh 9 doanh nghiệp vì người lao động; tặng Cờ thi đua cho các Công đoàn đạt vững mạnh xuất sắc trong năm 2018.

 

 

 

Giá kim loại ngày 16/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 16/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,839.50
Đồng (Copper) 5,911.00
Kẽm (Zinc) 2,490.00
Niken (Nickenl) 11,580.00
Chì (Lead) 1,952.50
Thiếc (Tin) 20,775.00
Vàng (Gold) 1,293.80
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

 

TT kim loại thế giới ngày 16/1/2019: Đồng tại London tăng do USD suy yếu

TT kim loại thế giới ngày 16/1/2019: Đồng tại London tăng do USD suy yếu

Vinanet – Giá đồng trên sàn London ngày 16/1/2019 tăng phiên thứ 2 liên tiếp, do đồng USD suy yếu, khiến kim loại rẻ hơn khi mua bằng tiền tệ khác và các nhà đầu tư kỳ vọng dấu hiệu kích thích hơn nữa từ nước tiêu thụ kim loại hàng đầu – Trung Quốc.

Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,1% lên 5.923 USD/tấn, sau khi tăng 0,4% phiên trước đó.

Giá đồng kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 0,5% lên 47.100 CNY (6.955,21 USD)/tấn.

Quốc hội Anh bỏ phiếu trống với tỉ lệ áp đảo đối với kế hoạch Brexit của Thủ tướng Theresa May. Việc kế hoạch này bị bác bỏ có thể dẫn tới một cuộc ra đi đầy biến động của Anh khỏi EU, hoặc thậm chí là đảo ngược quyết định mà cử tri Anh đưa ra hồi 2016 về rời bỏ khối này.

Trung Quốc đã đưa  ra các biện pháp kích thích hơn nữa trong ngắn hạn, và nhằm đạt được “một khởi đầu tốt cho năm 2019” trong quý đầu tiên, khi một cuộc chiến thuế quan với Mỹ đã gây tổn thất nặng nề cho ngành thương mại của nước này và làm tăng nguy cơ suy thoái kinh tế.

Nhà sản xuất nhôm Norsk Hydro Na Uy cho biết, bang Para phía bắc Brazil đã dỡ bỏ lệnh cấm đối với nhà máy tinh chế alumina Alunorte, song cho rằng việc sản xuất sẽ không tiếp tục cho đến khi tòa án liên bang tuân thủ.

Giá nickel tại Thượng Hải tăng 1,5% lên 93.100 CNY/tấn, cao nhất kể từ ngày 3/12/2018, hướng theo giá nickel tại London tăng 2,5%.

Cơ quan giám sát hạt nhân của Chile đang xem xét điều tra về khả năng gian lận sau 1 cuộc kiểm toán cho thấy rằng, cơ quan này trong nhiều thập kỷ không thể ghi lại chính xác việc xuất khẩu pin kim loại siêu nhẹ lithium.

Chứng khoán châu Á biến động trong ngày thứ tư (16/1/2019), sau khi tăng trong phiên trước đó, do kỳ vọng kích thích kinh tế của Trung Quốc, với các nhà đầu tư đánh giá các lựa chọn Brexit sau khi các nhà lập pháp Anh phản đối Thủ tướng Theresa May rút Anh khỏi Liên minh châu Âu.

Giá các kim loại cơ bản ngày 16/1/2019:

Mặt hàng ĐVT Giá % thay đổi
Đồng USD/lb 2,6602 0,19%
Chì USD/tấn 1.967,50 0,00%
Nickel USD/tấn 11.354,50 0,00%
Nhôm USD/tấn 1.851,50 -2,19%
Thiếc USD/tấn 19.300,00 -0,39%
Kẽm USD/tấn 2.495,00 0,85%

Nguồn: VITIC/Reuters

 

 

Giá kim loại ngày 15/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 15/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,810.50
Đồng (Copper) 5,882.00
Kẽm (Zinc) 2,472.50
Niken (Nickenl) 11,430.00
Chì (Lead) 1,954.00
Thiếc (Tin) 20,675.00
Vàng (Gold) 1,288.60
Thép phế liệu (Steel scrap) 286.00

 

 

 

Giá kim loại ngày 14/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 14/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,775.50
Đồng (Copper) 5,861.00
Kẽm (Zinc) 2,467.50
Niken (Nickenl) 11,420.00
Chì (Lead) 1,962.00
Thiếc (Tin) 20,650.00
Vàng (Gold) 1,291.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 289.00

 

 

TT kim loại thế giới ngày 14/1/2019: Hầu hết đều thay đổi nhẹ

TT kim loại thế giới ngày 14/1/2019: Hầu hết đều thay đổi nhẹ

Vinanet – Hầu hết các kim loại cơ bản trên cả hai sàn London và Thượng Hải ngày 14/1/2019 đều thay đổi nhẹ, do các nhà đầu tư chờ đợi số liệu thương mại từ nước tiêu thụ kim loại hàng đầu – Trung Quốc – trong khi đồng USD duy trì vững.

Trung Quốc sẽ đưa ra số liệu thương mại tháng 12/2018 vào cuối ngày.

Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,2% lên 5.952,5 USD/tấn, trong khi giá đồng kỳ hạn trên sàn Thượng Hải  không thay đổi ở mức 47.180 CNY (6.979,7 USD)/tấn.

Trung Quốc sẽ giảm các hạn chế đối với  đầu tư nước ngoài và giải quyết những khó khăn đối với mặt các công ty nước ngoài đầu tư vào nước này.

Kết quả bất ngờ của cuộc bầu cử Congo – một cuộc bỏ phiếu có nghĩa là kết thúc nhiều năm hỗn loạn dưới thời Tổng thống Joseph Kabila, giảm bớt sự không chắc chắn đối với các nhà khai thác mỏ và các nhà đầu tư tại một nước mà cuộc cách mạng xe điện là quan trọng.

Chứng khoán châu Á tăng lên mức cao nhất gần 1,5 tháng trong ngày thứ hai (14/1/2019), do các nhà đầu tư thận trọng về số liệu thương mại của Trung Quốc, gia tăng dấu hiệu về sự suy giảm tại nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đang kéo tăng  trưởng toàn cầu.

Giá các kim loại cơ bản ngày 14/1/2019:

Mặt hàng

ĐVT

Giá

% thay đổi

Đồng USD/lb 2,6677 0,10 %
Chì USD/tấn 1.988,75 1,23%
Nickel USD/tấn 11.414,00 1,97%
Nhôm USD/tấn 1.841,00 -2,19%
Thiếc USD/tấn 20.215,00 -0,39%
Kẽm USD/tấn 2.475,50 0,85%

Nguồn: VITIC/Reuters

 

 

Giá kim loại ngày 11/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 11/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,816.00
Đồng (Copper) 5,926.50
Kẽm (Zinc) 2,470.00
Niken (Nickenl) 11,400.00
Chì (Lead) 1,961.50
Thiếc (Tin) 20,500.00
Vàng (Gold) 1,289.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 291.50

 

 

Năm 2018, lợi nhuận của TKV đạt trên 4.000 tỷ đồng

Ngày 9/1/2019, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tổ chức tổng kết công tác năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019.

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trịnh Đình Dũng – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Hoàng Anh – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Tô Quang Thu – Phó Chủ nhiệm UBKT Trung ương; Đặng Hoàng An – Thứ trưởng Bộ Công Thương cùng đại diện các Bộ, Ban ngành, Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, lãnh đạo các Ban và đơn vị trực thuộc Tập đoàn…

Theo báo cáo, trong năm 2018, tất cả các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, tài chính của Tập đoàn đều đạt và vượt kế hoạch. Kết quả khai thác 2 sản phẩm chủ lực là than và alumin tăng trưởng rất ấn tượng.

Sản xuất than nguyên khai đạt 36,95 triệu tấn. Than thương phẩm đạt 35,96 triệu tấn (đạt 107% kế hoạch). Than tiêu thụ đạt 40,5 triệu tấn, tăng 4,5 triệu tấn so với kế hoạch; tăng 5,5 triệu tấn so với thực hiện 2017. Trong đó, tiêu thụ trong nước đạt 38,7 triệu tấn, xuất khẩu đạt 1,8 triệu tấn.

Sản xuất alumin (quy đổi) đạt 1,31 triệu tấn, tăng trên 170.000 tấn so với thực hiện năm 2017. Nhà máy Alumin Tân Rai và Nhân Cơ đều vượt công suất thiết kế, trong đó, Tân Rai sản xuất 673.000 tấn/650.000 tấn. Nhà máy Nhân Cơ sản xuất 652.000 tấn/650.000 tấn năm. Tiêu thụ alumin đạt 1,3 triệu tấn (đạt 107% kế hoạch).

Cùng với đó, sản lượng điện do TKV sản xuất đạt 9,4 tỷ kWh (chiếm khoảng gần 5% sản lượng điện cả nước).

Về các chỉ tiêu tài chính, tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 121.700 tỷ đồng, bằng 107% kế hoạch. Trong đó, doanh thu sản xuất than đạt 62.260 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch và tăng 8% so năm 2017; khoáng sản đạt 18.250 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch và tăng 44% so năm 2017 (trong đó sản phẩm alumin tăng 67% do sản lượng và giá bán tăng)…Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 780 triệu USD, tăng 36% so với kế hoạch.

Lợi nhuận của Tập đoàn đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 2.000 tỷ đồng so với kế hoạch và tăng 1.000 tỷ đồng so với thực hiện 2017. Nộp ngân sách nhà nước 16.000 tỷ đồng, tăng 1.200 tỷ đồng so với năm 2017.

Trong năm 2018, nhiều công trình trọng điểm có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia được triển khai. TKV đã khởi công dự án khai thác than lộ thiên Bắc Bàng Danh – Công ty than Hà Tu; dự án hầm lò mỏ Khe Chàm III (công suất 2,5 triệu tấn/năm); dự án khai thác mỏ đồng Tả Phời (công suất 1 triệu tấn/năm); dự án Nhà máy tuyển đồng Tả Phời (công suất 1 triệu tấn/năm); tái khởi động lại dự án Crom Cổ Định Thanh Hoá…

Công tác tái cơ cấu doanh nghiệp được triển khai quyết liệt và có hiệu quả rõ rệt. TKV đã hoàn thành thoái vốn, giảm tỉ lệ sở hữu tại các doanh nghiệp không cần nắm giữ, thu về 235,88 tỷ, thặng dư 26,2 tỷ đồng. Đồng thời, sáp nhập, chuyển đổi một số doanh nghiệp như sáp nhập Công ty than Hồng Thái vào Công ty than Uông Bí, Công ty Kho vận Hòn Gai vào Công ty Tuyển than Hòn Gai; hoàn thành hợp nhất Công ty XDM hầm lò 1 và Công ty XDM hầm lò II;…

Đáng chú ý, trong một vài năm qua, TKV đã giảm mạnh số lao động dôi dư, đồng thời ứng dụng nhiều công nghệ mới trong khai thác than, khoáng sản, từ đó nâng cao năng suất lao động và thu nhập người lao động.

Từ năm 2012 đến nay, lực lượng lao động của TKV đã giảm gần 25.000 lao động. Tổng số lao động theo danh sách đến hết ngày 31/12/2018 là 98.600 người (giảm 6.000 người so với năm 2017). Lương bình quân đạt 10,8 triệu đồng/người/tháng, tăng 11,9% so với năm 2017. Đây là lần đầu tiên thu nhập của người lao động TKV đạt trên 10 triệu đồng/người/tháng. Năng suất lao động tăng 15,8% so năm 2017.

Bên cạnh đó, TKV cũng đã triển khai các biện pháp đồng bộ về quản trị nội bộ như: Kiện toàn mô hình quản lý, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu; tích cực triển khai áp dụng cơ giới hóa trong khai thác mỏ; hoàn thiện cơ chế quản lý về tăng năng suất, giảm giá thành; nâng cao chất lượng lao động…

Tuy nhiên, Tập đoàn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong sản xuất, kinh doanh. Đó là nhu cầu thị trường tiêu thụ than, khoáng sản trong nước tiếp tục tăng cao, trong khi năng lực sản xuất than của các mỏ hiện nay đã đến giới hạn. Điều kiện khai thác mỏ, nhất là than, ngày càng khó khăn hơn do tài nguyên xuống sâu hơn. Chất lượng than trong nước chưa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của các nhà máy nhiệt điện sử dụng công nghệ mới. Công tác tuyển dụng lao động thợ lò ngày càng khó khăn do sức thu hút của ngành nghề kém hấp dẫn… ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu sản xuất, tiêu thụ và việc làm của người lao động.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương tập thể lãnh đạo, người lao động ngành Than – Khoáng sản trong việc đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần quan trọng cùng cả nước thực hiện thắng lợi nhiều mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2018.

Phó Thủ tướng yêu cầu TKV phải tạo bứt phá về chất lượng than. Than của TKV phải phối hợp với các loại than khác để đáp ứng với các công nghệ khác nhau của các hộ tiêu thụ. Để làm được điều này, TKV phải đổi mới công nghệ và sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hóa vào sản xuất, bảo vệ môi trường và tiết kiện nhân lực…

Ngoài ra, theo Phó Thủ tướng, TKV cũng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các dự án bauxite nhưng phải đảm bảo môi trường; gắn sản xuất bauxite với sự phát triển của các địa phương nơi có dự án và nâng cao đời sống nhân dân tại các địa bàn này. Đồng thời, đảm bảo cung ứng điện cho đất nước; nghiên cứu hạ tầng cung ứng than cho các hộ tiêu thụ; tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ về an toàn lao động. Bên cạnh đó, làm tốt bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn lao động, đây là những yêu cầu hàng đầu trong sản xuất.

Trân trọng cảm ơn những chỉ đạo sâu sát của Phó Thủ tướng, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Lê Minh Chuẩn khẳng định, TKV sẽ phát huy truyền thống vẻ vang của những người thợ mỏ, tiếp tục nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ năm 2019 và những năm tiếp theo, tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước.

Hội nghị cũng đã chúc mừng các đồng chí lãnh đạo đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ được nghỉ chế độ trong 6 tháng cuối năm 2018.

Cũng tại Hội nghị, đồng chí Lê Thanh Xuân – Chủ tịch Công đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam đã phát động thi đua năm 2018; đồng thời diễn ra lễ ký kết giao ước Thi đua năm 2019 giữa Tổng Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn TKV và lãnh đạo 6 đơn vị đại diện các Khối.

Một số hình ảnh:

 

Giá kim loại ngày 10/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 10/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,844.00
Đồng (Copper) 5,908.50
Kẽm (Zinc) 2,476.00
Niken (Nickenl) 11,225.00
Chì (Lead) 1,960.00
Thiếc (Tin) 20,275.00
Vàng (Gold) 1,287.20
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

Giá kim loại ngày 08/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 08/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,837.00
Đồng (Copper) 5,904.50
Kẽm (Zinc) 2,541.00
Niken (Nickenl) 11,055.00
Chì (Lead) 1,940.00
Thiếc (Tin) 19,820.00
Vàng (Gold) 1,285.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 283.00

 

 

TT kim loại thế giới ngày 7/1/2019: Hầu hết đều tăng

TT kim loại thế giới ngày 7/1/2019: Hầu hết đều tăng

Vinanet – Giá thép cùng với các kim loại kẽm và nickel ngày 7/1/2019 tăng, sau khi Trung Quốc đưa ra các biện pháp thúc đẩy cho vay, tăng trưởng công nghiệp suy giảm và tập trung chuyển sang đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc trong tuần này.

Giá kẽm kỳ hạn trên sàn London tăng 0,5% lên 2.450 USD/tấn, sau khi giá thanh cốt thép tại Trung Quốc tăng, do kỳ vọng điều kiện cho vay nới lỏng hơn sẽ kích thích tăng trưởng trong các ngành công nghiệp như xây dựng.

Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết, sẽ cắt giảm lượng tiền mặt mà ngân hàng nắm giữ lần thứ 5 trong 1 năm, giải phóng 116 tỉ USD cho vay mới, giảm nguy cơ suy thoái kinh tế.

Hoạt động sản xuất nhà máy của Trung Quốc giảm lần đầu tiên trong hơn 2 năm trong tháng 12/2018, cho thấy những thách thức mà Bắc Kinh phải đối mặt khi tìm cách chấm dứt một cuộc chiến thương mại với Washington và giảm nguy cơ suy thoái kinh tế mạnh hơn trong năm 2019.

Morgan Stanley dự kiến các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc và Mỹ sẽ kiểm soát sự tăng trưởng kinh tế chậm lại: “Chúng tôi tin rằng tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chạm đáy vào quý 1/2019, trong khi Fed bắt đầu sự linh hoạt trong chính sách bảng cân đối kế toán, nếu có sự suy giảm nghiêm trọng  trong triển vọng tăng trưởng”.

Giá kẽm chạm mức thấp nhất trong hơn 3 tháng (2.356,5 USD/tấn) hôm thứ năm (3/1), sau số liệu sản xuất của Trung Quốc suy yếu cho thấy chiến tranh thương mại với Mỹ đã làm giảm tăng trưởng toàn cầu. Giá kẽm giảm mạnh nhất trong năm 2018, giảm 25% do nguồn cung khai thác mới xói mòn thâm hụt.

Giá nickel kỳ hạn trên sàn LME được sử dụng trong sản xuất thép tăng 0,1% lên 11.120 USD/tấn.

Giá đồng kỳ hạn trên sàn LME giảm 02% xuống 5.905 USD/tấn, tăng 3% phiên trước đó, sau khi chạm mức thấp nhất trong 18 tháng hồi tuần trước.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, thỏa thuận thương mại với Trung Quốc đang diễn ra rất tốt và sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc khiến Bắc Kinh có lý do để đi đến 1 thỏa thuận với Washington, sau khi các nhà lãnh đạo trong tháng 12/2018 thỏa thuận “đình chiến” thương mại trong vòng 90 ngày để giải quyết những khác biệt giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Giá đồng kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1,3% lên 47.360 CNY (6.914 USD)/tấn, giá nickel trên sàn Thượng Hải tăng 2%.

Chứng khoán châu Á sôi động trong ngày thứ hai (7/1/2019), khi chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trấn an thị trường bằng tuyên bố sẽ kiên nhẫn và linh hoạt trong chính sách tiền tệ trong năm nay và số liệu việc làm của Mỹ tăng mạnh, làm xoa dịu mối lo ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu.

Nguồn: VITIC/Reuters

 

 

Giá kim loại ngày 04/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 04/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,879.00
Đồng (Copper) 5,840.00
Kẽm (Zinc) 2,505.00
Niken (Nickenl) 10,920.00
Chì (Lead) 1,936.00
Thiếc (Tin) 19,575.00
Vàng (Gold) 1,284.40
Thép phế liệu (Steel scrap) 282.00

 

 

Giá kim loại ngày 03/01/2019

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 03/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,825.50
Đồng (Copper) 5,811.00
Kẽm (Zinc) 2,480.00
Niken (Nickenl) 10,715.00
Chì (Lead) 1,943.00
Thiếc (Tin) 19,500.00
Vàng (Gold) 1,292.80
Thép phế liệu (Steel scrap) 282.00

 

 

 

VIMICO cùng “nắm chặt tay”

Phải đối mặt với không ít khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của ba quý đầu năm 2018 nên hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ công nhân viên lao động Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) đều hiểu rằng trong quý IV – quý “nước rút” của năm, họ phải tiếp tục chung sức, đồng lòng cùng “nắm chặt tay” và tích cực triển khai nhiều nhóm giải pháp quyết liệt để từng bước vượt khó, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tháo gỡ kịp thời những “điểm nghẽn”

Với VIMICO, từ đầu năm đến nay (tháng 10/2018) là quãng thời gian đơn vị phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: thuế phí, lệ phí tăng cao; công tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm làm ảnh hưởng đến sản xuất và tiến độ thực hiện các dự án; tài nguyên khoáng sản tại một số mỏ giảm do chủ yếu là khai thác nạo vét (nhất là các mỏ thiếc sa khoáng); chi phí đền bù lớn, giá thành sản xuất cao hơn nhiều so với giá bán nên chưa triển khai hoặc phải dừng khai thác (mỏ sắt Nà Lũng, mỏ sắt Làng Vinh – Làng Cọ); từ quý III/2018, giá một số sản phẩm kim loại chủ yếu như kẽm, thiếc, phôi thép trên thị trường có chiều hướng giảm… Do đó, một số chỉ tiêu SXKD của VIMICO trong 9 tháng đầu năm 2018 chưa đạt theo kế hoạch cũng như kết quả đạt được ở các đơn vị thành viên của Tổng công ty không đồng đều.

Mặc dù vậy, chúng tôi luôn ghi nhận được những nỗ lực, cố gắng không ngừng từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên lao động trong toàn Tổng công ty bằng những minh chứng sinh động khi trong ba quý đầu năm 2018, Tổng công ty vẫn giữ được lợi nhuận đạt 218 tỷ đồng (bằng 77,3% so với KHN); tạo được việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động với mức thu nhập bình quân 7,25 triệu đồng/người/tháng. Công tác an toàn được đảm bảo, tình hình an ninh trật tự được giữ vững trong điều kiện có nhiều phức tạp trong việc bảo vệ tài nguyên ranh giới mỏ, đền bù giải phóng mặt bằng. Đề án tái cấu trúc của Tổng công ty tiếp tục được tích cực triển khai theo kế hoạch. Đồng thời, chủ động nhận diện thực tế, thẳng thắn nhìn vào những “điểm nghẽn” ách tắc ở từng lĩnh vực, do đó, cùng với sự chỉ đạo của Tập đoàn, Tổng công ty đã từng bước tháo gỡ kịp thời.

Đặc biệt, các giải pháp kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả vẫn luôn được các đơn vị trong Tổng công ty tập trung triển khai – coi đây là giải pháp cốt lõi trong sản xuất kinh doanh. Điển hình như trong công tác tuyển nổi đồng đạt kế hoạch sản lượng, thực thu và các chỉ tiêu kỹ thuật; đã nghiên cứu thực nghiệm và đưa vào sử dụng thành công thuốc tuyển PAX thay thế Butylxantat; đã và đang thực nghiệm tuyển tách S trong tinh quặng sắt không sử dụng Axít Sunfuric, đến nay công nghệ cơ bản ổn định, thực thu tuyển đồng tăng trung bình 0,5% so với trước, lưu huỳnh trong tinh quặng sắt đạt ~ 2%S, hàm lượng tinh quặng đồng quý III/2018 bình quân 25,52%Cu đáp ứng yêu cầu cho luyện đồng; theo tính toán giá trị làm lợi khoảng 3,5 tỷ đồng/năm. Trong công tác luyện kim, việc sản xuất kẽm thỏi đã ổn định công nghệ, đảm bảo thời gian hoạt động, nâng cao chất lượng tấm dương cực chì điện phân, thực hiện lắng lọc cải thiện chất lượng dung dịch điện phân và ổn định chất lượng kẽm thỏi, việc thay thế chất xúc tác VK38 đã nâng cao thực thu axit sulfuric, giảm tiêu hao, giảm bã lắng kẽm và xử lý nước để tăng thực thu. Sản xuất phôi thép tiếp tục quyết liệt thực hiện các giải pháp để giảm chi phí, hạ giá thành như tận dụng khí than dư thừa để sản xuất vôi nung, giảm giá vôi trong sản xuất, tăng sử dụng vôi chín thay thế đá vôi trong thiêu kết, lò cao luyện gang đảm bảo tỷ lệ phun than (122 kg/120kg KH), tăng tỷ lệ phối liệu quặng thiêu kết chín > 85%/KH 80%, giảm sử dụng quặng cục để giảm tiêu hao than cốc; tăng cường thu hồi mê thép làm liệu nguội, thay thế một phần chất tăng cácbon bằng than antraxit để giảm chi phí…

Hành động cùng lời nói

Cùng với những khó khăn đặt ra trong hai phần ba chặng đường của năm 2018 nên trong quý “nước rút” còn lại nhiệm vụ của VIMICO rất nặng nề để “cán đích”. Bởi vậy, ngay từ những ngày đầu tiên của quý IV, trên khắp các khai trường, nhà máy của các đơn vị trong Tổng công ty đã dấy lên nhiều phong trào thi đua rộng khắp, thiết thực phát động chiến dịch 90 ngày đêm với các chỉ tiêu cụ thể, chi tiết phải hoàn thành. Tất cả đều đang đồng lòng vào cuộc, không dừng lại ở những giải pháp chung chung mà “hành động cùng với lời nói”.

Trong những tháng còn lại của năm 2018, Tổng công ty Khoáng sản cần xây dựng các nhóm giải pháp cụ thể, chi tiết, có đường găng cho từng phần việc để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao, nhất là tập trung tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh chưa hoàn thành theo kế hoạch. Cùng với đó, tiếp tục tập trung vào chương trình tái cơ cấu, khoán quản trị chi phí, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, đẩy mạnh triển khai chương trình tin học hoá – tự động hoá theo chủ trương của Tập đoàn…

– Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Nguyễn Anh Tuấn –

Theo Tổng Giám đốc VIMICO – Trịnh Văn Tuệ, trong ba tháng còn lại của năm 2018, Tổng công ty Khoáng sản sẽ tập trung trọng tâm và quyết liệt thực hiện 10 nhóm giải pháp trong tất cả các lĩnh vực. Trong công tác đầu tư xây dựng, tập trung chỉ đạo và huy động mọi nguồn lực, biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện đầu tư các công trình trọng điểm, công trình lớn của Tổng công ty như: Khai thác mở rộng và nâng công suất khu mỏ – tuyển đồng Sin Quyền; Mở rộng nâng công suất Nhà máy luyện đồng Lào Cai, Khai thác mỏ đồng Vi Kẽm, Bát Xát, Lào Cai… Tận dụng điều kiện thời tiết cuối năm có nhiều thuận lợi, tăng cường thực hiện công tác bóc xúc đất đá, đào lò chuẩn bị phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu khâu khai thác theo kế hoạch năm 2018. Đồng thời, đặc biệt quan tâm theo dõi, phân tích và nắm bắt diễn biến giá cả thị trường kim loại, kế hoạch SXKD năm 2018 điều chỉnh để xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hợp lý với giá cả cạnh tranh, lựa chọn thời điểm thích hợp để tổ chức đấu giá, đảm bảo có giá bán tốt nhất. Trong đó cần tập trung là sản phẩm phôi thép Cao Bằng, tinh quặng sắt khu vực Lào Cai; đối với sản phẩm đồng tấm phối hợp với TKV trong công tác tiêu thụ đảm bảo đúng tiến độ, hạn chế tối đa tồn kho…

“Thời gian tới, Tổng công ty phải tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, tập trung trọng tâm cho công tác phát triển tài nguyên, các giải pháp để nâng cao hiệu quả SXKD, tăng cường cập nhật những thay đổi về cơ chế chính sách, thị trường để có những ứng xử linh hoạt và phù hợp…” – đồng chí Vũ Văn Long – Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Khoáng sản nhấn mạnh.

 

 

Giá kim loại ngày 02/01/2019

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 02/01/2019 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,858.00
Đồng (Copper) 5,839.00
Kẽm (Zinc) 2,462.00
Niken (Nickenl) 10,440.00
Chì (Lead) 1,975.00
Thiếc (Tin) 19,525.00
Vàng (Gold) 1,282.30
Thép phế liệu (Steel scrap) 278.50

 

 

Giá kim loại ngày 31/12/2018

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 31/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,869.50
Đồng (Copper) 5,965.00
Kẽm (Zinc) 2,510.50
Niken (Nickenl) 10,595.00
Chì (Lead) 2,009.00
Thiếc (Tin) 19,500.00
Vàng (Gold) 1,279.80
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

Giá kim loại ngày 27/12/2018

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 27/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,898.00
Đồng (Copper) 5,990.00
Kẽm (Zinc) 2,553.00
Niken (Nickenl) 10,650.00
Chì (Lead) 1,996.50
Thiếc (Tin) 19,475.00
Vàng (Gold) 1,278.40
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

 

Giá kim loại ngày 24/12/2018

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 24/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,898.50
Đồng (Copper) 5,931.50
Kẽm (Zinc) 2,536.00
Niken (Nickenl) 10,800.00
Chì (Lead) 1,976.50
Thiếc (Tin) 19,405.00
Vàng (Gold) 1,266.60
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

Tập trung nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh

Sau 3 năm đưa vào vận hành dây chuyền sản xuất phôi thép, Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng từng bước làm chủ công nghệ, chú trọng đầu tư đổi mới các dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản xuất bước đầu có lợi nhuận, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng lên.

Sản xuất phôi thép tại Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng.

Trong công tác khai khoáng, Công ty thực hiện nghiêm quy trình quản lý kỹ thuật; thực hiện khai thác có chọn lọc ngay tại khai trường nhằm phân loại chất lượng quặng, hạn chế nghiền tuyển đại trà gây tiêu hao và lãng phí lớn; tập trung khai thác có chọn lọc quặng sắt có hàm lượng hơn 58% Fe phục vụ xưởng tuyển nghiền quặng hợp cách (0-8) mm, (8-38) mm để nghiền thành quặng hợp cách vận chuyển trực tiếp về Khu liên hợp.

Năm 2018, Công ty khai thác khoảng 200 tấn quặng sắt có hàm lượng hơn 58% Fe đưa về sân ga xưởng tuyển. Trong công tác luyện kim, Công ty tăng cường sử dụng nguyên liệu tự sản xuất và mua ngoài quặng tinh, quặng limonit, quặng cám hàm lượng cao để phối liệu, nâng cao chất lượng quặng thiêu kết. Tiếp tục nghiên cứu thay thế các loại phụ gia mới, như: thay thế chất tăng các bon phải nhập khẩu bằng than Antraxít giúp chủ động được nguồn nguyên liệu, không phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Công ty đã áp dụng giải pháp sử dụng Ferro Silic 45 thay 75 để giảm chi phí sản xuất, tận thu mê gang, mê thép trong xỉ. Nhờ áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật, năm 2018, Công ty đã bóc đất, đá gần 1 triệu m3; khai thác 320.000 tấn quặng nguyên khai. Sản xuất ước đạt 190.000 tấn phôi thép, tiêu thụ ước đạt 185.400 tấn phôi thép, đạt 97,58% kế hoạch. Tổng doanh thu ước đạt khoảng 2.000 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 900 lao động với mức lương bình quân 6,5 triệu đồng/người/tháng; nộp ngân sách hơn 30 tỷ đồng…

Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thời gian qua, Công đoàn Công ty luôn chú trọng công tác an toàn vệ sinh lao động, trong đó, xây dựng, kiện toàn và liên tục củng cố hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên gồm 65 người, có đủ trình độ, năng lực để đảm trách công tác an toàn vệ sinh lao động tại tổ, đội sản xuất; đảm bảo lực lượng và phương tiện phòng cháy chữa cháy tại chỗ để kịp thời xử lý các sự cố cháy nổ xảy ra. Tổ chức huấn luyện an toàn  cho người lao động, tham gia đầy đủ các chương trình huấn luyện do Tập đoàn, Tổng Công ty các đơn vị quản lý chức năng trên địa bàn tổ chức. Công tác bảo vệ môi trường cũng được quan tâm chú trọng. Thường xuyên tổ chức trồng, chăm sóc cây xanh làm đẹp cảnh quan; nạo vét, khơi thông mương rãnh thoát nước sân xưởng tuyển, dọn dẹp vệ sinh kho bãi nguyên, vật liệu; thu gom rác thải, chất thải đúng nơi quy định. Khảo sát lắp đặt trạm quan trắc khí thải tự động; giám sát chất lượng các nguồn thải, chủ động kiểm soát và xử lý đối với các chỉ tiêu vượt ngưỡng cho phép…

Giám đốc Công ty Vương Thanh Giang cho biết: Thời gian tới, Công ty tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp kỹ thuật cao để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm phôi thép, đáp ứng hiệu quả sản xuất, kinh doanh và yêu cầu của khách hàng. Tiếp tục đảm bảo vấn đề an toàn lao động, vệ sinh môi trường, quan tâm đến đời sống công nhân Công ty, góp phần đưa Công ty ngày càng lớn mạnh.

 

 

Giá kim loại ngày 21/12/2018

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 21/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,920.00
Đồng (Copper) 5,987.00
Kẽm (Zinc) 2,585.00
Niken (Nickenl) 10,785.00
Chì (Lead) 1,958.00
Thiếc (Tin) 19,400.00
Vàng (Gold) 1,255.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 288.00

 

 

 

Nâng cao năng lực khai thác và tuyển quặng đồng

Hiện nay, nhu cầu quặng đồng cho tuyển và luyện tăng cao, trong khi việc khai thác quặng gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc nâng cao năng lực khai thác và tuyển quặng là yêu cầu cấp bách đối với Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền.

Nhiều thiết bị hiện đại được đầu tư, góp phần cải thiện năng lực khai thác.

Đưa chúng tôi đến khai trường, đứng tại vị trí thuận lợi nhất, Phó Giám đốc Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền Đinh Tiến chỉ xuống và nói: Sau 13 năm khai thác, lòng khai trường khu Đông và khu Tây đều xuống dưới mực nước biển. Năm 2018, điểm khai thác sâu nhất dưới mực nước biển 44 m. Trong khi đó, cung độ vận chuyển quặng ngày càng xa, có vị trí lên tới 5,7 km, dẫn đến chi phí vận tải lớn, chiếm 30 – 40% chi phí sản xuất. Từ khai trường, không khó để nhận ra Nhà máy Tuyển quặng đồng số 2 đã hoàn thành, chuẩn bị đưa vào sản xuất. Được biết, Nhà máy Tuyển quặng đồng số 2 có công suất bằng Nhà máy Tuyển quặng đồng số 1 (42.000 tấn tinh quặng đồng/năm) và đã chạy thử ngày 15/11/2018. Như vậy, nhu cầu quặng đồng cho 2 nhà máy tuyển sẽ gấp đôi so với những năm trước. “Nói như vậy để thấy yêu cầu nâng cao năng lực khai thác, đáp ứng quặng đồng cho 2 nhà máy tuyển ngày càng cấp bách, trong khi điều kiện khai thác rất khó khăn, công tác giải phóng mặt bằng để triển khai dự án nắn suối Nậm Chỏn làm bãi thải đất đá gặp vướng mắc, chậm 1 năm so với tiến độ đề ra” – Phó Giám đốc Đinh Tiến nói.

Ngoài ra, hệ số bóc đất đá lớn cũng là một trong những khó khăn mà Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền đang phải đối mặt. Hiện nay, hệ số bóc đất đá lên tới 6 m3/tấn quặng, trong khi những năm trước chỉ ở mức 4 m3/tấn quặng. Điều này khiến chi phí cho sản xuất ngày càng lớn, đòi hỏi chi nhánh có những phương pháp sản xuất phù hợp, hiệu quả.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền đã chủ động tham mưu cho Tổng công ty Khoáng sản các phương án về khai thác, đầu tư thiết bị, mở mới khai trường, thay đổi phương thức quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực khai thác quặng. Để chuẩn bị quặng cho Nhà máy Tuyển quặng đồng số 2, chi nhánh đã tăng cường bóc đất đá, khai thác quặng. Năm 2018, khối lượng bóc đất đá lên tới 13 triệu m3, tăng 4 triệu m3 so với những năm trước. Nếu như trước năm 2012, thiết bị khai thác, vận tải chủ yếu là xe ben, máy xúc EKG thì từ năm 2013 đến nay, chi nhánh đầu tư trung bình 100 tỷ đồng/năm để mua sắm thiết bị khai thác, vận tải hiện đại, phù hợp với đặc thù khai thác xuống sâu, như xe Komatsu, máy xúc thủy lực Caterpillar. Cùng với đó, Chi nhánh chỉ đạo các phân xưởng (khai thác, tuyển khoáng) tập trung sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cao hiệu suất làm việc của thiết bị gắn với khoán định mức xăng dầu, góp phần giảm tiêu hao vật tư. Trong quá trình sản xuất, thực hiện linh hoạt các giải pháp khai thác, kịp thời điều chỉnh các vị trí khai thác để đảm bảo sản lượng. Cải tạo dây chuyền tuyển quặng, nâng cao sản lượng, hàm lượng tinh quặng đồng từ 24 đến 25%. Từ những giải pháp trên, sản xuất của Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền trong 9 tháng năm 2018 đạt kết quả khả quan: Bóc đất đá 7,8 triệu m3, sản xuất 33.000 tấn tinh quặng đồng, 58.000 tấn tinh quặng sắt, nộp ngân sách nhà nước 260 tỷ đồng.

Năm 2019, Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền được giao bóc đất đá 12,5 triệu m3, sản xuất 90.000 tấn tinh quặng đồng, 150.000 tấn tinh quặng sắt, nộp ngân sách nhà nước trên 500 tỷ đồng. “Rõ ràng, những chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 mà Tổng công ty Khoáng sản giao cho chi nhánh cao hơn, thậm chí một số chỉ tiêu cao gấp hai lần. Đó là thách thức không nhỏ, đặc biệt là phải đảm bảo đủ nguyên liệu cho tuyển quặng” – ông Đinh Tiến cho biết.

Xác định rõ những khó khăn, thách thức trong năm 2019, Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền đã có nhiều giải pháp, từ khâu đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị đến thay đổi quản lý, điều hành. Để đảm bảo nguyên liệu cho hai nhà máy tuyển quặng, trên cơ sở đã được cấp phép, chi nhánh đã tập trung triển khai dự án khai thác mở rộng mỏ Vĩ Kẽm (Cốc Mỳ, Bát Xát). Do đặc thù khai thác hầm lò nên chi nhánh đã tích cực tuyển dụng lao động địa phương và đào tạo để phục vụ cho khai thác mỏ Vĩ Kẽm. Đầu tư thêm 8 xe vận tải lớn, 2 máy xúc thủy lợi, gắn với tăng số lượng lao động lên 1.100 người để đáp ứng yêu cầu khai thác, vận hành dây chuyền tuyển quặng. Ứng dụng công nghệ vào sản xuất như sử dụng hệ thống cấp dầu tự động cho máy móc, trang bị camera tại các khai trường, sử dụng bộ đàm để kết nối chỉ đạo, đầu tư thêm hệ thống tự động hóa, đo độ PH, phân tích mẫu quặng tại Nhà máy Tuyển quặng đồng số 1.

Với những giải pháp trên, năng lực khai thác và tuyển quặng của Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền đã được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nguyên liệu cho luyện đồng.

 

 

 

Giá kim loại ngày 20/12/2018

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 20/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,923.50
Đồng (Copper) 6,015.00
Kẽm (Zinc) 2,600.00
Niken (Nickenl) 10,885.00
Chì (Lead) 1,961.50
Thiếc (Tin) 19,375.00
Vàng (Gold) 1,264.10
Thép phế liệu (Steel scrap) 290.00

 

 

Giá kim loại ngày 19/12/2018

 

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 19/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,928.00
Đồng (Copper) 5,987.00
Kẽm (Zinc) 2,596.00
Niken (Nickenl) 10,775.00
Chì (Lead) 1,942.00
Thiếc (Tin) 19,260.00
Vàng (Gold) 1,252.70
Thép phế liệu (Steel scrap) 296.00

 

 

 

 

Giá kim loại ngày 18/12/2018

Tên kim loại Giá đóng cửa ngày 18/12/2018 Ghi chú
Nhôm (Aluminium) 1,940.00
Đồng (Copper) 6,043.00
Kẽm (Zinc) 2,600.00
Niken (Nickenl) 10,885.00
Chì (Lead) 1,939.00
Thiếc (Tin) 19,300.00
Vàng (Gold) 1,249.30
Thép phế liệu (Steel scrap) 294.00