rèm cửa tphcm

rèm cửa sổ

rèm vải

rèm cuốn

rèm roman

rèm văn phòng

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

rèm cầu vồng

Rèm vải phòng khách

rèm vải chống nắng

Rèm cửa sổ

Rèm vải

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cuốn

Rèm văn phòng

Rèm gia đình

Rèm cầu vồng

Rèm sáo gỗ

Rèm sáo nhôm

Rèm cửa

Rèm vải

Rèm cầu vồng

Rèm cuốn

Rèm gỗ

Rèm lá dọc

màn cửa đẹp

rèm vải

rèm gia đình

rèm văn phòng

rèm cầu vồng

rèm cuốn

rèm sáo gỗ

rèm sáo nhôm

màn cửa hcm

màn cửa

màn vải

màn cuốn

màn cầu vồng

màn cầu vồng

màn cửa

màn vải đẹp

rèm cửa tphcm

rèm động cơ

rèm cuốn

rèm vải phòng khách

rèm vải phòng ngủ

rèm cầu vồng

rèm sáo

rèm nhôm

rèm roman

rèm sáo gỗ

rèm gỗ màu đen hà nội

rèm roman chống nắng hà nội

rèm vải cản nắng chống cháy

rèm cuốn chống cháy

rèm y tế kháng khuẩn

rèm cầu vồng kháng khuẩn

rèm cuốn in tranh trường học

rèm sáo nhựa giả gỗ

rèm cuốn không cẩn khoan tường

rèm phòng tắm giá rẻ

rèm cuốn xuyên sáng nhà hàng

rèm cửa

rèm cửa

Author Archives: khoahx

Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015), đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân uỷ Trung ương có bài viết “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này.

Xe tăng quân giải phóng chiếm dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975.
Ảnh: Trần Mai Hưởng – TTXVN

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta, tạo bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với nước ta – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó cũng là một sự kiện có tầm vóc quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc. Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phát huy cao độ nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta (1954 – 1975) là sự tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và tổ chức thực hiện đường lối đó phù hợp với điều kiện cụ thể và sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7/1954 đến tháng 5/1975, đó là Đảng ta đã thực hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng ta xác định: miền Bắc là hậu phương lớn, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước; miền Nam là tiền tuyến lớn, cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam – Bắc là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Đó là nét độc đáo chưa có tiền lệ trong lịch sử và là thành công lớn của Đảng ta; đồng thời, là nguyên nhân chủ yếu, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gay go, quyết liệt của nhân dân ta.

Việc xác định đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, tư duy chiến lược, tài thao lược xuất sắc của Đảng, nhất là ở những thời điểm mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến. Trước tình hình chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, lê máy chém đi khắp miền Nam, thẳng tay đàn áp các chiến sĩ cách mạng và quần chúng nhân dân, phong trào cách mạng miền Nam phát triển khó khăn, tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Nghị quyết Trung ương 15 chỉ rõ: con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; ngoài ra không có con đường nào khác. Chủ trương đúng đắn đó của Đảng đã tạo ra “làn gió mới”, khí thế mới, trở thành động lực thúc đẩy cách mạng miền Nam vững bước tiến lên. Mở đầu là phong trào Đồng khởi vào cuối năm 1959, sau đó nhanh chóng phát triển thành cao trào Đồng khởi trên khắp miền Nam. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo bước ngoặt, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đây là sự mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rất độc đáo, sáng tạo; đồng thời, là cơ sở để Đảng ta tiếp tục phát triển chiến tranh toàn dân, toàn diện và đánh bại các chiến lược: “chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965), “chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968), “Việt Nam hoá chiến tranh” (1969 – 1973) của đế quốc Mỹ, “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với việc đề ra đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã kiên định phương pháp cách mạng bạo lực tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang được tiến hành trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, kiên trì thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công. Tư tưởng đó được thực hiện không chỉ trong lúc địch “xuống thang” mà ngay cả khi chúng “leo thang” chiến tranh; và không chỉ đối với chiến tranh cách mạng ở miền Nam, mà cả trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chiến lược tiến công được thực hiện ở mọi thời điểm, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, với phương châm: “đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết (27/01/1973), quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam (29/3/1973), cục diện chiến trường chuyển biến có lợi cho ta. Nắm vững thời cơ chiến lược được mở ra sau gần hai mươi năm chiến đấu, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (khoá III) họp hai đợt (đợt I từ ngày 19/6 đến ngày 06/7/1973, đợt II từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/1973) đã khẳng định và củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong thời gian sớm nhất. Năm 1974, quân và dân ta mở các cuộc tiến công tạo thế trên khắp các chiến trường miền Nam, làm cho đối phương bị động, đối phó. Sau chiến thắng Thượng Đức, Đồng Xoài, nhất là thắng lợi của chiến dịch Đường 14 – Phước Long, đã tạo cơ sở để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng hạ quyết tâm, thực hiện kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 – 1976, đồng thời có phương án nếu thời cơ xuất hiện thì giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, thậm chí trước mùa mưa năm 1975.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự và chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển tới đỉnh cao. Nhân tố bảo đảm cho sự phát triển không ngừng của chiến tranh nhân dân đó là lực lượng vũ trang nhân dân, gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng vững mạnh, bố trí rộng khắp; trong đó, các binh đoàn chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong các chiến dịch, thực hiện tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chúng ta đã từng bước chuyển hoá cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ. Nét đặc sắc, độc đáo của chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở chỗ đã kết hợp chặt chẽ các nhân tố “thế, lực, thời, mưu” trong từng trận đánh, từng chiến dịch một cách linh hoạt, làm cho địch không thể lường được các hướng, mũi, lực lượng và sức mạnh tiến công của ta. Đó là cơ sở để Đảng ta kiên trì thực hiện phương châm chiến lược: đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi cuối cùng bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Đảng ta đặc biệt coi trọng và phát huy hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; trong các chiến dịch. Kế thừa kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành từ khi Quân đội ta mới thành lập và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được phát triển lên một bước mới, phong phú về nhiều mặt, thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội ta. Căn cứ vào tình hình thực tế trên chiến trường, công tác đảng, công tác chính trị đã tập trung xây dựng quyết tâm chiến đấu, làm cho toàn quân nhất trí cao với đường lối, chủ trương của Đảng, cả về mục tiêu chiến lược, thời cơ chiến lược, phương châm chỉ đạo chiến lược, phương thức tác chiến để giành thắng lợi. Chủ động chỉ đạo làm tốt chức năng “đội quân công tác” ở vùng mới giải phóng, phát huy vai trò của lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân trên địa bàn tác chiến chiến dịch. Công tác đảng, công tác chính trị đã trực tiếp định hướng tư tưởng bộ đội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào miền Nam “thành đồng Tổ quốc”. Qua đó, tạo động lực chính trị – tinh thần to lớn cho đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù xâm lược. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị còn góp phần xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ phương pháp tư duy quân sự cách mạng, khoa học; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí; giữa chính trị và quân sự; giữa dân chủ, kỷ luật và đoàn kết.

Về công tác tổ chức, xây dựng Đảng, đã tập trung xây dựng “chi bộ 4 tốt” kết hợp với xây dựng các trung đoàn, sư đoàn vững mạnh; tăng cường rèn luyện đảng viên gắn với rèn luyện cán bộ; duy trì nghiêm các nền nếp sinh hoạt, hoạt động của các tổ chức đảng trong điều kiện chiến tranh; thường xuyên chăm lo bảo đảm chính sách đối với bộ đội và hậu phương quân đội. Đội ngũ cán bộ chính trị các cấp được kiện toàn, bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực nên có sự phát triển nhanh chóng và khẳng định vai trò quan trọng trong thực tiễn chiến đấu. Đặc biệt, Đảng ta hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có đủ “tâm”, đủ “tầm” và kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Hình ảnh những vị tư lệnh, chính uỷ các binh đoàn chủ lực mẫu mực, xông xáo, quyết đoán, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc mãi mãi để chúng ta tôn vinh và học tập.

Hoạt động hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị cùng với các mặt công tác khác đã thực sự làm cho đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng đi vào thực tiễn chiến đấu của quân và dân ta, tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn, nhất là trong những thời điểm bước ngoặt, có tính quyết định.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thành quả vĩ đại của nhân dân ta, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Với đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, Đảng ta đã huy động được cao nhất sức mạnh của cả nước, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh chính trị – tinh thần, sức mạnh truyền thống yêu nước nồng nàn của đất nước ngàn năm văn hiến cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược lâu dài, cam go, quyết liệt. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với quan điểm đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng, Đảng ta đã phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn và không bao giờ quên sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta; đặc biệt là sự đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta.

*
* *

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực bên cạnh mặt thuận lợi, vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rất gay gắt, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố và các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống có chiều hướng gia tăng, tạo ra thách thức với nhiều quốc gia. Ở trong nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực sau 30 năm đổi mới; tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường, uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao, song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch vẫn đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “phi chính trị hoá” Quân đội. Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn lâu dài, không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta rất nặng nề, đan xen cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược này, chúng ta phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các lực lượng, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt.

Năm nay, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đúng vào thời điểm Đảng ta tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XII của Đảng. Đây là một sự kiện trọng đại đối với Đảng ta, dân tộc ta; đồng thời, cũng là dịp để Đảng ta nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, hoàn thiện đường lối đổi mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Bài học thành công về sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cần phải được tiếp tục kế thừa, phát huy trong tình hình mới. Đó là bài học kiên định đường lối, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất giai cấp công nhân và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đó, xác định đường lối, chủ trương, giải pháp lãnh đạo đúng đắn, sát yêu cầu phát triển của cách mạng; tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm ra quy luật khách quan bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng mang lại hiệu lực, hiệu quả trên thực tế.

Để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh” như tâm nguyện của Bác Hồ, toàn Đảng phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng; cán bộ của Đảng phải thực sự là công bộc của dân, quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người dân; khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, “lợi ích nhóm”, mất đoàn kết nội bộ, v.v… Đồng thời, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân với vai trò là một lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Quân đội cần chủ động nắm chắc tình hình, dự báo chính xác xu hướng phát triển, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh của đất nước; trên cơ sở đó, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng công an, đối ngoại để tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc và có đối sách, xử lý đúng đắn các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần tạo môi trường hoà bình ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Quân đội ta là quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phải tiếp tục hoàn thành tốt vai trò là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất, xứng đáng với niềm tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tô thắm thêm truyền thống phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Để làm được điều đó, phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hoá” Quân đội của các thế lực thù địch. Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; trong đó trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và các phương án, kế hoạch phòng thủ đất nước. Thường xuyên chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ.

Lịch sử 85 năm ra đời và phát triển của Đảng ta cho thấy, càng trong những thời điểm khó khăn, phức tạp thì bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, năng lực lãnh đạo của Đảng càng cần được khẳng định. Chúng ta tin tưởng rằng, bài học thành công về sự lãnh đạo của Đảng trong Đại thắng mùa Xuân 1975, cũng như toàn bộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước sẽ tiếp tục được phát huy trong tình hình mới./.

NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Quân uỷ Trung ương

Nguồn : dangcongsan.vn

Vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới

Nhân kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương có bài viết “Nhận thức sâu sắc hơn để kiên định, kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết:

Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho những chiến sĩ lập công xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liêu/TTXVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với quá trình lịch sử cách mạng nước ta và cách mạng thế giới trong thế kỷ 20.

Qua các giai đoạn cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, mặc dù tình hình trong nước và thế giới có những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, nhưng tính đúng đắn, sức sống, sự sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị.

Cụ thể là những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh từ tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về xây dựng Đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đến tư tưởng về phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam, về giáo dục, về ngoại giao,… cũng như đạo đức, phong cách của Người đã trở thành những giá trị bền vững.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sợi chỉ đỏ xuyên suốt, hạt nhân cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó chính là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Vì vậy, Đảng ta xác định chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của mình.

Chúng ta phải tiếp tục đào sâu nghiên cứu, nhận thức sâu sắc hơn, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, để kiên định, kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Marx-Lenin trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú, thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, tỏa sáng trong những trước tác, trong từng việc làm, cử chỉ và mối quan tâm sâu sắc, ân cần đối với con người, với nhân dân, đất nước và nhân loại, nhất là nhân dân các dân tộc bị áp bức.

Tất cả đều toát lên tình yêu thương, sự tôn trọng, thái độ khoan dung và niềm tin vào khả năng tự hoàn thiện của con người, khi được giải phóng, giác ngộ lý tưởng cách mạng cao quý.

Hồ Chí Minh chủ trương và suốt đời phấn đấu xây dựng một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng, người già yếu hoặc tàn tật được nhà nước giúp đỡ chăm nom, mọi người đều có điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy năng lực, sở trường của mình…

Mục đích cao nhất của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là mong muốn con người được giải phóng triệt để và trở thành chủ nhân đích thực của đất nước, của thế giới.

Với nghĩa như vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là kết tinh của văn hóa, văn hóa Việt Nam, văn hóa nhân loại. Cũng chính vì vậy, ngay từ tháng 6/1923, lần đầu gặp Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tại Moskva, nhà báo Liên Xô Ôxíp Man-đen-xtam đã khái quát: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa của châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa tương lai.”

64 năm sau, năm 1987, Hội đồng UNESCO đã ra quyết định phong tặng Hồ Chí Minh danh hiệu: “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Nhà văn hóa kiệt xuất” không chỉ của Việt Nam, mà còn của thế giới. Nghị quyết này của UNESCO đã phản ánh sự mong đợi của tất cả những ai yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới.

Phải chăng, giá trị nhân văn trong hệ thống các giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung ở hai nội dung cơ bản:

Một là, giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện nổi bật trong tư tưởng của Người, lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ý chí giành độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh giá trị bản chất của những giá trị nhân văn trong tư tưởng của Người.

Được nuôi dưỡng bởi những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, tận mắt chứng kiến cảnh nô lệ lầm than, đau khổ của đồng bào dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân xâm lược, Hồ Chí Minh đã quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, Người đã nhận thấy vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu cấp thiết của Việt Nam mà là đòi hỏi của các dân tộc thuộc địa và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại, Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”

Trong điều kiện thế giới ở nửa đầu thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau.” Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!”

Hai là, giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong những tư tưởng của Người trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa cái tốt với cái xấu, giữa cái cũ lạc hậu với cái mới tiến bộ, văn minh qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Trên cơ sở đúc kết quá trình phát triển trong lịch sử dân tộc và nhân loại, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới đương đại, Hồ Chí Minh đã khái quát thành chân lý: “Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” và: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng.”

Thiện và ác là cặp phạm trù cơ bản thuộc lĩnh vực đạo đức lan sang các lĩnh vực khác hàm chứa tính đối lập giữa cái tốt-nhân văn với cái xấu-phản nhân văn, giữa cái cũ lạc hậu-phản nhân văn với cái mới tiến bộ-nhân văn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.”

Hồ Chí Minh được suy tôn là Danh nhân văn hóa thế giới là do những cống hiến to lớn về nhiều mặt, đồng thời do tư tưởng đạo đức sâu sắc, giáo dục đạo đức kiên trì và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người.

Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu đã trích lời một học giả nước ngoài: “Cụ Hồ là một người xây dựng lương tri, xây dựng nó khi nó thiếu, tái tạo nó khi nó mất; Cụ thức tỉnh kẻ mê, ân cần đỡ dậy người trượt ngã, biến vạn ức người dân bình thường thành anh hùng vô danh và hữu danh trong lao động, trên chiến trường, trong ngục tối, trước máy chém…”

Với quan niệm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu,” Hồ Chí Minh kêu gọi diệt giặc dốt cùng với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Người chủ trương có phát triển nền giáo dục thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội, mới tiến kịp được sự phát triển chung của nhân loại.

Với tinh thần “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người,” Hồ Chí Minh chỉ rõ “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.”

Để đạt mục tiêu của chiến lược “trồng người” là giáo dục, đào tạo con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà, theo Người, phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện để đào tạo những con người có đức, có tài.

Nền giáo dục đó phải kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, gắn liền giáo dục của nhà trường với gia đình và xã hội, học suốt đời, kết hợp tự học với học trong nhà trường, học trong sách vở và học trong cuộc sống.

Đạo đức mà Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng xuất phát từ ý nghĩa nhân văn cao cả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

Về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền, Người khẳng định Đảng ta “là đạo đức, là văn minh.” Người chỉ rõ, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa.” Những yêu cầu đạo đức mà Người nêu ra trở thành hệ chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới, như: “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “Phải thật thà thương yêu và hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào”, “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và có tinh thần đoàn kết-đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong sáng…

Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng đạo đức cách mạng phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân. Khẳng định chủ nghĩa cá nhân “là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu”, Người cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Đồng thời, Người chỉ rõ: Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”…

Ngày nay, tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản vô giá và là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và những biểu hiện tha hóa về đạo đức trong xã hội, thấm đượm tinh thần nhân văn cao cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin, là nền tảng tư tưởng để Đảng ta phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh chính là “Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”.

Có thể nói, chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người ai cũng có công ăn, việc làm, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, được phát triển toàn diện.

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội “do nhân dân tự xây dựng lấy”, có nghĩa: đó là chế độ xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhân dân làm chủ.

Trong chủ nghĩa xã hội, các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau, đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, có quan hệ hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.

Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội như vậy không chỉ bảo vệ vững chắc thành quả của độc lập dân tộc, mà còn làm cho nhân dân được hạnh phúc, đồng bào được tự do, còn tạo ra điều kiện phát triển cho cả dân tộc, cho mọi người dân, góp phần xây dựng và phát triển nền hòa bình cho thế giới, hạnh phúc cho nhân dân các dân tộc, hợp tác và phát triển cho các quốc gia.

Trải qua các kỳ Đại hội, đến Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã hoàn thiện hơn nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.”

Đồng thời, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã bổ sung, phát triển phương hướng cơ bản xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đại hội XI của Đảng xác định 8 phương hướng cơ bản, đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta để nhận thức sâu sắc hơn về những giá trị dẫn đường bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh, những giá trị nhân văn và phát triển trong hệ thống các giá trị tư tưởng, đạo đức của Người, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển đất nước nhanh, bền vững hơn và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kế tục xứng đáng và hiện thực hóa tư tưởng vĩ đại, thấm đẫm tinh thần khoa học, cách mạng và nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Các từ khóa theo tin:
(Theo TTXVN/VIETNAM+)

Nguồn : dangcongsan.vn

Đại hội Đảng bộ bộ phận Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai khóa III nhiệm kỳ 2015 – 2020

Sáng ngày 8/5/2015, Đảng bộ bộ phận Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai tổ chức Đại hội lần thứ III, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Tới dự và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh Bí thư đảng ủy – Tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin.

Trong nhiệm kỳ qua (2010 – 2015), mặc dù có nhiều khó khăn thách thức, nhưng Đảng bộ bộ phận Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai đã phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực phấn đấu tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ II đề ra, Công ty luôn giữ vững nhịp độ phát triển, đạt được nhiều thành tích quan trọng trên các lĩnh vực phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức đoàn thể, chăm lo cho đời sống của người lao động.

Kết quả sản xuất kinh doanh trong nhiệm kỳ năm 2010 – 2015 của Công ty liên tục tăng trưởng, hoàn thành tốt các chỉ tiêu do Tổng công ty giao cụ thể: Năm 2014 sản lượng tinh quặng đồng quy đổi 24% Cu đạt 101,4% so với kế hoạch và tăng 1,6% so với năm 2013; sản lượng tinh quặng sắt quy đổi 61% tăng 3,3 % so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu năm 2014: 1.223,390 triệu đồng; Thu nhập bình quân năm 2014: 7,6 tr.đ/người/tháng.

Công tác văn hóa – thể dục thể thao cũng đạt nhiều tiến bộ Công ty luôn đứng trong tốp đầu các đơn vị trong Tổng Công ty và địa bàn tỉnh Lào Cai. Các hoạt động đền ơn – đáp nghĩa, các chính sách an sinh với chính quyền địa phương luôn được Đảng bộ quan tâm thực hiện chu đáo. Công tác an ninh, giữ gìn trật tự trong nội bộ được đảm bảo và tăng cường.

Cùng với đó, công tác xây dựng Đảng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ tiếp tục được nâng lên. Toàn Đảng bộ hiện có 04 chi bộ trực thuộc với 88 đảng viên. Tỷ lệ đảng viên được phân loại đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đạt trên 90%, chi bộ đạt trong sạch vững mạnh đạt 100%.

Đại hội đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư đảng ủy – Tổng giám đốc Tổng công ty khoáng sản – Vinacomin đồng chí đánh giá cao kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2010 – 2015 của Đảng bộ Công ty. Trong nhiệm kỳ 2015 – 2020 cần tăng cường chỉ đạo các biện pháp về quản lý và mọi mặt sản xuất của Công ty nhằm tiết giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Phấn đấu năm 2015 sản phẩm tinh quặng Cu 24,5% đạt 49.000 tấn, sản phẩm tinh quặng Fe 64% đạt 90.000 tấn . Quan tâm hơn nữa đến công tác tuyển dụng lao động, quy hoạch cán bộ, tái cơ cấu lao động. Công tác phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong Công ty. Công tác chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cán bộ công nhân viên, quan hệ tốt với địa phương đảm bảo an ninh trật tự và chính trị xã hội.

Đại hội đã bầu 07 đồng chí vào Ban chấp hành khóa III; tại phiên họp thứ nhất Ban chấp hành khóa mới đã bầu ra Bí thư, Phó bí thư; bầu 26 đồng chí tham gia đoàn đại biểu dự Đại hội Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin lần thứ III; và thông qua Nghị quyết về các nhiệm vụ, mục tiêu của Đảng bộ trong nhiệm kỳ mới.

Nhiệm kỳ 2015 – 2020, Công ty đã đề ra mục tiêu: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Phấn đấu Công ty tiếp tục là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua lao động sản xuất của Tổng công ty với tiêu chí năm 2015 – 2020 khối lượng đất đá bóc đạt 66.700.000m3, sản phẩm tinh quặng Cu 24,5% đạt > 469.000 tấn, sản phẩm tinh quặng Fe 64% đạt > 880.000 tấn, sản phẩm bi nghiền đạt > 9.500 tấn. Đảm bảo thu nhập cho người lao động phấn đấu năm 2015 đạt > 6,8tr.đ/người/tháng, và các năm 2016 – 2020 > 7,2tr.đ/người/tháng…

Một số hình ảnh tại Đại hội:

Nguồn : dongsinquyen.vn

Đi từ truyền thống, xây dựng cho hiện tại và tính đến tương lai

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa rất lớn và bước đầu đem lại kết quả tích cực trong giai đoạn hiện nay.

Bác Hồ đi bầu cử Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960) tại Hà Nội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu hai điều vô cùng quan trọng, cần coi như định hướng cho mọi suy nghĩ và hành vi đạo đức của nhân dân ta trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Mọi tiêu chí đạo đức, khi xây dựng, đều phải xuất phát từ hai điều cơ bản này và cụ thể hóa trong hoàn cảnh hiện nay.

Thứ nhất, định hướng cho lý tưởng đạo đức của nhân dân ta trước những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của dân tộc mà mọi người có đạo đức phải thực hiện cho kỳ được: Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Đạo lý làm người của dân tộc trước hết phải tập trung vào bảo vệ từng tấc đất của quốc gia trên tinh thần toàn dân cùng yêu thương và gắn bó với nhau để làm cho dân giàu, nước mạnh. Lời nói của Người phải là một động cơ mãnh liệt trong tư duy, trong tình cảm và ở ý chí của con người. Câu nói đó không chỉ là một lời răn dạy nói suông mà phải gắn liền với tinh thần dũng cảm hy sinh và khí phách kiên cường của dân tộc từ đời này qua đời khác.

Thứ hai, cụ thể hóa nội dung và bản chất của yêu cầu cơ bản và đạo đức qua thái độ, hành vi hàng ngày. Điều này bao gồm những tiêu chí cần thiết nhất của con người Việt Nam đứng trước mọi nhiệm vụ lịch sử của dân tộc: Đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị. Trong xã hội ngày nay, những tiêu chí đó càng đặc biệt quan trọng:

Cần: Tức là nói tới ý thức và hành vi quan trọng nhất trong xã hội ngày nay đó là lao động. Nhưng lao động ở thời đại ngày nay là lao động không ngừng phát triển trên cơ sở tiếp thu những kiến thức ngày một cao của nhân loại và tạo ra một trình độ lao động phù hợp với thời đại trí tuệ ngày nay.

Kiệm: Có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong khi đất nước ta còn rất nhiều những việc làm lãng phí, tổn hại đến tài sản chung của quốc gia.

Liêm: Vì sao Hồ Chí Minh nêu lên tiêu chí liêm của con người ngay trong thời kỳ mà đất nước còn vô cùng thiếu thốn? Vì sao khi Người tiếp thu bốn tiêu chí cơ bản trong đạo đức nho giáo nhân, nghĩa, trí, dũng, Người đã cải biến và nâng cao những tiêu chí đó bằng một nội dung mới và thêm vào đó một tiêu chí quan trọng nữa là liêm.

Chính: Hồ Chí Minh đòi hỏi sự đúng mực của con người không chỉ trong hành động mà ngay cả trong suy nghĩ. Một con người thực sự có đạo đức thì phải có được sự đúng mực ngay cả trong những lúc suy tư thầm kín của mình. Người nêu lên khái niệm tư vô tà trong Đường Kách mệnh đòi hỏi cán bộ ngay trong suy nghĩ thầm kín của mình cũng không được có một sự tính toán bất chính. Phải không để cho một tính chất tà ngụy nào làm vấn đục suy nghĩ trong sáng của con người cách mạng.

Bác Hồ và nông dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) tháng 9/1954

Chí công vô tư: Nghĩa là luôn luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích của cá nhân và gia đình. Điều đó chỉ có thể đạt được ở những con người thực sự có tâm hồn trong sáng, lấy lợi ích của tổ quốc và nhân dân làm lẽ sống và hạnh phúc của mình.

Khái niệm khiêm tốn giản dị mà Hồ Chí Minh nêu lên cũng không thể bỏ qua. Chạy theo tiền tài và danh lợi, lầm tưởng rằng có chút địa vị trong xã hội, ăn sang, mặc đẹp, nhà cửa rộng rãi đã là hay ho nhất, thì liệu khi vi phạm đạo đức rồi có nhận ra?

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước đang đi vào thời kỳ đầy triển vọng nhưng cũng đầy gian nan thách thức. Chúng ta đang cần có một cuộc chuyển biến lớn trên lĩnh vực đạo đức. Cần ngăn chặn ngay những hiện tượng hư hỏng và xấu xa về đạo đức đang diễn ra ở nơi này, nơi khác. Đứng trước truyền thống đạo đức mà quá khứ để lại, cần gạt đi những cái lối thời, không phù hợp với diễn biến lịch sử. Mặt khác, trước tình hình mới, cần xác định được cụ thể những tiêu chuẩn cơ bản mà xã hội đang đòi hỏi về mặt đạo đức của cả xã hội, của cả gia đình và mỗi cá nhân.

Xây dựng đạo đức mới trong thời đại ngày nay bắt đầu từ học tập và làm theo gương Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, bởi từ cuộc đời, từ lời nói và việc làm của Người, chúng ta có thể hiểu thêm được quy luật phát triển của đạo đức, quy luật mang tính phổ biến ở mọi thời đại lịch sử. Chúng ta không chỉ hiểu đạo đức Hồ Chí Minh như thế nào, mà quan trọng hơn là hiểu được những điều kiện cần thiết nào đã dẫn tới sự hình thành nên tư tưởng đạo đức đó! nĐạo đức Hồ Chí Minh là tài sản quý giá nhất mà lịch sử đã để lại cho nhân dân ta, là sức mạnh tinh thần bất diệt, đã từng giúp dân tộc ta vượt mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu

Nguồn : baocongthuong.com.vn

Đại hội III Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản – Vinacomin Đại hội của trí tuệ và đổi mới

Ngày 8,9/6/2015 tại trụ sở Tổng Công ty số 193 Nguyễn Huy Tưởng- Thanh Xuân – Hà Nội. Tổng Công ty Khoáng sản – Vinacomin tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ TCTy lần thứ III, nhiệm kỳ 2015- 2020.

Ban chấp hành Đảng ủy Tổng công ty khóa III ra mắt Đại hội.

Đến dự Đại hội, Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội có đ/c Doãn Trung Tuấn phó Bí thư đảng ủy khối CN Hà Nội; Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam có đ/c Lê Tuấn Minh, phó Bí thư Đảng ủy Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam; Tổng Công ty có các đ/c Trần Quốc Lộc – Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty; đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng Công ty; Các đ/c là Bí thư Đảng ủy của các Công ty con trong TCTy cùng 124 đ/c là đại biểu chính thức được bầu từ các Đảng bộ, Chi bộ trưc thuộc TCTy đã về dự.

Đ/c Đào Minh Sơn – Phó bí thư Đảng ủy TCTy đã trình bày báo cáo chính trị của BCH khóa II, theo đó báo cáo nêu rõ: 5 năm qua, việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tổng công ty lần thứ II diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp và khó lường. Xung đột xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là tình hình căng thẳng trên biển Đông.

Ở trong nước, việc tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế được triển khai quyết liệt, môi trường kinh doanh và năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp trong khi yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao…
Nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát; sức mua giảm, giá cả đầu vào nhiều loại biến động tăng; các loại thuế, phí, lệ phí tại các địa phương tăng mạnh làm tăng chi phí giá thành. Thị trường tiêu thụ khoáng sản gặp khó khăn, giá bán các sản phẩm chính của Tổng công ty giảm mạnh so với 5 năm trước. Một số sản phẩm giá bán thấp như: kẽm thỏi, thiếc thỏi, đồng tấm, axít, quặng sắt, các sản phẩm fero, … sức mua suy giảm. Đội ngũ CBCN kỹ thuật và công nhân lành nghề còn thiếu và yếu, đặc biệt là các mỏ ở vùng sâu, vùng xa. Song với truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” đã tạo ra sức mạnh, tạo ra sự đồng thuận cao trongCBCNVC và sự nhất trí cao trong tập thể lãnh đạo Tổng công ty để vượt qua những khó khăn và thách thức trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Đảng bộ Tổng công ty đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ SXKD theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ II, nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra. Kết quả đạt được như sau:
– Giá trị tổng sản lượng đạt 2.667 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân là 3,13% năm và tăng 1,44 lần so với giai đoạn 2006-2010;
– Doanh thu đạt 18.326 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 5% năm và tăng 1,6 lần so với giai đoạn 2006-2010;
– Nộp ngân sách đạt 2.640 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 8,23% năm và tăng 2,4 lần so với giai đoạn 2006-2010;
– Lợi nhuận đạt752tỷ đồng, bằng 54% so với giai đoạn 2006 – 2010 (nguyên nhân chính là do trong nhiệm kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, giá bán các sản phẩm khoáng sản giảm, chi phí thuế, giá vật tư, nguyên nhiên liệu Nhà nước liên tục điều chỉnh tăng,…);
– Tiền lương bình quân 72.963.000 đồng/người năm, tăng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010;
– Tổng mức đầu tư 3.883 tỷ đồng, tăng trưởng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010;
Công tác xây dựng Đảng :
5 năm liền từ 2010 đến 2014, Đảng bộ Tổng Công ty đều đạt Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.
100% các Chi, Đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Tổng công ty hàng năm đều được Đảng bộ Tổng công ty đánh giá phân loại là Tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh trong đó có trên 15% đạt Tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu.
100% đảng viên đủ điều kiện đều được đánh giá phân loại hàng năm; không có Đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ; tỷ lệ Đảng viên đủ tư cách HTTNV đạt trên 95%, trong đó, trên 20% đạt HTXSNV.
Trong nhiệm kỳ 2010-2015 đã kết nạp được 126 Đảng viên mới, tăng 110% so với Nghị quyết đề ra. Nhiệm kỳ qua đã làm thủ tục cấp Thẻ Đảng cho 150 Đảng viên.Toàn Đảng bộ có 25 Đảng viên được vinh dự tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.
Phát biểu tại Đại hội đ/c Doãn Trung Tuấn – Phó Bí thư Đảng ủy khối CN Hà Nội; Đ/c Lê Tuấn Minh – Phó Bí thư Đảng ủy Tập Đoàn CN Than – Khoáng sản VN đã ghi nhận thành tích xuất sắc của Đảng bộ TCTy trên các mặt lãnh đạo SXKD, xây dựng Đảng, và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể quần chúng nhiệm kỳ qua. Các đ/c đề nghị Đại hội nghiên cứu bổ sung vào Báo cáo một số mặt công tác như: Đảng bộ cần tuyên truyền giáo dục để Đảng viên và người lao động nhận thức sâu sắc về những thuận lợi, khó khăn những thách thức trong quá trình SXKD của TCTy; Quản lý chặt chẽ công tác đầu tư, áp dụng công nghệ mới, đẩy mạnh công tác sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt chú ý đến công tác chuẩn bị tài nguyên, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là các chuyên gia kỹ thuật về khai thác và chế biến khoáng sản. Tiến hành đúng tiến độ cấu trúc lại TCTy như cổ phần hóa Công ty mẹ, thoái vốn ở một số đơn vị không cần tham gia; tiếp tục triển khai các dự án chế biến sâu khoáng sản. Trong công tác Đảng cần nêu cao vai trò hạt nhân của mỗi Đảng viên, khẳng định vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong các lĩnh vực của quá trình sản xuất, tích cực triển khai tại các Chi, Đảng bộ chương trình học tập và làm theo tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đại hội đã sáng suốt lựa chọn bầu ra Ban chấp hành Đảng ủy TCTy khóa III gồm 15 đồng chí. Tại phiên họp đầu tiên BCH đã bầu 5 đ/c vào Ban thường vụ, bầu đ/c Nguyễn Tiến Mạnh -Tổng Giám đốc TCTy là Bí thư đảng ủy TCTy khóa III; đ/c Đào Minh Sơn là Phó Bí thư Đảng ủy TCTy khóa III, bầu 5 đ/c trong Ủy ban kiểm tra Đảng ủy TCTy khóa III; Đại hội đã bầu được 7 đ/c là đại biểu sẽ tham dự Đại hội Đảng bộ Khối Công nghiệp Hà Nội tới đây.
Phương hướng khóa III nhiệm kỳ 2015-2020 báo cáo nêu rõ:
Tư duy chiến lược của TCTy:Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh; thân thiện với môi trường; thích ứng với biến đổi của thị trường; hài hòa với địa phương và cộng đồng; hài hòa với đối tác và bạn hàng; hài hòa giữa các công ty thành viên và người lao động.Mục tiêu tổng quát là:
“XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TỔNG CÔNG TY KHOÁNG SẢN

GIẦU MẠNH – THÂN THIỆN – HÀI HÒA”
Đưa Tổng công ty trở thành Nhà sản xuất và cung ứng các sản phẩm từ các khoáng sản: đồng, chì, kẽm, thiếc, vàng, tinh quặng sắt và phôi thép, đất hiếm với khối lượng lớn, chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; phấn đấu tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững; Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết, thống nhất, có năng lực lãnh đạo và tính chiến đấu cao. Đội ngũ cán bộ, Đảng viên, công nhân viên chức có phẩm chất tốt, năng lực chuyên môn cao đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Tổng công ty trong tình hình mới.
Các chỉ tiêu chủ yếu trong nhiệm kỳ:
– Giá trị tổng sản lượng tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2011-2015;

– Doanh thu đạt 36.770 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 5% /năm, và tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2011-2015;

– Nộp ngân sách trên 5.000 tỷ đồng, tăng 2 lần so với giai đoạn 2011-2015;

– Lợi nhuận đạt 1.000 tỷ đồng, tăng 1,33 lần giai đoạn 2011-2015;
– Tiền lương bình quân 80.259.300 đồng/người /năm, tăng 1,1 lần so với giai đoạn 2011-2015;
– Tổng mức đầu tư 11.841 tỷ đồng, tăng 3 lần so với giai đoạn 2011-2015.

Trong giai đoạn 2016 – 2020 tập trung đầu tư các Dự án: Mở rộng nâng công suất khu Mỏ Tuyển đồng Sin Quyền Lào Cai, nâng công suất Nhà máy Luyện đồng Lào Cai giai đoạn I lên 20.000 tấn/năm, dự kiến năm 2017 đưa vào sản xuất.
Trong diễn văn bế mạc Đại hội đ/c Nguyễn Tiến Mạnh -Bí thư Đảng bộ TCTy khóa III thay mặt Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, Đảng viên và công nhân viên chức trong TCTy tăng cường, phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đã đề ra.
Đại hội đã thành công tốt đẹp.
Sau đây là một số hình ảnh về Đại hội ./.

Đ/c: Doãn Trung Tuấn – Phó Bí thư Đảng ủy khối CN Hà Nội phát biểu tại Đại hội.

Đ/c Lê Tuấn Minh – Phó Bí thư Đảng ủy Tập Đoàn CN Than – Khoáng sản VN phát biểu tại Đại hội.

Đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng công ty phát biểu tại Đại hội.

Một số tiết mục văn nghệ chào mừng Đại hội.

Tác giả bài viết: Đức Mậu; Ảnh: Minh Hùng

Đồng chí Nguyễn Văn Linh với sự nghiệp đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1976) đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ trương của Đảng là củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy nhanh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và nông nghiệp ở miền Nam, xóa bỏ kinh tế tư bản tư nhân, đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, nhằm thống nhất quan hệ sản xuất và chế độ kinh tế trên cả nước.

 

Đảng cho rằng, với thuận lợi mới và sức mạnh của cả nước, chỉ cần vài ba kế hoạch 5 năm là có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành những mục tiêu cơ bản về xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh – với trọng trách Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh – đã cùng tập thể Đảng bộ và chính quyền thành phố lãnh đạo 4 triệu nhân dân thành phố mới giải phóng vượt qua những khó khăn, thách thức về mọi mặt. Là người dày dạn kinh nghiệm và bản lĩnh chính trị trong lãnh đạo chiến tranh giải phóng, đồng chí Nguyễn Văn Linh trăn trở nhiều về đường đi, nước bước của thời kỳ mới. Vừa nắm vững quan điểm, mục tiêu của Đảng, vừa phải suy nghĩ từ thực tiễn, chú trọng tổng kết những việc đã làm.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đồng chí Nguyễn Văn Linh mới có điều kiện nhiều lần ra miền Bắc, về thăm quê hương Hưng Yên. Đồng chí đã chú ý nghiên cứu để làm rõ kinh nghiệm và hiệu quả của cải tạo xã hội chủ nghĩa của miền Bắc trước đó để suy nghĩ về giải pháp, hình thức cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, khi đồng chí được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương.

Có một thực tế trong sản xuất nông nghiệp mà ai cũng thấy là cũng đồng đất và hoàn cảnh như nhau, nhưng ruộng của hợp tác xã thì năng suất, sản lượng rất thấp, còn ruộng 5% để lại cho gia đình xã viên làm kinh tế gia đình lại có năng suất rất cao. Xã viên tập trung đầu tư cho đất 5% và coi đó là nguồn sống chủ yếu. Thực tế đó ai cũng thấy nhưng vì sao không nghiên cứu, tổng kết làm rõ nguyên nhân, nhất là từ phía cách thức quản lý và chế độ phân phối. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhiều lần nêu ra vấn đề đó. Phải quản lý kinh tế bằng biện pháp và quy luật kinh tế chứ không thể bằng cách quản lý hành chính. Việc “khoán chui” trong hợp tác xã nông nghiệp ở Đồ Sơn, Hải Phòng cuối những năm 70 là sự tìm hướng đi đúng. Điều đó đã được Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc chủ trương khoán hộ, năm 1966, ở miền Bắc.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ VI, ngày 18/12/1986
(Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)

Thành phố Hồ Chí Minh sau giải phóng là một thành phố công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cải tạo xã hội chủ nghĩa như thế nào để vẫn phát triển sản xuất, bảo đảm các hoạt động kinh tế bình thường, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Cơ sở công nghiệp, thương mại, dịch vụ tư bản tư nhân được cải tạo thành cơ sở kinh tế quốc doanh nhưng phải có hướng đi đúng, cách quản lý thích hợp mới có thể phát triển. Kế hoạch sản xuất, nguồn vốn, nguyên liệu, lao động và thị trường là những vấn đề lớn đặt ra và phải mang lại hiệu quả kinh tế. Đó là điều đồng chí Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh mạnh dạn tìm cách làm khác, vượt qua cơ chế, cách làm cũ.

Năm 1979, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội. Khủng hoảng có nguyên nhân khách quan là hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh; sự cấm vận của Mỹ và các nước khác; chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây-Nam và biên giới phía Bắc; sự phá hoại của thế lực thù địch. Nguyên nhân chủ quan, đó là những khuyết điểm trong cơ chế, chủ trương, chính sách từ căn bệnh chủ quan duy ý chí, giáo điều, nóng vội. Để khắc phục những khuyết điểm đó, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng đã thấy rõ sự cần thiết phải đổi mới, cơ chế, chính sách. Cần phải tổng kết cách làm của thành phố Hồ Chí Minh, của Hải Phòng, nhiều địa phương và một số đơn vị kinh tế. Bước đột phá đầu tiên là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (8/1979) với chủ trương động viên, khuyến khích mọi người lao động, mọi năng lực sản xuất và thành phần kinh tế làm cho sản xuất bung ra, cải tiến lưu thông, phân phối để thúc đẩy sản xuất phát triển.

Với đột phá quan trọng đó đã đi đến đổi mới từng phần có ý nghĩa rất quan trọng. Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/1/1981 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra bước phát triển to lớn trong sản xuất nông nghiệp. Quyết định 25-CP và 26-CP ngày 21/1/1981 của Chính phủ cho phép các đơn vị kinh tế quốc doanh xây dựng và thực hiện 3 kế hoạch đã tạo bước chuyển biến quan trọng trong sản xuất công nghiệp. Đại hội V của Đảng (3/1982) cũng đã nhận thức lại một số vấn đề của thời kỳ quá độ và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nửa đầu những năm 80, với cương vị Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng Đảng bộ lãnh đạo thực hiện những chủ trương, chính sách mới của Đảng; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ, đổi mới sản xuất kinh doanh ở thành phố Hồ Chí Minh; ổn định kinh tế – xã hội và đời sống của nhân dân. Đồng chí Nguyễn Văn Linh khuyến khích tinh thần năng động, tự chủ của các ngành và đơn vị kinh tế, coi trọng hạch toán kinh tế, tính hiệu quả của sản xuất, kinh doanh và lợi ích của người lao động. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và các nước khác đòi hỏi phải nghiên cứu và nhận thức đúng đắn chính sách kinh tế mới của Lênin. Đối với một nước tiểu nông muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, Lênin đã căn dặn: “Không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế”[1].

Năm 1985, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Linh đã viết loạt bài trên báo Nhân Dân tổng kết chặng đường 10 năm xây dựng và phát triển của thành phố từ sau ngày được giải phóng. Đó là những tổng kết có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn, đóng góp quan trọng để hình thành những quan điểm đổi mới của Đảng. Ý tưởng và cách làm của đồng chí Nguyễn Văn Linh và Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị lắng nghe, ủng hộ và gắn với nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn chung của Đảng để đi đến những quyết sách lớn. Về vấn này, không thể không nhắc tới cuộc làm việc của đồng chí Nguyễn Văn Linh với các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tháng 7/1983 tại Đà Lạt. Bước đột phá thứ hai là Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa V (6/1985) xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ thay đổi chính sách về giá cả, tiền lương và tiền tệ. Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa V, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu và Bộ Chính trị.

Cuối năm 1985 đầu năm 1986, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do những khuyết điểm trong cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền (9/1985). Trung ương Đảng và Bộ Chính trị quyết tâm lãnh đạo khắc phục khó khăn, tiếp tục đổi mới tư duy và cơ chế chính sách. Tháng 6/1986, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Bí thư và được phân công Thường trực Ban Bí thư. Với sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh, Bộ Chính trị đã họp tháng 8/1986 và đi tới những kết luận quan trọng, nhấn mạnh đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và 3 chương trình kinh tế lớn. Đó là bước đột phá thứ ba rất quan trọng của quá trình hình thành đường lối đổi mới. Với tư duy lý luận mới và quá trình khảo nghiệm thực tiễn, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng với Thường trực Ban Bí thư Nguyễn Văn Linh và tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa V đã chỉ đạo chặt chẽ xây dựng các văn kiện trình Đại hội VI của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) có tầm quan trọng đặc biệt. Đại hội đã quyết định đường lối đổi mới, mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư duy mới, những quan điểm, cơ chế và chính sách mới. Đảng quyết định tập trung đổi mới kinh tế với chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế trong suốt thời kỳ quá độ; xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp, chú trọng hạch toán kinh tế, kết hợp đúng đắn kế hoạch hóa với cơ chế thị trường; tập trung thực hiện chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đổi mới các chính sách xã hội, chăm lo lợi ích và cuộc sống của người lao động. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chú trọng đề ra chính sách, pháp luật, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Tăng cường quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đổi mới sự lãnh đạo và phong cách công tác của Đảng và quản lý của Nhà nước; nâng cao năng lực quản lý đất nước, xã hội bằng pháp luật. Nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm vững và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ. Nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, phù hợp với đặc điểm Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”[2].

Đại hội VI của Đảng đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư. Với trọng trách nặng nề trước Đảng và nhân dân, đất nước, đồng chí đã cùng Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị lãnh đạo cụ thể hóa, thể chế hóa và hiện thực hóa đường lối đổi mới, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, vượt qua những khó khăn, thách thức ở trong nước và trên thế giới.

Triển khai thực hiện đường lối đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vừa chú trọng thực hiện những quan điểm cơ bản có ý nghĩa chiến lược, vừa quan tâm những việc cần làm ngay, kết hợp chặt chẽ nói và làm. Những bài của đồng chí trên báo Nhân Dân ký tên “NVL” có ý nghĩa chỉ đạo sâu sắc, kịp thời khắc phục bệnh quan liêu, sự trì trệ, vô cảm trong lãnh đạo, quản lý ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, tạo nên phong cách công tác mới, phê phán sự im lặng đáng sợ.

Tại lớp nghiên cứu Nghị quyết Đại hội VI tổ chức tháng 5/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu trọng tâm hướng vào Đổi mới tư duy và phong cách. Đồng chí nhấn mạnh: “Phải nhìn thẳng vào sự thật, phải thấy rằng thiếu sót chủ quan của chúng ta là nghiêm trọng và kéo dài. Phải có tinh thần dũng cảm tự phê phán mạnh mẽ và triệt để để đổi mới. Không như thế, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài với những tai họa thật sự – những tai họa không phải do bản chất của chế độ chúng ta gây ra mà là do khuyết điểm của chúng ta gây ra”[3]. Đồng chí nêu rõ: “Nói đến tư duy là nói đến trình độ nắm bắt các quy luật khách quan, nói đến việc suy nghĩ theo đòi hỏi của các quy luật đó và vận dụng chúng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, nói đến quá trình sáng tạo đề ra các ý kiến mới, nói đến việc tìm tòi các biện pháp có hiệu quả cho hành động”[4].

Những chính sách cụ thể rất có ý nghĩa đã được Đảng, Nhà nước quyết định ngay khi bước vào đổi mới làm chuyển biến quan trọng tình hình kinh tế-xã hội. Quyết định 217-HĐBT (11/1987) trao quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp quốc doanh. Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội khóa VIII thông qua (12/1987) và có hiệu lực từ 1/1/1988. Đặc biệt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (5/4/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân với quy mô hợp lý và ổn định trong 15 năm. Kinh tế hộ trong nông nghiệp tạo ra động lực mới cho sự phát triển nền kinh tế. Vụ mùa năm 1988 được mùa lớn. Năm 1989, Việt Nam từ nước thiếu đói, nhập khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực thứ 3 trên thế giới, bảo đảm nhu cầu lương thực trong nước. Cuối năm 1988, thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, bỏ chế độ phân phối theo định lượng bởi tem phiếu. Từ nền kinh tế hiện vật chuyển dần sang kinh tế hàng hóa, điều tiết theo thị trường với sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước. Đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện.

Khi Việt Nam đổi mới, các nước xã hội chủ nghĩa khác đang đẩy mạnh cải cách, mở cửa, cải tổ. Trên thực tế, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã không mang lại kết quả và có những sai lầm trong nhận thức, quan điểm và chính sách, giải pháp. Khi các nhà lãnh đạo tuyên bố cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn, nhưng lại xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học, cùng với những sai lầm chính trị đã đưa các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng dẫn tới sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội mà lẽ ra có thể sửa chữa, khắc phục được những khuyết tật.

Với bản lĩnh và sự nhạy cảm về chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và tập thể lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đề ra những nguyên tắc chỉ đạo đổi mới tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (3/1989) bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới không đi chệch hướng. Đổi mới nhưng không xa rời con đường, mục tiêu xã hội chủ nghĩa – con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn. Kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin – nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phê phán khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, âm mưu đa nguyên, đa đảng. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ phải đi đôi với tập trung với kỷ luật, pháp luật, với ý thức, trách nhiệm công dân, dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Từ bài học không thành công của cải tổ ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thấy rõ sự cần thiết và cấp thiết giữ vững mặt trận tư tưởng, lý luận, kiên quyết phê phán những sai trái, lệch lạc về tư tưởng, lý luận chính trị, chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm sự thống nhất về nhận thức và ý chí, hành động trong Đảng và xã hội ở thời điểm khó khăn, phức tạp nhất. Tăng cường công tác vận động quần chúng để củng cố sức mạnh đoàn kết dân tộc, sự đồng thuận xã hội để tạo nên những bước chuyển biến căn bản trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Ngăn chặn có hiệu quả những tác động tiêu cực từ bên ngoài, đồng thời kiên quyết trấn áp những hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh rất coi trọng tư duy mới trong quan hệ đối ngoại. Sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng là ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về đổi mới tư duy, điều chỉnh đường lối đối ngoại, tập trung giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển kinh tế. Sau chiến thắng 7/1/1979 đánh đổ chế độ diệt chủng PônPốt bảo vệ biên giới Tây-Nam, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, quân đội và chuyên gia Việt Nam theo yêu cầu của bạn đã ở lại giúp chính quyền và nhân dân Campuchia hồi sinh đất nước. Khi phía bạn đã tự bảo vệ được, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã quyết định rút quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam về nước. Nhiệm vụ đó được hoàn thành ngày 29/9/1989 mở đường cho việc giải quyết vấn đề Campuchia và khai thông quan hệ với các nước lớn. Ngày 6/11/1989, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh có thông điệp tới nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khẳng định, phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc trao đổi các bước có thể về bình thường hóa quan hệ hai nước. Ngày 12/12/1989, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nêu rõ, lãnh đạo Trung Quốc chân thành mong muốn bình thường hóa quan hệ hai nước. Tại Thành Đô (Trung Quốc) ngày 3/9/1990, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã có cuộc gặp gỡ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng về vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Ngày 18/9/1990, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp là khách mời đặc biệt của Chính phủ Trung Quốc dự khai mạc Á vận hội tại Bắc Kinh. Ngày 5/11/1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc, ký Tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ hai nước. Đó là sự thể hiện nhất quán tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Việt Nam là bạn của tất cả các nước, không gây thù oán với một ai.

Trong nhiệm kỳ khóa VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh để trình Đại hội VII của Đảng. Đồng chí cũng chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp 1980 và đã đi tới thông qua Hiến pháp mới – Hiến pháp 1992 phù hợp với thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Về xây dựng Cương lĩnh, đã phát triển tư duy mới về lý luận, chú trọng tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trên cả nước, thảo luận và phát huy trí tuệ tập thể, lắng nghe ý kiến của các đồng chí cố vấn, các đồng chí lãnh đạo các thời kỳ và các nhà khoa học. Cương lĩnh xây dựng đất nhước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII (6/1991) thông qua là bước phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cương lĩnh đã tổng kết những bài học lớn của cách mạng Việt Nam; đã đề cập toàn diện về nội dung, hình thức, bước đi đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; nêu lên 6 đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những vấn đề về nền tảng tư tưởng, lý luận, hệ thống chính trị, chế độ kinh tế, cơ cấu xã hội, giá trị văn hóa, con người, quyền làm chủ của nhân dân và đại đoàn kết dân tộc, quốc phòng – an ninh và đối ngoại đã được làm sáng tỏ. Cương lĩnh đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Đọc báo cáo tại Đại hội VII của Đảng, Tổng Bí thư khóa VI Nguyễn Văn Linh khẳng định quyết tâm đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”[5].

Sau Đại hội VII của Đảng (6/1991), trên cương vị Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh tiếp tục đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố độc lập chủ quyền dân tộc dựa trên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ đối ngoại trong thời kỳ kết thúc chiến tranh lạnh, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng Trung ương chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tấm gương của Bác Hồ.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 – 1/7/2015), càng thêm tự hào và biết ơn một người con của dân tộc Việt Nam, của quê hương Hưng Yên giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng, một người đảng viên Cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và nhân dân, người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự nghiệp đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước không ngừng phát triển sẽ mãi mãi nhớ về nhà lãnh đạo đã góp phần to lớn hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới của Đảng./.

 

PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn : Dangcongsan.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 – Bước ngoặt lịch sử và bài học giành chính quyền về tay nhân dân

70 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một, nhất tề vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ngày nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công do sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khôn khéo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo, có phương pháp và chiến lược, chiến thuật cách mạng thích hợp, linh hoạt.

Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng nhìn rõ hơn tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công khẳng định sự vận dụng tài tình nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng ta. Thời điểm này, phong trào cách mạng nước ta đã lên tới cao trào, quần chúng cách mạng, mặt trận Việt Minh đã sẵn sàng hành động với một khí thế chưa từng có. Lực lượng cách mạng đã lôi kéo được các tầng lớp trung gian, trước đó còn lừng chừng, ngả hẳn về phía cách mạng. Đảng Cộng sản Đông Dương có kế hoạch cử cán bộ chủ chốt về các địa phương lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Đó là lúc quân Anh chưa vào miền Nam và quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật, cũng là lúc quân Nhật bại trận, mất tinh thần, ngồi chờ quân Đồng minh đến tước vũ khí, ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Nhờ vậy, sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước một cách nhanh, gọn, ít đổ máu và thành công triệt để.

Đảng ta đã sử dụng phương thức quân sự, chính trị phối hợp, đồng thời với đòn tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng và sự nổi dậy của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó, lực lượng chính trị đóng vai trò quyết định, tiến hành mít tinh, biểu tình, thị uy, bao vây các công sở, gây sức ép, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên truyền thanh thế của cách mạng, thị uy biểu dương lực lượng. lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn cho lực lượng chính trị nổi dậy và giải quyết các tình thế đột xuất: Diệt ác ôn trừ gian, bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân dân.

Việc chọn địa bàn Tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị với tinh thần đồng loạt nổi dậy. Khi nhận được “Quân lệnh số 1”, cả nước đều nhất loạt khởi nghĩa, làm cho quân Nhật không kịp trở tay, không còn khả năng giải tỏa, ứng cứu chi viện cho nhau. Mục tiêu khởi nghĩa được chọn là các cơ quan đầu não, các công sở chính quyền địch, như ở Hà Nội là Tòa Khâm sai, Phủ Toàn quyền và các cơ quan đầu não ở các tỉnh, thành phố… Việc lựa chọn mục tiêu chính xác góp phần thúc đẩy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng trên cả nước.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, là tài sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Vận dụng bài học của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cần tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi trong nước và quốc tế, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước và cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khơi dậy lòng tự tin dân tộc…, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Tác giả bài viết: Lược ghi theo Thượng tướng, Viện sĩ, TS KHQS. NGUYỄN HUY HIỆU (Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng)

Nguồn : Vinacomin.vn

Nhận diện những nguy cơ, thách thức tác động đến sự phát triển bền vững của Tập đoàn giai đoạn 2015 – 2020 và các giải pháp căn bản để hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tập đoàn

Nhìn lại mục tiêu tổng quát của hai kỳ Đại hội Đảng bộ Tập đoàn, chúng ta thấy rõ có sự thay đổi lớn trong xác định mục tiêu chiến lược của từng giai đoạn. Mục tiêu của Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ nhất là: “…xây dựng Tập đoàn trở thành Tập đoàn công nghiệp – thương mại – tài chính – kinh doanh đa ngành…” đến mục tiêu của Đại hội lần này là “…giữ vững vai trò Tập đoàn kinh tế mạnh, là một trong 3 trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia…”. Đó là sự thay đổi về chất trong nội dung trọng tâm phát triển sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn. Điều đó đặt ra vấn đề với chúng ta là giải pháp nào đảm bảo sự phát triển bền vững của Tập đoàn? Để trả lời câu câu hỏi này, chúng ta cần nhận diện một cách rõ ràng những nguy cơ, thách thức tác động đến sự phát triển của Tập đoàn và đưa ra những giải pháp để hoàn thành mục tiêu giai đoạn 2015 – 2020.


I. Những nguy cơ, thách thức tác động đến sự phát triển bền vững của Tập đoàn trong giai đoạn 2015 – 2020.

1. Năng suất lao động thấp: mặc dù năng suất lao động chung toàn Tập đoàn đã được cải thiện nhiều trong những năm gần đây song vẫn còn ở mức thấp so với một số nước trong khu vực có cùng ngành nghề, có điều kiện địa chất, kỹ thuật mỏ tương tự như của chúng ta. Đây là nguy cơ lớn nhất tác động đến sức cạnh tranh của các sản phẩm và cũng đang là nguy cơ trực tiếp có thể dẫn đến sự “thất bại thị trường” của Tập đoàn.

2. Công tác quy hoạch ngành thành một hệ thống “kinh doanh mỏ”, từ khâu mở mỏ, trình tự khai thác, đổ thải, cơ sở hạ tầng (đường vận chuyển, điện, nước, cảng…), chế biến và tiêu thụ, các công trình môi trường chưa tính toán đầy đủ đến các yếu tố khu vực dân cư xung quanh, sự tác động của biến đổi khí hậu cực đoan, do đó đã dẫn đến các nguy cơ rủi ro cao do sự chồng lấn, sạt lở, trôi lấp… gây ra thiệt hại nghiêm trọng (như tác động của thiên tai mưa lũ lớn trong thời gian đầu tháng 8 vừa qua).

3. Tập đoàn chịu sự tác động nhiều hơn của những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa trong nước và quốc tế (giá các sản phẩm than, khoáng sản đang giảm mạnh do tác động của thị trường tài chính và xung đột lợi ích chính trị), tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển kinh doanh bền vững của Tập đoàn. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với các giải pháp quản lý tài chính và đầu tư của Tập đoàn trong giai đoạn 2015 – 2020.

4. Giải pháp “xã hội hóa” trong lĩnh vực đầu tư mỏ là một giải pháp đúng nếu thực hiện theo mô hình “đối tác công – tư”, tuy nhiên trên thực tế trong thời gian qua giải pháp này chủ yếu được thực hiện theo hướng “tư nhân hóa” các dự án đầu tư và dịch vụ của Tập đoàn. Điều này có nguy cơ dẫn đến thiệt hại từ phân chia lợi ích của dự án, dịch vụ giữa tư nhân (dòng tiền dương) và Tập đoàn (dòng tiền âm), và triệt tiêu các lợi ích không tính được bằng tiền của dự án (như việc làm, lợi ích môi trường, cộng đồng).

5. Đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Tập đoàn (bao gồm cán bộ quản lý, quản trị doanh nghiệp, chuyên gia, và công nhân kỹ thuật trong các lĩnh vực) còn thiếu và yếu. Lực lượng lao động trực tiếp (thợ lò), chưa được đào tạo một cách toàn diện về kỹ năng và lòng yêu nghề, cùng với đó môi trường lao động nghề mỏ nặng nhọc độc hại, các chính sách đãi ngộ chưa tương xứng… dẫn đến thợ lò bỏ việc ngày càng nhiều. Đây là nguy cơ, thách thức lớn của Tập đoàn trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

6. Ngoài ra, còn có sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp lý; thiếu đồng bộ giữa quy hoạch phát triển năng lượng của Nhà nước và các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương; các chính sách quản lý của Nhà nước đối với ngành Than hay thay đổi, biến động. Đặc biệt là các chính sách liên quan đến thuế, phí, giấy phép các loại…, do đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của Tập đoàn.

II. Các giải pháp căn bản để hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ II, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đề ra.

Để Tập đoàn có thể hóa giải những nguy cơ, vượt qua thử thách, đảm bảo hoàn thành tốt mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ II, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đề ra, cần tập trung vào một số giải pháp căn bản sau:

1. Quản trị tài nguyên như một nguồn vốn gắn liền với chiến lược đầu tư phát triển kinh doanh bền vững bằng việc:

– Nâng cao năng lực thực tiễn về khảo sát, thăm dò địa chất đối với các vỉa than, khoáng sản rắn sâu (từ -300m trở xuống) đối với các vùng Quảng Ninh, đồng bằng Sông Hồng.

– Nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng thực tiễn các phương pháp phân tích số liệu địa chất bằng mô hình hóa, tối ưu hóa với độ tin cậy cao và lập báo cáo đánh giá trữ lượng, chất lượng than, khoáng sản đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

– Nghiên cứu thử nghiệm “khoán” trữ lượng tài nguyên khoáng sản trong hệ thống quản trị doanh nghiệp mỏ để nâng cao hiệu quả quá trình quản trị, chống thất thoát, lãng phí tài nguyên than và khoáng sản.

2. Phát triển nguồn nhân lực Tập đoàn dựa trên cơ sở triết lý kinh doanh của mô hình quản trị hiện đại: đó là vừa tạo ra lợi nhuận, vừa phát triển đội ngũ giai cấp công nhân mỏ trung thành, lao động sáng tạo và có cơ hội thăng tiến. Bao gồm cán bộ quản lý, quản trị cao cấp, chuyên gia, công nhân kỹ thuật trong các lĩnh vực. Đây chính là chìa khóa tạo ra năng suất và phát triển bền vững của Tập đoàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác cán bộ, bởi vì hiện nay có không ít cán bộ có xu hướng ngại khó, giảm sút tình yêu nghề. Do đó, công tác cán bộ phải lựa chọn được những cán bộ không những đáp ứng các tiêu chuẩn đã đề ra, mà còn phải có tình yêu nghề, có lòng quả cảm, dám dấn thân vào những việc khó khăn, thách thức.

3. Giải pháp quản trị kinh doanh

– Tái cơ cấu phương thức quản lý kinh doanh của Tập đoàn theo nguyên tắc tạo mọi điều kiện để các công ty thành viên chủ động sản xuất và kinh doanh, là cơ sở để nâng cao năng suất lao động. Tiếp tục hoàn thiện giải pháp “xã hội hóa” theo mô hình hợp tác công – tư, đảm bảo lợi ích của Tập đoàn, đồng thời tạo ra một thị trường huy động vốn tư nhân thực sự có hiệu quả (dòng tiền dương cho Tập đoàn).

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán, quản trị chi phí trong toàn Tập đoàn dựa trên cơ sở các hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật tiên tiến, kết hợp với các phương pháp phân tích cơ cấu giá thành phù hợp với các điều kiện địa chất, khai thác khác nhau, đồng thời có tính đến sự đồng bộ trong khai thác, vận chuyển và đổ thải về không gian và thời gian của các mỏ trong vùng.

4. Giải pháp về công nghệ khai thác:

– Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư xây dựng, đầu tư phát triển khoa học, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa các cơ sở sản xuất, nâng cao mức độ an toàn, bảo vệ môi trường, đảm bảo tiến độ các dự án quyết định tăng trưởng của Tập đoàn trong các lĩnh vực để hoàn thành và hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2015-2020 và định hướng phát triển đến năm 2030 đã đề ra. Trước mắt tập trung ưu tiên đẩy mạnh các dự án khai thác mỏ than hầm lò.

– Cần có các giải pháp quy hoạch và cải tạo tối ưu đối với các mỏ than lộ thiên tại vùng Hòn Gai sẽ tạm dừng khai thác trong giai đoạn 2015 – 2020, các vùng đất khai thác bauxite tại Lâm Đồng, Đắk Nông và các khu vực khai thác khoáng sản khác trên cơ sở đảm bảo mục tiêu chuyển đổi và tạo ra các vùng đất có giá trị kinh tế xã hội cao và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

– Xu hướng phân bố tài nguyên trữ lượng than, khoáng sản ngày càng sâu và phức tạp đòi hỏi phải phát triển hệ thống khai thác liên kết một số mỏ hiện nay thành hệ thống mỏ lớn. Trước mắt triển khai liên thông thành công 3 mỏ lộ thiên Cao Sơn, Cọc Sáu và Đèo Nai. Sau sẽ nghiên cứu lựa chọn liên thông một số mỏ hầm lò. Do đó, đòi hỏi phải thay đổi tư duy và phương pháp ngay từ công tác tư vấn, thiết kế và nghiên cứu, cũng như quản lý, vận hành khai thác kinh doanh mỏ dựa trên cơ sở mô hình hóa (tài nguyên) và tối ưu hóa (mỏ) trong không gian và theo thời gian ngay từ bây giờ.

5. Phát triển và củng cố các mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nước: (i) Tiếp tục xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác bạn hàng lớn, truyền thống trong nước như: Tổng Công ty Đông Bắc, EVN, PVN, Tổng Công ty xi măng, hóa chất…và các khách hàng lớn khác trên cơ sở tin cậy, lâu dài và cùng có lợi. (ii) Quan hệ mật thiết với các địa phương nơi có hoạt động SXKD của Tập đoàn, nhất là các địa bàn chiến lược như: Quảng Ninh, Lào Cai, Lâm Đồng, Đăk Nông, Hà Tĩnh…nhằm tiếp tục xây dựng môi trường kinh doanh hài hòa lợi ích với cộng đồng, địa phương. (iii) Duy trì và phát triển các mối quan hệ với các đối tác nước ngoài như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Úc,… không chỉ là tạo ra thị trường thương mại, mà còn là thị trường chuyển giao công nghệ và tri thức tiên tiến, hiện đại trên phạm vi toàn cầu.

Với quyết tâm cao của Đảng bộ Tập đoàn và sự tin tưởng, ủng hộ mạnh mẽ của đảng viên, cán bộ công nhân viên và đội ngũ thợ mỏ, TKV sẽ có đủ sức mạnh để hóa giải được các nguy cơ, tiếp tục lãnh chỉ đạo Tập đoàn phát triển bền vững và hướng tới các mục tiêu cao hơn.

Tác giả bài viết: Đặng Thanh Hải – Tổng giám đốc Tập đoàn TKV

Nguồn : Vinacomin.vn

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng

Ngày 7/12, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Lê Hồng Anh đã ký ban hành Chỉ thị số 50-CT/TW về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”.

Toàn văn nội dung Chỉ thị như sau:

Khen thưởng kịp thời các cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống tham nhũng. Ảnh: HH

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X, Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khoá XI, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu; số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít; một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm; thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta.
Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém trên trước hết là do người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa quan tâm đúng mức công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý tham nhũng, chưa ý thức đầy đủ hậu quả của tham nhũng ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, sự tồn vong của chế độ; chưa thực sự coi chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Quy định pháp luật chưa hoàn thiện, có những nội dung chưa phù hợp, khó áp dụng; một số cơ chế, chính sách quản lý kinh tế – xã hội còn sơ hở, chưa theo kịp tình hình thực tiễn. Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, phương tiện làm việc và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp phát hiện, xử lý tham nhũng còn bất cập. Chưa phát huy tốt vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong phát hiện và xử lý tham nhũng. Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng kết quả còn hạn chế.

Để nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, Bộ Chính trị yêu cầu cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

1- Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu.

Xử lý kịp thời, nghiêm minh người đứng đầu để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình trực tiếp lãnh đạo, quản lý nhưng không chủ động phát hiện, xử lý, nhất là đối với trường hợp bao che, ngăn cản việc phát hiện, xử lý tham nhũng.

2- Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng sát với thực tiễn của nước ta và phù hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Các hành vi tham nhũng phải được quy định thống nhất trong Bộ luật Hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Sửa đổi, bổ sung pháp luật về thanh tra, kiểm toán theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cơ quan trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng; các trường hợp có dấu hiệu tội phạm qua thanh tra, kiểm toán phải chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra; quy định cụ thể trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị chức năng trong phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng.

Hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định tư pháp phục vụ việc giải quyết các vụ án tham nhũng, kinh tế.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo, bảo đảm các tố cáo về tham nhũng phải được giải quyết kịp thời, tránh tình trạng đùn đẩy, bao che, không giải quyết hoặc giải quyết không đúng quy định pháp luật.

3- Nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý tham nhũng thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, giải quyết tố cáo, xử lý tố giác, tin báo tội phạm, kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức.

Tăng cường trách nhiệm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong giám sát công tác phát hiện, xử lý tham nhũng. Phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của xã hội, nhất là Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, ban thanh tra nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng trong phát hiện tham nhũng. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở; tạo điều kiện, khuyến khích cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động phát hiện các hành vi tham nhũng. Bảo vệ, khen thưởng xứng đáng người dũng cảm tố cáo hành vi tham nhũng; đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi trù dập, trả thù người tố cáo tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để gây mất đoàn kết nội bộ, vu khống, hãm hại người khác.

Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát công tác phát hiện, xử lý tham nhũng đối với cơ quan, đơn vị chức năng có nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

4- Phải xác minh, điều tra làm rõ, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật những vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, với nguyên tắc: Tích cực, khẩn trương; làm rõ đến đâu xử lý đến đó; không phân biệt người có hành vi tham nhũng là ai, đã có dấu hiệu tội phạm phải khởi tố điều tra và đã kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử. Chú trọng áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của pháp luật để kịp thời phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng. Chấn chỉnh, xử lý kịp thời các vi phạm trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng; khắc phục tình trạng hành vi tham nhũng có dấu hiệu tội phạm, nhưng chỉ xử lý kỷ luật hành chính, kinh tế. Hằng năm, ở từng cấp cần chọn án điểm để chỉ đạo xử lý, qua đó rút kinh nghiệm để làm tốt hơn.

Trong xử lý tham nhũng phải xác minh rõ, chính xác tài sản của người có hành vi tham nhũng; áp dụng kịp thời các biện pháp thu hồi tối đa tài sản do tham nhũng mà có trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Xử lý nghiêm minh những cán bộ không tích cực thu hồi hoặc cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng.

Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị chức năng, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng.

5- Tiếp tục củng cố, kiện toàn bộ máy, cán bộ tham mưu cho các cấp uỷ, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

Sơ kết tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh uỷ, thành uỷ để có sự điều chỉnh theo hướng cụ thể hơn về thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, đề xuất mô hình cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Trước mắt, đổi mới phương thức hoạt động, củng cố, bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tăng cường phương tiện làm việc của các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng. Có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ, công chức trong các đơn vị chuyên trách chống tham nhũng.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương chủ trì nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của uỷ ban kiểm tra đảng các cấp trong công tác phòng, chống tham nhũng.

6- Đẩy mạnh công tác truyền thông về công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng. Công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng kết quả phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, các vi phạm trong công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng và kết quả xử lý những vi phạm đó.

7- Tăng cường hợp tác có hiệu quả với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc xử lý tội phạm tham nhũng. Chủ động đàm phán, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp với các nước; thực thi công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp điều kiện, quy định của pháp luật Việt Nam.

8- Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp có trách nhiệm phổ biến, quán triệt, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.

Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Bộ Chính trị theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ đảng.

Nguồn : dangcongsan.vn

Hội nghị Tổng kết công tác Xây dựng Đảng năm 2016

Ngày 21/01/2016 tại trụ sở Tổng công ty Khoáng sản – TKV số 193 Nguyễn Huy Tưởng- Thanh Xuân – Hà Nội, Tổng công ty tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Xây dựng Đảng năm 2015 triển khai nhiệm vụ công tác năm 2016.

Đến dự Hội nghị, Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội có đ/c Doãn Trung Tuấn, Bí thư Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội; Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam có đ/c Lê Tuấn Minh phó Bí thư thường trực Đảng ủy Tập đoàn; Tổng công ty có các đ/c Trần Quốc Lộc, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty; đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tổng công ty; Các đ/c là thành viên HĐQT, phó TGĐ, Trưởng ban Kiểm soát, Chủ tịch, phó Chủ tịch Công đoàn, Bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc; Trưởng các phòng, Ban TCTy và Bí thư Đảng ủy của các công ty con trong TCTy cùng các đ/c là ủy viên BCH, ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy TCTy đã về dự.

Đ/c Đào Minh Sơn phó bí thư Đảng ủy TCTy đã trình bầy báo cáo tổng kết công tác xây dựng đảng năm 2015. Báo cáo nêu rõ: Thị trường tiêu thụ khoáng sản gặp khó khăn, giá bán các sản phẩm chính của Tổng công ty giảm mạnh so với năm trước. Một số sản phẩm giá bán thấp như: Thiếc thỏi, đồng tấm, kẽm thỏi, quặng sắt… sức mua suy giảm. Đảng bộ Tổng công ty đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ SXKD năm 2015 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ III, nhiệm kỳ 2015- 2020 đã đề ra. Kết quả đạt được như sau:

– Doanh thu: 3.400 tỷ đồng, bằng 100,01% kế hoạch điều chỉnh và bằng 86,60% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó: Doanh thu khoáng sản: 2.779 tỷ đồng, doanh thu khác: 621 tỷ đồng.

– Lợi nhuận trước thuế dự kiến toàn Tổng công ty: dự kiến 10 tỷ đồng.

– Tiền lương bình quân: đạt 5,402 triệu đồng/người/tháng, bằng 83,19% KH năm và bằng 86,45% so với cùng kỳ năm 2014.

– Lao động sử dụng bình quân trong kỳ: 5.338 người, đạt 85,27%KH và bằng 96,11 % so với cùng kỳ năm 2014.

– Nộp ngân sách: 888,968 tỷ đồng bằng 148% kế hoạch điều chỉnh và bằng 135,19% so với cùng kỳ năm 2014

Công tác xây dựng Đảng :

Kết quả đánh giá phân loại năm 2015, toàn Đảng bộ có 17 chi bộ, đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, đạt 85%, trong đó có 08 chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 03 chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt tỷ lệ 15%; không có chi, đảng bộ hoàn thành nhiệm vụ, chi bộ yếu kém. Đối với chi bộ trực thuộc đảng bộ bộ phận có 11 chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, đạt 79%; 03 chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt 21%, không có chi bộ hoàn thành nhiệm vụ, chi bộ yếu kém.

Về đánh giá chất lượng Đảng viên: 18% đảng viên toàn đảng bộ đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 71% tổng số đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, 5% tổng số đảng viên hoàn thành nhiệm vụ.

Năm 2015 Đảng bộ Tổng công ty đạt Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.

Trong năm đã kết nạp được 46 Đảng viên mới, làm thủ tục cấp Thẻ Đảng cho 35 Đảng viên, chuyển đảng chính thức cho 20 đ/c đảng viên, có 5 Đảng viên vinh dự được tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.

Phương hướng nhiệm vụ năm 2016 báo cáo nêu rõ: Đảng ủy Tổng công ty tập trung chỉ đạo các đơn vị bám sát các chỉ tiêu trong Hợp đồng phối hợp SXKD, cùng Tổng công ty hoàn thành các chỉ tiêu năm 2016 như sau:

– Tổng doanh thu: 4.204 tỷ đồng, bằng 124 % so với năm 2015. Trong đó: Doanh thu SX khoáng sản: 4.103 tỷ đồng, bằng 147,6% so với dự kiến thực hiện năm 2015; Doanh thu SX, kinh doanh khác: 101 tỷ đồng.

– Lợi nhuận: 29 tỷ đồng.

– Tiền lương bình quân: 6,176 triệu đồng/người/tháng, bằng 114% so với dự kiến thực hiện năm 2015.

– Tổng giá trị ĐTXD CB: 1.525,8 tỷ đồng, trong đó: Xây lắp: 380 tỷ đồng; Thiết bị: 708 tỷ đồng; KTCB khác: 438tỷ đồng.

– Khảo sát thăm dò địa chất: 57,185 tỷ đồng

Phát biểu tại Hội nghị đ/c Doãn Trung Tuấn Bí thư Đảng ủy khối CN Hà Nội, đã chúc mừng 5 đ/c Đảng viên trong Đảng bộ được tặng danh hiệu 30 năm tuổi Đảng năm 2015, đây không những là vinh dự của 5 cá nhân mà còn là vinh dự của cả Đảng bộ TCTy, đ/c ghi nhận thành tích xuất sắc của Đảng bộ TCTy trên các mặt lãnh đạo SXKD, xây dựng Đảng, và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể quần chúng năm qua. Đ/c đề nghị đảng bộ nghiên cứu bổ sung vào Báo cáo một số mặt công tác như: Đảng bộ cần tuyên truyền giáo dục để Đảng viên và người lao động nhận thức sâu sắc về những thuận lợi, khó khăn những thách thức trong quá trình SXKD của TCTy; Quản lý chặt chẽ công tác đầu tư, áp dụng công nghệ mới, đẩy mạnh công tác sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt chú ý đến công tác chuẩn bị tài nguyên, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực nhất là các chuyên gia kỹ thuật về khai thác và chế biến khoáng sản, tiếp tục triển khai các dự án chế biến sâu khoáng sản. Trong công tác Đảng cần nêu cao vai trò hạt nhân của mỗi Đảng viên, khẳng định vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong các lĩnh vực của quá trình sản xuất, tích cực triển khai tại các chi, Đảng bộ chương trình học tập và làm theo tư tưởng đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong kết luận Hội nghị đ/c Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư Đảng bộ TCTy khẳng định năm 2015 Các cơ sở Đảng, các đảng viên trong TCTy đã lãnh đạo và tổ chức thực hiện được rất nhiều việc trong quá trình quản lý điều hành sản xuất kinh doanh, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của tập thể và từng cá nhân. Sang năm 2016 phát huy truyền thống của ngành khoáng sản đoàn kết khắc phục mọi khó khăn mỗi cán bộ đảng viên, cán bộ công nhân viên chức trong TCTy tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện lao động sáng tạo, đề ra nhiều giải pháp, dự kiến nhiều kịch bản ứng phó linh hoạt với tình hình. Chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra.

Hội nghị đã thành công tốt đẹp.

Sau đây là một số hình ảnh về Hội nghị ./.

Tác giả bài và ảnh Phòng CNTT& TrT

Kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 03- CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị trong Đảng bộ Tập đoàn TKV giai đoạn 2011 – 2015

Triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” , Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch số 16-KH/ĐUK của Đảng ủy Khối DNTW trong bối cảnh ngành Than-Khoáng sản Việt Nam trải qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, đã giành được nhiều kết quả quan trọng, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng. Tuy nhiên, Tập đoàn TKV cũng gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu làm cho nhu cầu về năng lượng giảm kéo theo giá than và khoáng sản giảm thấp. Bên cạnh đó, điều kiện SXKD của Ngành ngày càng khó khăn hơn do tài nguyên ngày càng xuống sâu hơn, làm tăng chi phí khai thác, tác động đến năng suất lao động và sức cạnh tranh của sản phẩm. Những mặt trái của kinh tế thị trường đã có tác động nhất định đến đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Sau 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW, Đảng bộ Tập đoàn đã thu được một số kết quả quan trọng. Đó là:

Đảng bộ Tập đoàn đã tổ chức thực hiện các chỉ đạo của Trung ương và Đảng ủy Khối DNTW theo các chuyên đề hằng năm. Từ Đảng bộ Tập đoàn đến các cơ sở trực thuộc đã tổ chức học tập, xây dựng tiêu chí, chuẩn mực theo tư tưởng đạo đức của Bác; thường xuyên tổ chức phát động các phong trào thi đua LĐSX, xây dựng các điển hình tiên tiến, coi trọng nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của mỗi đảng viên, nhất là đối với người đứng đầu, gắn việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW với việc thực hiện NQTW4 (khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và việc thực hiện nhiệm vụ SXKD, tiết kiệm chi phí, thực hiện quy trình kỹ thuật, nâng cao ý thức đảm bảo an toàn lao động, xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở mối đơn vị và toàn Tập đoàn.

Đảng bộ đã tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; chỉ đạo Tạp chí TKV mở chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW trong Đảng bộ Tập đoàn. Phương châm tuyên truyền là gắn “xây“ với “chống“, chủ động phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm; kiên quyết đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Chú trọng tuyên truyền những tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở các cấp, các đơn vị, góp phần tạo sự lan tỏa, thúc đẩy việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW ngày càng đi vào chiều sâu, trở thành việc làm tích cực, tự giác, có ý nghĩa thiết thực của mỗi cá nhân, tập thể trong Tập đoàn.

Từ Đảng bộ Tập đoàn đến các cơ sở trực thuộc đã xây dựng Bảng “Chuẩn mực đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên và người lao động thuộc Đảng bộ Tập đoàn theo tư tưởng, tấm gương, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh” phù hợp với tính chất công việc, đặc điểm ngành nghề của từng đối tượng lao động, từng đơn vị. Nhiều đơn vị đã in Bảng chuẩn mực này thành các bảng tin chữ lớn, đặt ở các phòng họp, phòng giao ban để thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện và để quần chúng kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện.

Thông qua các đợt học tập, sinh hoạt đã cụ thể hóa, gắn việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào công việc, nếp sống hằng ngày để CNVCLĐ dễ hiểu hơn, dễ thực hiện hơn. Nhiều tấm gương tốt, việc tốt xuất hiện như những công nhân giành năng suất cao, năng suất kỷ lục trong LĐSX, nhiều tấm gương thương yêu chia sẻ, giúp đỡ đồng đội, dũng cảm quên mình cứu đồng đội khi xảy ra sự cố, tai nạn; nhiều tập thể khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Sự gắn kết, hòa đồng trong tập thể, tạo nên những nét văn hóa thợ mỏ. Có thể kể ra một số tấm gương tiêu biểu như trong năm 2015 tuy gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ngành Than chịu ảnh hưởng nặng nề của đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 7/2015 song các đơn vị trong Tập đoàn đã phấn đấu khắc phục, sớm đưa các mỏ vào sản xuất, đảm bảo cung cấp đủ than cho các ngành kinh tế trong nước. CBCNVC toàn Tập đoàn đã đồng cam cộng khổ, tiết kiệm chi phí để dành hỗ trợ trên 10 tỷ đồng giúp đỡ các gia đình bị ảnh hưởng của thiên tai. Trong khó khăn, vẫn có 7 lò chợ, 11 tổ đào lò và hàng trăm tổ xe máy vượt năng suất theo mục tiêu Tập đoàn đề ra. Nhiều cá nhân được khen thưởng như 2 tập thể và 9 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về thành tích trong cứu hộ vụ sập hầm thủy điện Đạ Dâng – Lâm Đồng, hay như 2 công nhân được Chủ tịch nước tặng Huân chương dũng cảm vì hành động quên mình cứu đồng đội trong vụ cứu hộ bục nước tại Công ty than Hòn Gai… và rất nhiều tấm gương tiêu biểu khác. Khi làm những công việc tốt đó, không ai suy nghĩ đắn đo hơn thiệt. Những người tốt đó, những tập thể tốt đó đã là những tấm gương để khích lệ mọi người làm nhiều việc tốt hơn, làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn – Đó chính là mục tiêu, hiệu quả và sự lan tỏa của công tác tuyên truyền, giáo dục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Tập đoàn.

Những việc làm đó đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, CNVC và người lao động trong rèn luyện phẩm chất chính trị, tu dưỡng đạo đức, lối sống; từ đó ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được nâng lên; tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong tư tưởng và trong hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo thành nguồn lực tinh thần to lớn, tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, phát huy truyền thống “kỷ luật và đồng tâm’’ của đội ngũ công nhân mỏ, vượt qua khó khăn, thách thức, góp phần đẩy mạnh SXKD, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao cho Tập đoàn.

Trong thời gian tới, để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 03-CT/TW, Đảng bộ Tập đoàn tiếp tục bám sát, nắm vững nội dung chỉ đạo của Trung ương và Đảng ủy Khối DNTW, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền làm cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong đảng bộ, cơ quan, đơn vị hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu và tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, chú trọng nội dung làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ những việc công việc và nếp sinh hoạt hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên CNVCLĐ. Đồng thời Đảng bộ sẽ tăng cường lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị của Tập đoàn để xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch một cách cụ thể và đồng bộ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nhắc nhở hoặc động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân kịp thời nhằm đạt hiệu quả của công tác giáo dục, học tập và làm theo tấm gương của Bác trong Tập đoàn các Công ty TKV.

Lê Tuấn Minh – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Tập đoàn TKV

Nguồn : Vinacomin.vn

Tuyên dương các tập thể và cá nhân tiêu biểu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Sáng 11/5, tại Hà Nội, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đã tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Mai Văn Ninh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Bộ phận giúp việc Ban Bí thư thực hiện Chỉ thị 03 dự và phát biểu tại Hội nghị.

Đoàn đại biểu dự Hội nghị vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự Hội nghị có đồng chí Phạm Viết Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy Khối, lãnh đạo các Ban, đơn vị Đảng ủy Khối; đại diện các Ban Đảng Trung ương; các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng, đơn vị trong Khối cùng các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu qua 5 năm thực hiện Chỉ thị 03 được tuyên dương, khen thưởng.

Đồng chí Phạm Viết Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương phát biểu khai mạc Hội nghị.

Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Viết Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối cho biết, qua 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, kế hoạch của Ban Bí thư, với quyết tâm cao, các cấp ủy trong Đảng bộ Khối đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, thường xuyên các nội dung của Chỉ thị, đã thu được những kết quả thiết thực, góp phần tích cực vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Ý thức tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là tinh thần gương mẫu, đi đầu của cán bộ chủ chốt các cấp, được chuyển biến rõ nét. Các cấp ủy Đảng đã quán triệt tinh thần “làm theo” tấm gương của Bác thành các chương trình hành động cụ thể, sát với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ.

Đồng chí Mai Văn Ninh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Bộ phận giúp việc Ban Bí thư thực hiện Chỉ thị 03 phát biểu tại Hội nghị.

Việc “làm theo” Bác tại các doanh nghiệp, đơn vị được cụ thể hóa bằng phong trào thi đua lao động sáng tạo, phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, thông qua phong trào đền ơn, đáp nghĩa, các hoạt động vì cuộc sống cộng đồng. Các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong khối gương mẫu thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm trong lãnh đạo, điều hành, tập trung giải quyết dứt điểm một số vấn đề bức xúc, nổi cộm ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, củng cố lòng tin của cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, lao động đối với Đảng và Nhà nước. Cùng với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về xây dựng Đảng, chất lượng sinh hoạt chi bộ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, cán bộ, đảng viên tiếp tục được nâng cao.

Các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được tuyên dương, khen thưởng.

Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị , xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu, mô hình, cách làm hay trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong lao động, sản xuất kinh doanh và trong công tác xây dựng Đảng. Điển hình như phong trào “Nồi cháo tình thương của tuổi trẻ Vietinbank” giúp hàng ngàn bệnh nhân nghèo vượt qua những ngày gian khổ tại các bệnh viện; phong trào “Đoàn kết – Kỷ luật – Cần kiệm – Sáng tạo” của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã có nhiều công trình sáng tạo tiết kiệm chi phí 15-20% so với định mức, làm lợi trên 10 tỷ đồng mỗi năm; phong trào “8 giờ vàng hiệu quả” của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có tác dụng làm chuyển biến nhận thức và hành động đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên, góp phần tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng…

Trong những năm tới, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, trở thành ý thức tự giác trong toàn Đảng bộ. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, nhất là trong quá trình tái cấu trúc, cổ phần hóa doanh nghiệp.

Việc thực hiện Chỉ thị 03 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm. Toàn Đảng bộ nghiêm túc triển khai thực hiện chuẩn mực đạo đức lối sống của cán bộ lãnh đạo, quản lý và công nhân lao động. Ở mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, Ban thường vụ cấp ủy, ban lãnh đạo và đồng chí Bí thư cấp ủy, người đứng đầu chỉ đạo, lựa chọn một số vấn đề bức xúc thuộc về lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống để bàn biện pháp phấn đấu, khắc phục, tạo chuyển biến, đẩy lùi, tiến tới giải quyết dứt điểm trong thời hạn nhất định…

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Mai Văn Ninh Mai Văn Ninh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Bộ phận giúp việc Ban Bí thư thực hiện Chỉ thị 03 ghi nhận những kết quả nổi bật mà Đảng bộ Khối DNTW đã đạt được. Đồng chí đề nghị Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương cần tiếp tục lựa chọn những nội dung cốt lõi về đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thực hiện, trở thành hành động tự giác của mỗi cá nhân. Đồng thời, cần gắn việc thực hiện Chỉ thị 03 với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng Đảng bộ, với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Các cấp ủy cần chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, tuyên dương những tập thể, cá nhân làm tốt, đồng thời nhắc nhở những tập thể, cá nhân chưa làm tốt để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thời gian tới đồng đều hơn, hiệu quả hơn.

Tại hội nghị, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương tôn vinh, khen thưởng 80 tập thể và 92 cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những tập thể tốt, người tốt, việc tốt tích cực đóng góp công sức và trí tuệ trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương lần thứ II và đặc biệt là lực lượng nòng cốt đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ thấm sâu, lan tỏa rộng trong toàn Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương.

Các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được tuyên dương, khen thưởng.

Thanh Tùng

Nguồn : doanhnghieptrunguong.vn

Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản – TKV: 5 năm thực hiện chỉ thị 03 – CT/TW về học tập và làm theo gương Bác

Là một trong những Đảng bộ lớn thuộc Khối Công nghiệp Hà Nội, 5 năm qua, Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản – TKV đã luôn là điển hình sáng của Đảng bộ Khối trong thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/05/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đạt được những kết quả quan trọng và có ý nghĩa thiết thực cả trong nhận thức và hành động thực tiễn.Quán triệt Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị, cán bộ, đảng viên và người lao động Tổng công ty có thêm những nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, bám sát kế hoạch hàng năm của Trung ương và chỉ đạo của Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội, phấn đấu đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ thường xuyên; gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và công tác xây dựng Đảng.

Hàng năm, Đảng ủy Tổng Công ty đã ban hành Chương trình công tác với các mục tiêu, nội dung cụ thể, chỉ đạo triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và người lao động với trọng tâm đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ thường xuyên, hàng ngày, phù hợp với đặc thù của đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, gắn kết các nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” để tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng chính trị, phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên; đồng thời coi kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng và xếp loại tổ chức đảng và đảng viên; thông qua công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các tập thể, cá nhân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 để phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, tồn tại, xây dựng mối quan hệ công tác hiệu quả, đề cao vai trò của người đứng đầu và trách nhiệm của mỗi cá nhân, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh, phấn đấu vì mục tiêu chung là sự phát triển bền vững của Tổng công ty.Với sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Khối, Đảng ủy, Ban lãnh đạo Tổng công ty luôn quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, động viên khích lệ người lao động tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua lao động sản xuất, hoàn thành toàn diện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, tổ chức đoàn thể tiêu biểu xuất sắc, góp phần to lớn cùng Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản giữ vững vị trí mũi nhọn trong phát triển kinh tế đất nước.

Kết quả nổi bật trong hoạt động sản xuất kinh doanh 5 năm qua từ 2011 đến 2015 của Tổng công ty thể hiện ở các chỉ tiêu như sau: Giá trị tổng sản lượng đạt 2.667 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân là 3,13% năm và tăng 1,44 lần so với giai đoạn 2006-2010; Doanh thu đạt 18.326 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 5% năm và tăng 1,6 lần so với giai đoạn 2006-2010; Nộp ngân sách đạt 2.640 tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 8,23% năm và tăng 2,4 lần so với giai đoạn 2006-2010; tiền lương bình quân 72.963.000 đồng/người năm, tăng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010; tổng mức đầu tư 3.883 tỷ đồng, tăng trưởng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010.

Với đặc thù của lĩnh vực thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản có công nghệ phức tạp, vốn đầu tư lớn, Đảng ủy Tổng công ty đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất, giảm chi phí, giảm thời gian thi công, đưa mỏ và nhà máy mới vào khai thác, vận hành đảm bảo tiến độ kế hoạch…; giữ vững sự ổn định, đoàn kết nội bộ, chung sức, đồng lòng vì mục tiêu phát triển Tổng công ty; công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị đạt được nhiều thành tích mới, gắn kết lợi ích của tập thể với lợi ích của cá nhân thông qua việc hoàn thiện chế độ chính sách đối với người lao động để động viên, khuyến khích nâng cao ý thức trách nhiệm, hăng hái thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng tạo; nhiều đơn vị đã có những cách làm hay, tổ chức được nhiều phong trào thi đua thu hút đông đảo người lao động tham gia,…

Học tập và làm theo lời Bác, năm năm qua, nhiều tập thể và cá nhân trong Tổng công ty đã tích cực thi đua trong lao động sản xuất, đạt được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc được Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành Trung ương và địa phương ghi nhận, khen thưởng. Tổng Công ty được vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2015, Công đoàn Tổng công ty đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì năm 2013. Nhiều tổ máy sản xuất tại các đơn vị đạt năng suất kỷ lục trong Tập đoàn được tuyên dương khen thưởng. Hàng chục tỷ đồng tiền quyên góp ủng hộ của CBCNV trong toàn Tổng công ty đến với những hộ gia đình chính sách, trẻ em nghèo vượt khó, những địa phương gặp thiên tai lũ lụt, hạn hán v.v… Đặc biệt, Đảng bộ Tổng công ty và 02 cá nhân xuất sắc tại Đảng bộ Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Đảng bộ Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai đã được vinh danh trong Lễ biểu dương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015 của Đảng bộ Khối Công nghiệp Hà Nội. Đây thật sự là những bông hoa đẹp tạo sức lan toả trong cán bộ, đảng viên và người lao động, góp phần xây dựng Tổng công ty ngày càng phát triển.

Có thể nói rằng, kết quả thực hiện Chỉ thị 03 và những thành công của Tổng công ty trong 5 năm qua đã khẳng định quan điểm, nhận thức, tầm nhìn và hướng đi đúng đắn của Tổng công ty, cũng như đóng góp quan trọng vào thành tích chung của Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam. Đảng bộ và toàn thể đảng viên, người lao động Tổng công ty Khoáng sản – TKV thể hiện quyết tâm phát huy những thành quả của thế hệ đi trước với sức mạnh của truyền thống “Kỷ luật – Đồng tâm”, phát huy tối đa nội lực, tăng cường hợp tác, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng và phát triển Tổng công ty tới tầm cao mới, vị thế mới, xứng đáng với niềm tin và trọng trách mà Đảng, Chính phủ và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giao phó.

 

Nguồn : Đ/c Đào Minh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy Tổng công ty

Đảng bộ Than Quảng Ninh đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Sáng nay 8/7, tại Quảng Ninh, Đảng bộ Than Quảng Ninh đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập (13/7/1996-13/7/2016) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Tới dự có đồng chí Phạm Viết Thanh, Uỷ viên TƯ Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp TƯ và các đại biểu đại diện các cơ quan, ban ngành TƯ; đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh và các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh; lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Về phía Tập đoàn TKV và Đảng ủy TQN có các đồng chí: Lê Minh Chuẩn, Đại biểu Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV; Đặng Thanh Hải, Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc; Vũ Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy TQN; các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, HĐTV, Ban lãnh đạo điều hành, Công đoàn TKV; các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy TQN; Đoàn TQN; Bí thư Đảng ủy, Giám đốc các đơn vị thuộc Đảng ủy TQN; các Anh hùng Lao động; các đồng chí nguyên lãnh đạo Tập đoàn, nguyên lãnh đạo Đảng ủy TQN và 155 đảng viên xuất sắc…

Diễn văn kỷ niệm 20 năm thành lập Đảng bộ TQN (13/7/1996-13/7/2016) do đồng chí Vũ Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy TQN trình bày đã nêu rõ, Đảng bộ TQN được thành lập theo Quyết định số 43-QĐ/TU ngày 13/7/1996 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, là Đảng bộ cấp trên cơ sở, trực thuộc Tỉnh ủy Quảng Ninh, bao gồm các tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị thuộc Tổng Công ty Than Việt Nam, nay là Tập đoàn TKV đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; toàn Đảng bộ khi thành lập có 29 chi, đảng bộ cơ sở, với 10.652 đảng viên, đến nay Đảng bộ TQN đã có 45 cơ sở đảng trực thuộc với trên 19.000 đảng viên.

Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ TQN đã qua bốn kỳ đại hội. Mỗi kỳ Đại hội và mỗi giai đoạn, Đảng bộ đã đề ra chủ trương, giải pháp, nghị quyết và những mục tiêu cụ thể cùng với sự quyết tâm rất lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Quảng Ninh, sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ TQN với Đảng bộ Tập đoàn và Công đoàn TKV, hoạt động của Đảng bộ TQN luôn được duy trì có hiệu quả, đã lãnh đạo các cơ sở SXKD thuộc TKV trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thực hiện hoàn thành nhiệm vụ chính trị, kế hoạch SXKD hàng năm, xây dựng tổ chức đảng TSVM, góp phần quan trọng hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ SXKD của Tập đoàn TKV, được Tỉnh ủy Quảng Ninh luôn công nhận là Đảng bộ TSVM… Với kết quả đạt được, năm 2007, Đảng bộ TQN đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì; năm 2016 vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh chúc mừng, ghi nhận và biểu dương những kết quả, thành tích của Đảng bộ TQN, của cán bộ, đảng viên, công nhân ngành Than đạt được trong 20 năm qua. Đảng ủy TQN đã xây dựng các nghị quyết, kế hoạch, cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy Quảng Ninh, chỉ đạo các cơ sở đảng thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên; thực hiện kế hoạch SXKD, nỗ lực bảo vệ môi trường, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội…, góp phần quan trọng xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh. Trong giai đoạn tới, Đảng ủy TQN tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy Tập đoàn xây dựng đảng bộ các cấp trong sạch vững mạnh, nâng cao vai trò lãnh đạo, năng lực và sức chiến đấu của tổ chức đảng, vai trò trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo các đơn vị khắc phục khó khăn, đẩy mạnh cơ giới hóa, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc và đời sống thợ mỏ ngày càng tốt hơn. Đồng thời, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, ranh giới mỏ, bảo vệ môi trường, công tác quản lý đảng viên… Tỉnh Quảng Ninh tiếp tục cùng ngành Than tháo gỡ khó khăn, luôn đồng hành, tạo điều kiện, hỗ trợ để ngành Than phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế quốc dân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TQN lần thứ IV và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII.

Thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, đồng chí Lê Minh Chuẩn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV chúc mừng những thành tích của Đảng bộ TQN, đồng thời ghi nhận những đóng góp to lớn của cán bộ, đảng viên thuộc Đảng bộ TQN qua các thời kỳ góp phần xây dựng Tập đoàn phát triển lớn mạnh. Với số lượng đảng viên chiếm trên 65% đảng viên trong toàn Tập đoàn, trong 20 năm qua, Đảng bộ TQN đã luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Tập đoàn. Đảng bộ TQN và Đảng bộ Tập đoàn đã luôn phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện mục tiêu chung vì sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Đồng chí Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, để vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, Đảng ủy TQN và Đảng ủy Tập đoàn tiếp tục phối hợp lãnh đạo, thực hiện các giải pháp đẩy mạnh phát triển sản xuất, thực hiện tái cơ cấu giai đoạn 2016-2020, đáp ứng nhu cầu than trong nước kết hợp với nhập khẩu than. Đồng thời, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng và người đứng đầu, xây dựng đảng bộ các cấp trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia mà Đảng và Nhà nước đã giao cho…

Nhân dịp này, Đảng bộ TQN đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch Nước trao tặng. Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMT Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh tặng bức trướng “Phát huy truyền thống kỷ luật, đồng tâm, xây dựng Đảng bộ TQN trong sạch vững mạnh” cho Đảng bộ TQN.

VT – MD

Nguồn : vinacomin.vn

HỘI NGHỊ HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII CỦA ĐẢNG

Ngày 3/8/2016 tại trụ sở Tổng Công ty số 193 Nguyễn Huy Tưởng- Thanh Xuân – Hà Nội. Đảng ủy Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triêt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Về tham dự có các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng ủy; các đ/c Bí thư, Phó Bí thư, các đồng chí trong BCHĐU, UBKT ĐU, các đồng chí trong HĐTV, Cơ quan TGĐ và gần 100 Đảng viên thuộc các Chi, đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Tổng công ty (kể cả Đảng viên dự bị); Cán bộ từ cấp phó trưởng phòng, ban và tương đương trở lên (chưa phải là đảng viên) về dự.

Hội nghị đã được nghe đ/c Phạm Ngọc – Trưởng phòng giáo dục lý luận chính trị Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội trình bầy 5 vấn đề chính của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Tình hình diễn biến trong nước và quốc tế hiện nay. Đây là chương trình hành động thực hiện Kế hoạch số 55/KH-ĐUTCT ngày 21/6/2016 của Đảng ủy Tổng công ty khoáng sản TKV – CTCP. Sau Hội nghị này Đảng ủy Tổng công ty sẽ triển khai tuyên truyền, học tập Nghị quyết tại các chi, đảng bộ tại khu vực Lào Cai.

Hội nghị đã diễn ra thành công tốt đẹp./.

Sau đây là một số hình ảnh về Hội nghị.

Minh Hùng

Đảng bộ VIMICO Tổng kết công tác Xây dựng Đảng năm 2016

Ngày 29/12/2016 tại trụ sở Tổng công ty Khoáng sản TKV số 193 Nguyễn Huy Tưởng- Thanh Xuân – Hà Nội, Tổng công ty tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác Xây dựng Đảng năm 2016 triển khai nhiệm vụ công tác năm 2017.

Đến dự Hội nghị, Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội có đ/c Trịnh Huy Thành, Bí thư Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội và các đ/c lãnh đạo Ban Tổ chức Đảng ủy Khối CN Hà Nội; đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tổng công ty; Các đ/c là thành viên HĐQT, phó TGĐ, Trưởng ban Kiểm soát, Phó bí thư đảng ủy; Chủ tịch, phó Chủ tịch Công đoàn, Bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc; Trưởng các phòng, Ban TCTy và Bí thư Đảng ủy của các công ty con trong TCTy cùng các đ/c là ủy viên BCH, ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy TCTy đã về dự.

Đ/c Đào Minh Sơn, phó Bí thư Đảng ủy TCTy đã trình bầy báo cáo tổng kết công tác xây dựng đảng năm 2016. Báo cáo nêu rõ: Thị trường tiêu thụ khoáng sản gặp khó khăn, việc tiêu thụ quặng sắt, axit sunfuric không thuận lợi; tình hình sản xuất ở một số đơn vị tiếp tục gặp khó khăn như: trữ lượng, hàm lượng quặng giảm mạnh. Nhà nước tiếp tục thu tiền sử dụng tài liệu địa chất, tiền cấp quyền khai thác, ký quỹ đầu tư, … và các loại thuế, phí tăng cao đã và đang làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của toàn Tổng công ty. Kết thúc năm 2016, Đảng ủy TCTy đã lãnh đạo toàn Tổng Công ty cơ bản hoàn thành kế hoạch SXKD cụ thể như sau:

– Doanh thu hợp nhất toàn Tổng công ty: 3.910 tỷ đồng, đạt 100,26% KHĐC, trong đó: DT KS: 3.350 tỷ đồng, đạt 97,8% KHĐC.

– Lợi nhuận hợp nhất trước thuế: Ước đạt 20,8 tỷ đồng.

-Thu nhập bình quân NLĐ: đạt 5,805 triệu đồng/người/tháng, bằng 93,99% so với kế hoạch và bằng 98,37% so với cùng kỳ năm 2015.

– Lao động sử dụng bình quân trong kỳ: 5.108 người, đạt 95,3% KH và bằng 97,8 % so với năm 2015.

– Nộp ngân sách: trên 650 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ 2015.

Công tác xây dựng Đảng :

Năm 2016 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo chỉ đạo của Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội. Kết quả đánh giá phân loại năm 2016:

– Về tập thể: Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, đạt 85% trong tổng số các chi đảng bộ trực thuộc, trong đó có 06 chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 03 chi bộ đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 15%.

– Về cá nhân: Số đảng viên tham gia đánh giá phân loại 398 đồng chí, trong đó:

+ 89 đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiếm 21,98% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ; 293 đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chiếm 72,35% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ; 16 đảng viên hoàn thành nhiệm vụ chiếm 3,95% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ.

Năm 2016 Đảng bộ Tổng công ty đạt Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.

Phương hướng nhiệm vụ năm 2017 báo cáo nêu rõ: Đảng ủy Tổng công ty tập trung chỉ đạo các đơn vị bám sát các chỉ tiêu trong Hợp đồng phối hợp SXKD, cùng Tổng công ty hoàn thành các chỉ tiêu năm 2017 như sau:

– Doanh thu hợp nhất toàn Tổng công ty: 4.797 tỷ đồng, bằng 122 % so với năm 2016. Trong đó: Doanh thu SX khoáng sản: 4.740 tỷ đồng, Doanh thu SX, kinh doanh khác: 57 tỷ đồng.

+ Doanh thu Công ty mẹ – Tổng công ty: 2.114 tỷ đồng, trong đó: Doanh thu khoáng sản: 2.064 tỷ đồng; Doanh thu khác: 50 tỷ đồng.

– Lợi nhuận trước thuế hợp nhất toàn Tổng công ty: 60 tỷ đồng (Lợi nhuận Công ty mẹ- Tổng công ty: 40 tỷ đồng).

– Tiền lương bình quân: 6,97 triệu đồng/người/tháng, bằng 114% so với dự kiến thực hiện năm 2016 (Trong đó: Công ty mẹ: 7,986 triệu đồng/người/tháng).

– Lao động sử dụng trong kỳ: 4.965 người, trong đó: Công ty mẹ – Tổng công ty: 1.534 người.

– Tổng giá trị ĐTXD CB: 2.030,33 tỷ đồng, trong đó: Xây lắp: 728 tỷ đồng; Thiết bị: 880 tỷ đồng; KTCB khác: 422 tỷ đồng.

– Khảo sát thăm dò địa chất: 66.707 tỷ đồng.

Phát biểu tại Hội nghị đ/c Trịnh Huy Thành Bí thư Đảng ủy khối CN Hà Nội, đã chúc mừng 2 đ/c Đảng viên trong Đảng bộ được tặng danh hiệu 30 năm tuổi Đảng năm 2016, đây không những là vinh dự của 2 cá nhân mà còn là vinh dự của cả Đảng bộ TCTy, đ/c ghi nhận thành tích xuất sắc của Đảng bộ TCTy trên các mặt lãnh đạo SXKD, xây dựng Đảng, và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể quần chúng năm qua. Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; duy trì việc phổ biến tình hình thời sự trong nước, quốc tế; phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc, của Tổng công ty đảm bảo thực chất; thực hiện tốt quy chế dân chủ; làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, Đảng viên và người lao động. Phối hợp chuyên môn triển khai, xây dựng Kế hoạch liên tịch phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017.

Kết luận Hội nghị đ/c Nguyễn Tiến Mạnh, Bí thư Đảng bộ TCTy ghi nhận những thành tích Đảng bộ Tổng công ty đã đạt được trong năm 2016. Sang năm 2017 vẫn còn muôn vàn khó khăn thách thức, nhưng với truyền thống Kỷ luật – Đồng tâm, cùng với sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội, Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tổng công ty lần thứ III, nhận diện sâu sắc hơn khó khăn thách thức, khắc phục những hạn chế, tồn tại, với sự đoàn kết, thống nhất toàn hệ thống chính trị, sự quyết tâm của Đảng viên và CBCNV lao động, Đảng bộ Tổng công ty chắc chắn sẽ hoàn thành và hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch đề ra./.

Tại Hội nghị đã tổ chức Trao huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 2 đ/c đảng viên trong Đảng bộ là đ/c Nguyễn Trọng Sơn – Tổ trưởng tổ xe Chi bộ Văn phòng Tổng công ty; Đ/c Nguyễn Đức Tuấn – Chi bộ Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất.

Hội nghị đã thành công tốt đẹp.

Sau đây là một số hình ảnh về Hội nghị ./.

Đ/c Trịnh Huy Thành – Bí thư đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội phát biểu tại Hội nghị.

 

Nguồn : Phòng CNTT&TrT

Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và chuyên đề toàn khóa “Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Ngày 23/2/2017 tại trụ sở Tổng Công ty số 193 Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân – Hà Nội, Đảng ủy Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 khóa XII và Chuyên đề toàn khóa “Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” cho toàn thể cán bộ, đảng viên.

Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Ngọc – Giảng viên cao cấp, Trưởng phòng giáo dục lý luận chính trị – Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội với vai trò là báo cáo viên. Về phía Tổng công ty Khoáng sản – TKV có đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc; đ/c Đào Minh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng giám đốc; các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ TCT; HĐQT, các Phó Tổng giám đốc, công đoàn, đoàn thành niên cùng toàn bộ Đảng viên, CBCNV cơ quan TCT; cán bộ, đảng viên các chi, đảng bộ trực thuộc tại các điểm cầu truyền hình: Hà Nội, Lào Cai.

Hội nghị đã được nghe đ/c Phạm Ngọc truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, trong đó chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng – chính trị, đạo đức – lối sống, và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ và đề ra giải pháp khắc phục. Đây là một trong những Nghi quyết quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hội nghị cũng được nghe quán triệt những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, theo đó, việc học tập tư tưởng, đạo đức của Bác đối với mỗi người phải được thực hiện một cách tự giác, thường xuyên.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc yêu cầu các Chi, Đảng bộ cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, chuyên đề toàn khóa về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành Chương trình hành động và tổ chức triển khai thực hiện thông qua nhiều hoạt động thiết thực, từ đó nắm vững những nội dung cơ bản và quán triệt sâu sắc Nghị quyết, tạo sự chuyển biến, thống nhất cao về ý chí và hành động trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong đơn vị; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hiệu quả, thực hiện thắng lợi kế hoạch SXKD năm 2017 gắn liền với xây dựng các chi, Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

Sau đây là một số hình ảnh về Hội nghị./.

Phòng CNTT&TrT

Một số điểm mới trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành 3 Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết số 10-NQ/TW về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”; Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN” và Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.

 

Căn cứ Công văn số 3022-CV/BTGTW và tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, Đảng ủy Tập đoàn tóm lược các nội dung mới trong các Nghị quyết, cụ thể như sau:

1. Nghị quyết số 10-NQ/TW về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”

1.1. Quan điểm về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân: Xác định rõ hơn và nhấn mạnh việc “phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là yêu cầu tất yếu, khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta”. Quan điểm mới này nhằm tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa rõ hơn nhận thức, tư duy nhất quán và liên tục phát triển của Đảng đối với phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân phải được thực hiện một cách đồng bộ, tổng thể cùng với các giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính công và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; do đó, Nghị quyết xác định: “Phát triển kinh tế tư nhân là một phương sách quan trọng để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển và giải phóng sức sản xuất” và “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”.

1.2. Quan điểm chỉ đạo, định hướng cho phát triển kinh tế tư nhân: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP. Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính. Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc Nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Nghị quyết xác định “Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân”.

1.3. Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế tư nhân: Nghị quyết xác định “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ”.

1.4. Mục tiêu cụ thể: Nghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể về chỉ tiêu số lượng doanh nghiệp hoạt động; tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ đóng góp trong GDP; tốc độ tăng năng suất lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế tư nhân.

1.5. Những nhiệm vụ và giải pháp lớn: Nghị quyết đề ra 05 nhiệm vụ và giải pháp lớn, trong đó có hơn 30 giải pháp cụ thể để xử lý đồng bộ các điểm nghẽn trong phát triển kinh tế tư nhân.

2. Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”

2.1. Về quan điểm chỉ đạo: Nghị quyết đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể hiện một tầm nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn và nội hàm, quy luật, bước đi, lộ trình của quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN; quan điểm chỉ đạo cũng mạnh mẽ hơn, nhấn mạnh hơn yêu cầu hoàn thiện thể chế đối với đổi mới và phát triển kinh tế đất nước; xác định rõ hơn định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay và xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

2.2. Về mục tiêu tổng quát là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020 và mục tiêu đến năm 2030 là: “Hoàn thiện đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta”.

2.3. Về nhiệm vụ, giải pháp: Thống nhất nhận thức: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nghị quyết đề ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn với 44 giải pháp cụ thể; 5 nhiệm vụ cần tập trung chỉ đạo thực hiện.

3. Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”

3.1. Về khái niệm doanh nghiệp nhà nước (DNNN): Nghị quyết đã xác định nội hàm rõ DNNN để thống nhất cách hiểu “DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối, tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn”.

3.2. Về vị trí và vai trò của DNNN: Nghị quyết nêu bật hơn vai trò của DNNN theo tinh thần cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XII: DNNN giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; DNNN thực hiện vai trò dẫn dắt phát triển các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, bảo đảm doanh nghiệp Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

3.3. Về phạm vi ngành, lĩnh vực hoạt động: Nghị quyết đề ra chủ trương tiếp tục thu hẹp phạm vi ngành, lĩnh vực hoạt động của DNNN, cụ thể là: Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

3.4. Về cơ chế hoạt động, tiêu chí đánh giá hiệu quả DNNN, Nghị quyết xác định: DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của DNNN. Tách bạch nhiệm vụ của DNNN sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông thường và nhiệm vụ của DNNN sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ công ích. Quan điểm này cụ thể hóa chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng cạnh tranh theo pháp luật”; “Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích”.

3.5. Về định hướng cơ cấu lại: Nghị quyết xác định quan điểm: Cơ cấu lại, đổi mới DNNN theo cơ chế thị trường là quá trình thường xuyên, liên tục với phương thức thực hiện và lộ trình hợp lý. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng kiên quyết cổ phần hoá, bán vốn tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần, vốn góp chi phối, kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả; đồng thời xử lý triệt để, bao gồm cả việc cho phá sản các doanh nghiệp nhà nước yếu kém.

Về cổ phần hóa doanh nghiệp, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Nghị quyết số 12-NQ/TW có một số điểm mới để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) chưa đề cập tới, như: (i) Giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị một cách thực chất và thu hút nhà đầu tư có năng lực thực sự; (ii) Đánh giá toàn diện thực trạng và phân loại các DNNN để có giải pháp cơ cấu lại, xử lý phù hợp. (iii) Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp thì thực hiện cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản. Đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn hoặc cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì cơ cấu lại bằng cơ chế, chính sách phù hợp. (iiii) Làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, lãng phí lớn.

3.6. Về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần: Nghị quyết đề ra một số giải pháp nhằm xác định giá trị hợp lý giá trị doanh nghiệp, vốn và tài sản nhà nước, đồng thời hạn chế tình trạng thất thoát trong cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3.7. Về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý DNNN, Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030 DNNN đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp. Các giải pháp này đã cụ thể hoá chủ trương của Đảng trong Đại hội XII “bảo đảm công khai, minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của doanh nghiệp”.

3.8. Về quản lý nhà nước và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN, Nghị quyết xác định quan điểm: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của DNNN; không để xảy ra thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp, chức năng quản trị kinh doanh của DNNN. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực quản trị, phẩm chất đạo đức để kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý DNNN. Đồng thời xác định rõ lộ trình thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp chậm nhất đến năm 2018; đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; đưa ra các giải pháp định hướng tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu nhà nước.

3.9. Về đổi mới mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng tại DNNN, Nghị quyết đề ra một số giải pháp quan trọng là:

– Nâng cao hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng tại DNNN trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước, công tác chính trị, tư tưởng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội trong doanh nghiệp, phát huy dân chủ cơ sở.

– Quy định rõ trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu tổ chức đảng trong DNNN khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Lê Tuấn Minh – Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ Tập đoàn

Nguồn : Vinacomin.vn

Đảng bộ Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII

Ngày 21/08/2017 tại trụ sở Tổng Công ty số 193 Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân – Hà Nội, Đảng ủy Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII

Tham dự Hội nghị có đồng Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc; đ/c Đào Minh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng giám đốc; các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ TCT; HĐQT, các Phó Tổng giám đốc, Công đoàn, Đoàn thành niên cùng toàn bộ Đảng viên, CBCNV cơ quan TCT; Công ty Đá quý Việt Nhật và cán bộ, đảng viên các Chi, Đảng bộ trực thuộc tại các điểm cầu truyền hình: Hà Nội, Lào Cai, Thái Nguyên.

Hội nghị đã được nghe đ/c Phạm Ngọc – Giảng viên cao cấp, Trưởng phòng giáo dục lý luận chính trị – Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội làm Báo cáo viên truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII của Đảng bao gồm: Nghị quyết số 10-NQ/TW về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết số 12-NQ/TW về “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước”.

Đây là những Nghi quyết rất quan trọng về đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội cũng như xây dựng, chỉnh đốn. Đảng Mục đích của việc học tập quán triệt nhằm giúp cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Tổng Công ty nắm vững nội dung cơ bản được nêu trong văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), trên cơ sở đó nâng cao nhận thức, phát huy năng lực, tính sáng tạo trong tổ chức thực hiện để đưa Nghị quyết Đảng vào cuộc sống, đồng thời làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức tuyên truyền rộng rãi những nội dung cơ bản của Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên, người lao động tạo sự đồng thuận, tinh thần quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc yêu cầu các Chi, Đảng bộ tiếp tục tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng tới toàn thể cán bộ đảng viên trong toàn Tổng Công ty, nhằm triển khai hướng dẫn, tuyên truyền, cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết TW 5 và đường lối phát triển của Tổng công ty bằng những hành động thiết thực, có hiệu quả. Đồng thời tiếp tục nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, cùng chuyên môn và các tổ chức chính trị, đoàn kết, nhất trí, quyết tâm vượt qua khó khăn, xây dựng Tổng Công ty phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

 

Nguồn : Minh Hùng

Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Tổng công ty và Lễ trao tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng

Ngày 20/10/2017 tại trụ sở Tổng công ty Khoáng sản – TKV số 193 Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân – Hà Nội, Đảng bộ Tổng công ty tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ và Lễ trao tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng cho 04 đảng viên.

Đến dự Hội nghị, Đảng ủy khối Công nghiệp Hà Nội có đ/c Lê Văn Phúc, Phó Bí thư Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội; Đại diện Lãnh đạo các Ban chuyên môn của Đảng ủy Khối; Tổng công ty có đồng chí Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy,Tổng Giám đốc Tổng công ty; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Tổng công ty; các đồng chí là Thành viên HĐQT, Trưởng Ban Kiểm soát; Ban Lãnh đạo điều hành; Chủ tịch Công đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên; Trưởng các phòng, ban Cơ quan Tổng công ty; Bí thư, phó Bí thư các Chi, Đảng bộ trực thuộc tại khu vực Hà Nội; Bí thư, Phó bí thư, đảng viên các chi bộ có đảng viên được trao huy hiệu Đảng.

Hội nghị Ban Chấp hành đã thực hiện quy trình bổ sung UVBCH Đảng bộ Tổng công ty khóa III, nhiệm kỳ 2015-2020 và thực hiện quy trình quy hoạch các chức danh trong Đảng giai đoạn 2020-2025 và các năm tiếp theo theo đúng các bước trong quy định của Đảng.

Tại Lễ trao tặng huy hiệu Đảng, đ/c Lê Văn Phúc, Phó Bí thư Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội đã trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 04 đảng viên trong Đảng bộ là đ/c Đồng chí Nguyễn Trung Nguyên – Chi bộ Tuyển khoáng Luyện kim; đ/c Trần Quốc Hậu – Chi bộ Tổ chức Lao động; đ/c Nguyễn Quốc Khánh – Chi bộ Quản lý vốn, thanh tra và kiểm toán nội bộ; đ/c Hoàng Minh Xuân – Chi bộ Tuyển khoáng thuộc Đảng bộ bộ phận Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai.

Phát biểu tại Hội nghị, đ/c Lê Văn Phúc đã chúc mừng các Đảng viên được trao tặng Huy hiệu Đảng. Đây không chỉ là vinh dự của các đảng viên mà còn là vinh dự của toàn Đảng bộ Tổng công ty. Đồng chí cũng ghi nhận và đánh giá cao thành tích đạt được của Đảng bộ trên các mặt lãnh đạo SXKD, xây dựng Đảng, và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể quần chúng năm qua. Đồng chí nhấn mạnh trong thời gian tới, Đảng bộ tiếp tục quán triệt thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; duy trì việc phổ biến tình hình thời sự trong nước, quốc tế; phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc, của Tổng công ty đảm bảo thực chất; thực hiện tốt quy chế dân chủ; làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, Đảng viên và người lao động. Phối hợp chuyên môn triển khai, xây dựng Kế hoạch liên tịch phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2017.

Sau đây là một số hình ảnh về Hội nghị và Lễ trao Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng ./.

Minh Hùng

Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên- Thi đua hoàn thành kế hoạch

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết không thuận lợi; thuế phí tăng cao; điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu; chi phí vật tư, nguyên liệu đầu vào tăng cao…, nhưng thời gian qua, Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên – VIMICO (Tổng công ty Khoáng sản – TKV) vẫn nỗ lực đầu tư công nghệ. Nhờ đó, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra. Công ty đang triển khai các giải pháp nhằm hoàn thành kế hoạch 90 ngày đêm, đưa mục tiêu 2017 sớm về đích.

Nâng cao hiệu quả sản xuất

Ông Bùi Tiến Hải – Giám đốc Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên – VIMICO – chia sẻ, xác định đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu, thời gian qua, Công ty đã bỏ nguồn vốn tương đối lớn đầu tư cho các dự án. Tính riêng 9 tháng đầu năm, công ty đã dành 12,5 tỷ đồng cho công tác đầu tư duy trì sản xuất. Nhiều dự án triển khai đúng tiến độ, dự kiến mang lại hiệu quả cao cho sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới như: Dự án Khai tuyển mỏ kẽm chì Cúc Đường đã thực hiện khoảng 75% khối lượng thi công; công trình quan trắc tự động tại Nhà máy Kẽm điện phân Thái Nguyên hiện đang phối hợp cùng đơn vị tư vấn lập phương án…

Công tác sửa chữa lớn toàn công ty cũng đạt nhiều kết quả khi được quan tâm và đẩy nhanh tiến độ so với 6 tháng đầu năm. Nhờ đó sau 9 tháng, công tác này đã hoàn thành kế hoạch đề ra. Giá trị các công trình triển khai 9 tháng đầu năm đạt trên 25,2 tỷ đồng; đạt 76,6% kế hoạch năm.

Nhằm có nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất, Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên đã đẩy nhanh công tác xin cấp phép cho các dự án. Trong đó, mỏ Núi Pháo đã được cấp phép khai thác tháng 7/2017, hiện đang chờ UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành đơn giá tính thuế tài nguyên làm cơ sở để Tổng cục Địa chất – Khoáng sản xác định tiền cấp quyền khai thác trình Bộ Tài Nguyên và Môi trường phê duyệt. Đồng thời tiến hành thỏa thuận với địa phương để rà soát, xác định số lượng, lên kế hoạch thuê đất khai thác đang được triển khai. Mỏ Chợ Điền cũng đã thực hiện các thủ tục chuyển đổi giấy phép khai thác theo Luật Khoáng sản và nộp đầy đủ hồ sơ về Tổng cục Địa chất (tháng 5/2017) đề nghị thẩm định cấp chuyển đổi giấy phép. Với mỏ Làng Hích, hồ sơ và ký quỹ phục hồi môi trường đã được công ty nộp lên Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện đang chờ ý kiến thầm định, phê duyệt. thiết kế bản vẽ thi công và dự toán hiện đang được Viện khoa học công nghệ Mỏ chỉnh sửa hoàn thiện theo ý kiến thẩm định lần 1 của công ty.

Riêng với hoạt động khai thác mỏ, 9 tháng đầu năm, tổng sản lượng khai thác toàn công ty đạt 103.606 tấn, bằng 68% kế hoạch năm. Như vậy, 9 tháng qua, giá trị sản lượng công nghiệp toàn công ty đạt 112,8 tỷ đồng, bằng 72,6% kế hoạch năm điều chỉnh và bằng 109,3% so với cùng kỳ năm 2016. Doanh thu sản phẩm 9 tháng đạt 584,7 tỷ đồng, bằng 102,1% kế hoạch năm và bằng 141,6% so với cùng kỳ năm 2016. Nộp ngân sách nhà nước toàn công ty sau 9 tháng đạt 104,489 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế ước đạt 146 tỷ đồng; thu nhập bình quân 9 tháng ước đạt trên 8,0 triệu đồng/người/tháng.

Quyết tâm hoàn thành kế hoạch 90 ngày đêm

Với kết quả tương đối khả quan trong 9 tháng đầu năm, Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên – VIMICO đặt mục tiêu tổng doanh thu cả năm đạt 800,6 tỷ đồng; lợi nhuận 200 tỷ đồng; các chỉ tiêu như nộp ngân sách, lợi nhuận, tiền lương bình quân… phấn đấu đạt và vượt kế hoạch. Kiên định cho mục tiêu đó, công ty đã chỉ đạo các đơn vị bám sát kế hoạch sản xuất quý IV (kế hoạch 90 ngày đêm) tổ chức, điều hành sản xuất theo tháng linh hoạt, bảo đảm hoàn thành kế hoạch đề ra, đồng thời tập trung thực hiện các giải pháp tiết giảm chi phí để không vượt giá thành được giao. Bên cạnh đó duy trì công tác nghiệm thu, quyết toán tháng, quý, kịp thời tìm giải pháp và điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật không đạt kế hoạch. Tiếp tục quyết liệt, sâu sát hơn nữa trong chỉ đạo điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh trong toàn công ty. Phân công nhiệm vụ rõ ràng và nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, nghiêm khắc xử lý lãnh đạo đơn vị, phòng chức năng không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Với các dự án mới, công ty tiếp tục tổ chức điều độ hàng tuần đối với việc thực hiện Khai tuyển mỏ kẽm chì Cúc Đường. Phấn đấu đưa giai đoạn I của dự án đi vào sản xuất tháng 12/2017. Đồng thời tiếp tục bám sát Bộ Tài nguyên và Môi trường, sớm lấy giấy phép khai thác mỏ tuyển thiếc Tây Nam Núi Pháo… Tăng cường công tác giám sát đầu tư, nghiêm túc thực hiện các thủ tục đầu tư theo đúng quy định của pháp luật. Đẩy mạnh công tác đào tạo và tự đào tạo nhằm nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ về công tác đầu tư xây dựng thông qua văn bản hướng dẫn thực thi pháp luật cụ thể.

Ông Bùi Tiến Hải khẳng định, thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh 9 tháng đầu năm, công ty đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, nhiệm vụ quý IV vẫn còn rất nặng nề, do đó, công ty đã và đang nghiêm túc nhìn nhận những tồn tại trong công tác quản lý, điều hành, rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy thành tích đã đạt được, khắc phục tồn tại, thực hiện tốt các giải pháp đã đề ra.

Ông Bùi Tiến Hải – Giám đốc Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên – VIMICO: Với truyền thống đoàn kết, thông nhất của tập thể người lao động, sự quan tâm giúp đỡ của tổng công ty và địa phương, sư quyết liệt trong chỉ đạo của Ban điều hành, TMC tin tưởng sẽ hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, mục tiêu kế hoạch quý IV và cả năm 2017.

Nguồn : Baocongthuong.com.vn

Vinh danh 395 thợ giỏi xuất sắc và thợ giỏi cấp Tập đoàn năm 2017

Sáng ngày 8/11/2017, TKV đã tổ chức Lễ tuyên dương thợ giỏi cấp Tập đoàn lần thứ 10. 395 thí sinh đạt danh hiệu thợ giỏi xuất sắc và danh hiệu thợ giỏi cấp Tập đoàn năm 2017 đã được vinh danh tại buổi lễ.

Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Nguyễn Hoàng Trung cho biết, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho công nhân kỹ thuật để có đội ngũ thợ giỏi, thợ lành nghề có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển bền vững của TKV. Với phương châm “Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh”, trong nhiều năm qua Tập đoàn đã luôn quan tâm phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt liên tục từ năm 1997 đến nay, định kỳ 3 năm/lần, TKV tổ chức Hội thi thợ giỏi từ cấp Công ty đến cấp Tập đoàn, qua đó đã xây dựng được đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, có tác phong công nghiệp, có ý thức tổ chức và kỷ luật nghiêm, có khả năng sử dụng thành thạo thiết bị và công nghệ sản xuất ngày càng hiện đại; đồng thời cũng đã lập nên nhiều kỷ lục mới về năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh; góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao cho Tập đoàn.

“Hội thi thợ giỏi lần thứ 10 (năm 2017) đã thành công tốt đẹp, Ban tổ chức và Hội đồng chấm thi đã lựa chọn được 395 thí sinh đạt danh hiệu thợ giỏi xuất sắc và danh hiệu thợ giỏi cấp Tập đoàn đại diện cho trên 80 ngàn công nhân kỹ thuật trong toàn Tập đoàn để động viên và tôn vinh trong buổi lễ hôm nay. So với Hội thi lần thứ 9 (năm 2014) thì chất lượng thí sinh dự thi của Hội thi lần thứ 10 tốt hơn. Độ khó về đề thi đối với nhóm nghề hầm lò tăng lên. Số lượng câu hỏi trong bộ đề thi nhóm nghề hầm lò tăng lên nhưng số lượng thí sinh đạt thợ giỏi xuất sắc và thợ giỏi vẫn tăng so với Hội thi trước. Nếu như năm 2014, số thí sinh đạt điểm 10 bài thi lý thuyết là 28 người (hầm lò 20 người, lộ thiên 7 người, cơ khí 1 người) thì năm 2017 có 119 người (hầm lò 99 người, lộ thiên 16 người, cơ khí 4 người). Một số đơn vị có sự bứt phá ngoạn mục như: Công ty Xây dựng mỏ Hầm lò II, năm 2014 không có thí sinh nào đạt có danh hiệu “Thợ giỏi” thì năm nay có 12/15 thí sinh đạt danh hiệu “Thợ giỏi xuất sắc” và “Thợ giỏi”. Ngoài phần thưởng của Tập đoàn, căn cứ vào tình hình thực tế, Tập đoàn TKV đề nghị các đơn vị có chế độ đãi ngộ xứng đáng với công nhân đạt danh hiệu “Thợ giỏi xuất sắc”, “Thợ giỏi” cấp Tập đoàn lần thứ 10. Đặc biệt, sau lễ tuyên dương này, Tập đoàn TKV sẽ tổ chức cho các thí sinh đạt danh hiệu thợ giỏi xuất sắc được thưởng một chuyến tham quan, du lịch nước ngoài, dự kiến thực hiện trong năm 2017” – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Nguyễn Hoàng Trung khẳng định.

Phát biểu tại buổi lễ, Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, lễ tuyên dương thợ giỏi xuất sắc và thợ giỏi cấp Tập đoàn năm 2017 vào đúng dịp kỷ niệm 81 năm ngày Truyền thống công nhân vùng Mỏ – Truyền thống ngành Than (12/11), là dịp để chúng ta động viên và tôn vinh những người thợ mỏ, đồng thời tiếp tục phát huy truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của thợ mỏ để xây dựng và phát triển bền vững Tập đoàn.

Phát huy những thành tích đã đạt được, 395 đồng chí đạt danh hiệu thợ giỏi và thợ giỏi xuất sắc cấp Tập đoàn lần thứ 10 (năm 2017) được tôn vinh hôm nay cần tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, thực sự là những tấm gương sáng, lực lượng nòng cốt để nhân lên những điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua lao động sản xuất đảm bảo an toàn, năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tập đoàn và các doanh nghiệp sẽ đầu tư và tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ công nhân kỹ thuật, tay nghề thợ bậc cao được rèn luyện, lao động và trả lương xứng đáng với thành quả người lao động đóng góp. Trong thời gian tới, Tập đoàn và các đơn vị cần tiếp tục tổ chức hội thi thợ giỏi các ngành nghề nhằm động viên và tôn vinh những người lao động giỏi, có tay nghề thợ bậc cao.

Cũng tại buổi lễ, lãnh đạo Tập đoàn đã tặng cờ thi đua cho các đơn vị đạt giải Nhất Hội thi: Nhất khối hầm lò (Công ty CP than Vàng Danh), Nhất khối lộ thiên (Công ty CP than Đèo Nai) và Nhất khối Cơ khí (Công ty CP Chế tạo máy), đồng thời tặng Bằng khen cho các đơn vị đạt giải Nhì và Ba của Hội thi.

Một số hình ảnh:

Thùy Linh – Hùng Mạnh

Nguồn : Vinacomin.vn

Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP: Tuổi 22 căng tràn nhiệt huyết

Ngày 27/10/2017 đánh dấu mốc quan trọng khi Tổng công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) bước sang tuổi 22. Hành trình biết bao gian khó nhưng đầy tự hào ấy đã ghi dấu những nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ công nhân viên đã và đang gắn bó với đơn vị. Để rồi hôm nay là diện mạo một VIMICO vững mạnh về mọi mặt, khẳng định được thương hiệu và uy tín của đơn vị hàng đầu trong ngành công nghiệp khoáng sản của cả nước. Nhân lên sức mạnh truyền thống ấy, với một đội ngũ trẻ được tôi luyện, trưởng thành và căng tràn nhiệt huyết – họ luôn sẵn sàng bước tiếp trên chặng đường mới.

Những bước tiến dài

“Chặng đường ngắn, bước tiến dài” là đánh giá của Tổng Giám đốc Tập đoàn TKV Đặng Thanh Hải, người đã có 5 năm gắn bó với VIMICO trên vai trò Tổng Giám đốc. Thực tế trong suốt hơn 2 thập kỷ không ngừng lớn mạnh của Tổng công ty Khoáng sản chính là minh chứng thuyết phục nhất cho nhận định này.

Tổng công ty Khoáng sản – TKV tiền thân là Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 1112/QĐ – TCCB ĐT ngày 27/10/1995 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (nay là Bộ Công thương). Từ khi thành lập cho đến nay, VIMICO đã phát triển mạnh mẽ với những bước tiến vững chãi, trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực khai thác chế biến khoáng sản tại Việt Nam và là đơn vị góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của Tập đoàn TKV.

Nếu như khi mới thành lập, tổng nguồn vốn kinh doanh chỉ là 120 tỷ đồng thì từ tháng 10/2015, chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, vốn điều lệ của Tổng công ty là 2000 tỷ đồng; tổng tài sản hiện nay là 6748 tỷ đồng, gấp 55 lần so với khi thành lập. Hoạt động SXKD của Tổng công ty luôn có lãi, bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo đời sống việc làm ổn định cho người lao động kể cả trong những thời điểm khó khăn chung của nền kinh tế như hiện nay, nhiều doanh nghiệp nước ta phải giải thể và ngừng hoạt động. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2006 – 2017, tổng doanh thu của VIMICO đạt 38.600 tỷ đồng, tăng gấp 8 lần so với giai đoạn 1996 – 2005, trong đó riêng doanh thu khoáng sản tăng 12,5 lần. Tổng giá trị sản xuất đạt 6.546 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với giai đoạn 1996 – 2005. Lợi nhuận xấp xỉ 2.400 tỷ đồng (giai đoạn 1996 – 2005 lợi nhuận toàn Tổng công ty là 12,43 tỷ đồng). Số tiền nộp ngân sách địa phương của VIMICO tăng mạnh qua các năm. Từ năm 2006 – 2017 đã nộp 5.400 tỷ đồng, tăng 26 lần so với giai đoạn 1996 – 2005.

Một trong những dấu ấn quan trọng thể hiện bước tiến dài của VIMICO chính là những đột phá về mặt công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật thành công vào chế biến sâu khoáng sản. Ngày đêm miệt mài trăn trở với sức sáng tạo không ngừng, cán bộ công nhân viên các đơn vị của VIMICO đã cho ra đời nhiều những sáng kiến góp phần cải tiến, tối ưu hóa công nghệ, có nhiều bứt phá với các chỉ tiêu đạt được về mặt thực thu, năng suất và hiệu quả kinh tế đều vượt chỉ tiêu thiết kế. Nhiều đơn vị tiêu biểu như Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai, Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên… liên tục “phá kỷ lục của chính mình”, nhiều năm liền hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra trong năm.

Bên cạnh đó, có lẽ “điểm tựa” vững chãi nhất cũng là niềm tự hào của VIMICO xuyên suốt chặng đường vừa qua chính là sự trưởng thành rõ nét của đội ngũ. Việc xây dựng đội ngũ, đào tạo, chăm chút và phát triển nguồn nhân lực một cách bài bản, chuyên nghiệp chính là truyền thống được tiếp nối qua nhiều thế hệ của Tổng công ty. VIMICO giờ đây đang sở hữu một nguồn nhân lực còn rất trẻ, nhiệt huyết và trách nhiệm. Chiến lược tầm xa về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo cán bộ quản lý là những trăn trở, tâm huyết của lãnh đạo VIMICO như chia sẻ của Tổng Giám đốc Tổng công ty Nguyễn Tiến Mạnh trong lễ khai giảng lớp đào tạo cán bộ quản lý tháng 10/2017 “mục tiêu là định hình chân dung cán bộ quản lý cho các đơn vị thành viên VIMICO không chỉ nắm rõ những đặc điểm chính của văn hóa, con người và bức tranh toàn cảnh TKV, VIMICO mà còn có khả năng “tư duy được, nói được, viết được, làm được, tổng kết được”.

Đồng thời, trong quá trình xây dựng và phát triển, Tổng công ty luôn cùng các đơn vị trực thuộc, các công ty con thực hiện tốt công tác an sinh xã hội tại các địa phương nơi đơn vị đứng chân với phương châm cùng địa phương phát triển hài hòa, bền vững. Mặt khác, nhận thức được tầm quan trọng hàng đầu của công tác an toàn, môi trường nên công tác này ngày càng được quan tâm hơn, triển khai bài bản và “đều tay” hơn trên tất cả các hoạt động liên quan đến vấn đề luôn là sống còn này.

Những năm qua, VIMICO còn là đơn vị tiêu biểu được lãnh đạo Tập đoàn TKV đánh giá cao trong việc tập trung quản lý công tác đầu tư, nhanh chóng đưa các dự án trọng điểm vào hoạt động có hiệu quả, đúng tiến độ đề ra. Hiện VIMICO đang “chạy đua với thời gian” gấp rút triển khai các dự án: Dự án khai thác, mở rộng và nâng công suất khu mỏ – tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai và xây dựng thêm một nhà máy tuyển khoáng có công suất 44.200 tấn tinh quặng hàm lượng 23% Cu/năm có tổng mức đầu tư 2.564,738 tỷ đồng, dự kiến cuối quý II/2018 đi vào hoạt động. Dự án mở rộng, nâng công suất Nhà máy Luyện đồng Lào Cai với tổng mức đầu tư 3.927,534 tỷ đồng, phấn đấu quý I/2019 sẽ đi vào hoạt động… Thêm đó, Tổng công ty đã đẩy mạnh công tác phát triển tài nguyên, từ đó tạo cơ sở cho các dự án khai thác, chế biến khoáng sản của VIMICO hoạt động bền vững. Sự chủ động và linh hoạt của VIMICO còn thể hiện ở việc Tổng công ty đã có nhiều biện pháp linh hoạt, theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới để lựa chọn thời điểm, phương án tiêu thụ đảm bảo giá bán cạnh tranh và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp.

Phương châm xuyên suốt với “6 chữ vàng”

“Đổi mới – Quyết liệt – Sâu sát” hơn nữa được coi là “6 chữ vàng” cũng là phương châm điều hành xuyên suốt mà VIMICO tập trung trọng tâm trong những tháng cuối năm 2017 cũng như thời gian tới. Chia sẻ cụ thể hơn về những nhóm giải pháp này, Tổng Giám đốc Tổng công ty Nguyễn Tiến Mạnh khẳng định. Đổi mới: quan trọng hàng đầu là đổi mới hơn nữa trong tư duy, cách nghĩ và cách điều hành của người quản lý. Tiếp tục đổi mới trong việc áp dụng khoa học công nghệ, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất, bám sát chương trình tin học hóa, tự động hóa theo chỉ đạo của Tập đoàn. Đổi mới trong công tác quản lý phát triển tài nguyên cho sự phát triển bền vững. Đổi mới trong công tác lao động tiền lương với những thay đổi căn bản để tiền lương, thu nhập và các chế độ đãi ngộ với người lao động ngày càng tốt hơn. Đổi mới với việc phân cấp mạnh mẽ hơn nữa để các đơn vị chủ động trong triển khai các công việc.

Quyết liệt: yếu tố quan trọng số một là quyết liệt hơn nữa trong chỉ đạo điều hành từ Tổng công ty đến các đơn vị thành viên. Quyết liệt giải quyết kịp thời những vướng mắc. Quyết liệt trong quản trị chi phí nhất là định mức và kiểm soát các chi phí đầu vào, sản phẩm đầu ra. Quyết liệt trong công tác an toàn môi trường.

Sâu sát: mà trọng tâm là sâu sát để thông tin kịp thời đến Tập đoàn, các Bộ ngành, địa phương – nơi đơn vị đứng chân tình hình thực tế cũng như những khó khăn của Tổng công ty trong từng thời điểm. Sâu sát hơn nữa trong việc điều hành hàng ngày của Tổng công ty cũng như các đơn vị, nhất là sâu sát trong quá trình thực hiện kế hoạch để kịp thời tháo gỡ, điều chỉnh cho phù hợp.

Quả thực, mỗi khi bước sang một tuổi mới cũng là dịp để cán bộ công nhân viên VIMICO nhìn lại chặng đường đã qua với không ít những thăng trầm. 22 năm qua, từ khắp mọi miền đất nước, họ đã về với mái nhà chung VIMICO, cùng nắm tay nhau thật chặt với mong muốn “gắn kết dài lâu, cùng nhau phát triển”. Cùng truyền cho nhau “ngọn lửa nhiệt huyết” để “tan chảy” khó khăn.

Nguồn : Thùy Linh

Hội thảo cơ hội đầu tư vào Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP và Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV – CTCP

Chiều ngày 25/9, tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, Tập đoàn đã tổ chức Hội thảo cơ hội đầu tư vào Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) và Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV – CTCP (VVMI).

Tham dự Hội thảo có: ông Nguyễn Hồng Long – Phó Trưởng ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển Doanh nghiệp, ông Nguyễn Thanh Tùng – Giám đốc phòng Quản lý thành viên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, ông Lê Mạnh Hùng – Giám đốc Công ty Chứng khoán Vietcombank, ông Trần Anh Tuấn – Trưởng phòng Tư vấn Tài chính doanh nghiệp Công ty Chứng khoán Vietcombank, ông Đặng Thanh Hải – Tổng Giám đốc TKV, các Thành viên HĐTV, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, đại diện Ban lãnh đạo của Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP và Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV – CTCP cùng sự có mặt của các nhà đầu tư quan tâm đến Hội thảo.

Phát biểu tại Hội thảo, Tổng Giám đốc Tập đoàn Đặng Thanh Hải cho biết, TKV sẽ tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu Tập đoàn giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn 2025 theo hướng tiếp tục giảm tỷ lệ sở hữu tại các đơn vị thuộc khối điện, khoáng sản và công nghiệp phụ trợ. Theo đó, để phù hợp với mục tiêu chung và thực hiện theo đúng lộ trình đã được phê duyệt, Tập đoàn sẽ thoái vốn để giảm tỷ lệ sở hữu tại VIMICO và VVMI. Cụ thể, tại VIMICO, tỷ lệ thoái vốn của đơn vị này là 33,06%, tương ứng 66.117.900 cổ phần; tỷ lệ sở hữu sau khi thoái vốn là 65%. Còn tại VVMI, tỷ lệ thoái vốn là 33,19% tương ứng 34.849.500 cổ phần; tỷ lệ sở hữu sau khi thoái vốn là 65%.

Tổng Giám đốc Đặng Thanh Hải cũng nhấn mạnh, việc tái cơ cấu TKV nói chung và tái cơ cấu hai đơn vị này nói riêng phù hợp với định hướng chiến lược của Tập đoàn đó là phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng được các nguồn lực xã hội. Với mục tiêu đó, TKV mong muốn có sự tham gia từ các nhà đầu tư tiềm năng, có tiềm lực tài chính và công nghệ với những cam kết phát triển toàn diện, song hành cùng doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài.

Tại Hội thảo, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Khoáng sản TKV – CTCP (VIMICO) Nguyễn Tiến Mạnh đã giới thiệu tổng quan và những thế mạnh của Tổng Công ty. Theo đó, VIMICO (mã chứng khoán: KSV) là một trong những đơn vị trụ cột của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, hoạt động chính trong lĩnh vực khai thác và chế biến kim loại màu. VIMICO cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần từ 06/10/2015, đồng thời chính thức đăng ký giao dịch cổ phiếu trên sàn UPCOM từ 28/07/2016. VIMICO hiện đang khai thác nhiều mỏ khoáng sản với danh mục sản phẩm đa dạng, bao gồm các loại tinh quặng vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì, kẽm… Trong số này, đồng là sản phẩm vượt trội hơn cả. VIMICO là một trong số rất ít công ty được quyền khai thác đồng và cũng là đơn vị đứng đầu cả nước về sản lượng khai thác đồng, với thế mạnh là sở hữu quyền khai thác tại mỏ đồng lớn nhất Việt Nam – mỏ Sin Quyền.

Giới thiệu tới các nhà đầu tư về Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV – CTCP (mã chứng khoán: MVB), Tổng Giám đốc Tổng Công ty Trần Hải Bình cho biết, Tổng Công ty có tiền thân là Công ty Than III, được thành lập vào ngày 01/07/1980. VVMI chính thức hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần với mức vốn điều lệ 1.050 tỷ đồng vào năm 2015. Đến nay, VVMI chuyên hoạt động trong lĩnh vực khai thác chế biến than, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, sản xuất cơ khí và kinh doanh tổng hợp. VVMI hoạt động chính trong lĩnh vực khai thác và kinh doanh than với 3 mỏ lớn bao gồm mỏ than Na Dương, mỏ than Khánh Hòa, mỏ than Núi Hồng thuộc địa bàn Thái Nguyên và Lạng Sơn – chiếm 2/3 tổng trữ lượng của thềm than nội địa Việt Nam. VVMI có thị trường thuận lợi khi các đơn vị tiêu thụ sản phẩm than của Tổng Công ty nằm trong Tập đoàn và Tổng Công ty. Hàng năm, sản phẩm than của Tổng Công ty được tiêu thụ tại các Nhà máy Nhiệt điện Na Dương, Nhiệt điện Cao Ngạn, Nhiệt điện An Khánh 70-80% và cung ứng cho Nhà máy xi măng La Hiên, Quán Triều và Tân Quang từ 10-15% sản lượng sản xuất ra…

Tại Hội thảo, nhiều nhà đầu tư đã đặt những câu hỏi để tìm hiểu kỹ hơn về Tập đoàn và hai Tổng Công ty. Các câu hỏi đều được đại diện lãnh đạo Tập đoàn và hai Tổng Công ty giải đáp thỏa đáng.

Thanh Thảo

Nguồn : Vinacomin.vn

TKV sắp thoái vốn tại công ty nắm quyền khai thác mỏ đồng lớn nhất Việt Nam

Tổng công ty Khoáng sản TKV – Công ty Cổ phần (Vimico) là một trong những đơn vị trụ cột của Tập đoàn Than Khoán sản Việt Nam…

Năm 2003, Vimico chính thức khởi công xây dựng dự án tổ hợp đồng Sin Quyền, tổng vốn đầu tư gần 1.300 tỉ đồng, là dự án kim loại màu lớn nhất nước ta thời kỳ đó.

Tổng công ty Khoáng sản TKV – Công ty Cổ phần (Vimico) là một trong những đơn vị trụ cột của Tập đoàn Than Khoán sản Việt Nam, hoạt động chính trong lĩnh vực khai thác và chế biến kim loại màu. Cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo hình thức công ty cổ phần từ 6/10/2015, đồng thời niêm yết cổ phiếu trên sàn UPCoM của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội từ 28/7/2016 với mã chứng khoán KSV, Vimico vẫn là cái tên ít được biết đến trên thị trường chứng khoán cũng như trong mắt công chúng đầu tư.

Sở hữu quyền khai thác mỏ đồng lớn nhất Việt Nam

Vimico hiện đang khai thác nhiều mỏ khoáng sản với danh mục sản phẩm đa dạng, bao gồm các loại tinh quặng vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì, kẽm,… Trong số này, đồng là sản phẩm vượt trội hơn cả.

Vimico hiện dẫn đầu cả nước về khai thác và chế biến đồng, với thế mạnh là sở hữu quyền khai thác tại mỏ đồng lớn nhất Việt Nam – mỏ Sin Quyền. Mỏ đồng Sin Quyền nằm sát biên giới Việt – Trung, thuộc huyện Bát Xát của tỉnh Lào Cai. Trữ lượng đồng tại mỏ là hơn 17,3 triệu tấn quặng, tương đương gần 200 nghìn tấn đồng kim loại.

Năm 2003, Vimico chính thức khởi công xây dựng dự án tổ hợp đồng Sin Quyền, tổng vốn đầu tư gần 1.300 tỉ đồng, là dự án kim loại màu lớn nhất nước ta thời kỳ đó. Tổ hợp bao gồm 2 khu là mỏ tuyển (tại địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) và nhà máy luyện đồng (đặt tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai).

Sau 3 năm triển khai đầu tư, Tổ hợp đồng Sin Quyền chính thức đi vào hoạt dộng năm 2006. Tổ hợp được đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, đồng bộ, có thể tuyển được quặng có hàm lượng đồng từ 0,8% trở lên, với tỷ lệ thu hồi đạt 92-97%. Công suất tuyển và luyện đồng lần lượt đạt 1,1 triệu tấn quặng và 10.000 tấn đồng kim loại mỗi năm.

Với việc đầu tư đồng bộ tổ hợp tuyển và luyện, Vimico trở thành doanh nghiệp tiên phong và đến nay vẫn đứng đầu cả nước trong việc sở hữu dây chuyền khép kín sản xuất từ khai thác, tuyển quặng tới luyện đồng.

Chuẩn bị tổ chức roadshow…

Giai đoạn 2013 – 2016, giá kim loại đồng trên thế giới liên tục giảm sút đã tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh của Vimico. Tuy nhiên, từ cuối năm 2016 đến nay, giá đồng liên tục bứt tốc do nhu cầu tăng mạnh từ Trung Quốc – đất nước tiêu thụ đồng lớn nhất thế giới, trong khi nguồn cung đã giảm mạnh sau khi nhiều mỏ đồng phải đóng cửa do không vượt qua được giai đoạn giá lao dốc hoặc do chính sách hạn chế xuất khẩu quặng kim loại của một số quốc gia đứng đầu về khai thác đồng.

Đồng điệu với quá trình phục hồi của giá đồng, kết hợp cùng nhiều yếu tố thuận lợi khác, Vimico đã ghi nhận kết quả kinh doanh khởi sắc trong nửa đầu năm 2017 với doanh thu hợp nhất đạt 2.576 tỷ đồng, tăng trưởng 45% so với cùng kỳ năm 2016 và lợi nhuận sau thuế hợp nhất 100 tỷ đồng so với mức lỗ 45 tỷ đồng cùng kỳ năm 2016.

Tiếp nối kết quả tăng trưởng này, Tổng Công ty đặt kế hoạch kinh doanh năm 2017 với mức cao kỷ lục, lần lượt 5.000 tỷ đồng và 250 tỷ đồng cho doanh thu và lợi nhuận trước thuế hợp nhất.

Hiện tại, TKV là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ sở hữu tại Vimico là 98,06%. Tập đoàn đang có kế hoạch thoái 33,06% cổ phần tại Vimico, tương ứng 66.117.900 cổ phần.

Để giới thiệu Vimico tới đông đảo nhà đầu tư, tới đây TKV sẽ tổ chức một buổi roadshow vào hồi 14:00 ngày 25/9, địa điểm tại sảnh tầng 1 Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), số 2 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

* Thông tin về roadshow Vimico:

Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS)
Điện thoại: 098 3464741
Địa chỉ: Tầng 17, Cao ốc Vietcombank, 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Thu Ngân

Nguồn : Baomoi.com

Công ty cổ phần Gang thép: Sản xuất được 127.353 tấn phôi thép

Từ đầu năm đến nay, Công ty cổ phần Gang thép sản xuất 127.353 tấn phôi thép, đạt 68% kế hoạch năm.

Sản xuất phôi thép tại Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng.

Công ty khai thác hơn 292.000 tấn quặng sắt nguyên khai; sản xuất 179.414 tấn quặng hợp cách; hơn 40.000 tấn tinh quặng sắt; 27,5.000 tấn quặng cục và 26,5.000 tấn quặng cám cung cấp cho lò cao luyện thép. Thực hiện tốt công tác lấy mẫu, gia công và phân tích các loại mẫu tại các công đoạn sản xuất; kiểm soát tốt chất lượng các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất, như: Than cốc, than cám, vôi nung, đá vôi…; kiểm soát chất lượng, số lượng từng thanh phôi theo từng mẻ, viết phiếu chất lượng cho từng xe hàng xuất bán. Tiêu thụ 143.712 tấn phôi thép; giải quyết việc làm cho 880 lao động với mức lương bình quân 6,45 triệu đồng, trích nộp ngân sách 35,3 tỷ đồng.

4 tháng cuối năm 2017, Công ty tổ chức bóc 171.000 m3 đất đá tại Mỏ Nà Rụa; khai thác 58.000 tấn quặng nguyên khai; sản xuất 62.600 tấn phôi thép, tiêu thụ 58.200 tấn phôi thép; phấn đấu doanh thu đạt 601 tỷ 837 triệu đồng; lợi nhuận 29 tỷ 140 triệu đồng.

Ngọc Minh

Nguồn : Baocaobang.vn

Giải bóng chuyền phong trào TKV năm 2017 thành công tốt đẹp

Giải bóng chuyền phong trào TKV năm 2017 thành công tốt đẹp

Sau 3 ngày thi đấu sôi nổi (từ 6-8/9/2017) tại Nhà thi đấu thể thao Công ty CP than Núi Béo và Công ty CP than Hà Tu, với tinh thần thể thao “Đoàn kết – Trung thực – Cao thượng” và “Khỏe để xây dựng Tập đoàn TKV phát triển bền vững”, Giải bóng chuyền phong trào TKV năm 2017 đã thành công tốt đẹp. Chiều ngày 8/9, Tập đoàn tổ chức tổng kết và trao giải cho các tập thể và cá nhân.

 

Tới dự có các đồng chí: Nguyễn Xuân Hán, Phó Chủ tịch Công đoàn TKV; Nguyễn Văn Quyết, Bí thư Đoàn TQN; Nguyễn Thị Lý, Phó Chánh Văn phòng TKV; lãnh đạo Công ty CP than Núi Béo và các đơn vị…

Tham dự Giải bóng chuyền phong trào TKV năm 2017 có 13 đoàn đến từ các Tổng Công ty, Công ty, đơn vị trực thuộc Tập đoàn TKV gồm 15 đội bóng chuyền nam, nữ (03 đội nam mạnh; 10 đội nam phong trào, và 02 đội nữ phong trào) với hơn 200 nam, nữ VĐV. Trong đó, Công ty than Nam Mẫu và Công ty CP than Hà Tu tham gia cả 2 đội nam và nữ.

Kết quả:

Giải bóng chuyền nam đội mạnh: Công ty than Vàng Danh đoạt giải Nhất; Tổng Công ty Khoáng sản đoạt giải Nhì và Than Núi Béo giải Ba.

Giải bóng chuyền nam phong trào: Công ty than Nam Mẫu đoạt giải Nhất; Trung tâm Cấp cứu mỏ đoạt giải Nhì; Than Hà Tu và Than Thống Nhất đồng giải Ba.

Giải bóng chuyền nữ phong trào: Giải Nhất thuộc về Than Nam Mẫu, Than Hà Tu giải Nhì.

BTC cũng đã trao giải thưởng cho các VĐV xuất sắc và các VĐV cao tuổi xuất sắc.

Đây là giải thể thao truyền thống của Tập đoàn nhằm duy trì, đẩy mạnh phong trào TDTT nói chung và môn bóng chuyền nói riêng, qua đó tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích, thúc đẩy phong trào tập luyện thể thao, nâng cao sức khỏe và đời sống văn hóa tinh thần trong CNVCLĐ, góp phần thực hiện hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ SXKD.

Một số hình ảnh:

Việt Trung

Nguồn : Vinacomin.vn

Hội thi ATVSV giỏi TKV lần thứ X – năm 2017: Công nhận và khen thưởng 77 ATVSV xuất sắc, 26 ATVSV giỏi

Hội thi An toàn vệ sinh viên (ATVSV) giỏi lần thứ X – năm 2017 tổ chức từ ngày 19-21/7 tại Cung Văn hóa Lao động Việt – Nhật (TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) đã thành công tốt đẹp. Chiều ngày 21/9, Ban tổ chức đã tổng kết, trao giải cho các tập thể và cá nhân.

Tới dự có các đồng chí: Vũ Anh Tuấn, Phó TGĐ Tập đoàn – Bí thư Đảng ủy TQN; Lê Thanh Xuân, Chủ tịch Công đoàn TKV; Phạm Hồng Hạnh, Phó Chủ tịch Công đoàn TKV; Nguyễn Cao Thượng, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Quảng Ninh; các Ban chuyên môn Tập đoàn; các Ban chuyên đề Công đoàn TKV; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Tập đoàn…

Hội thi ATVSV giỏi lần thứ X – năm 2017 cấp Tập đoàn có 35 đơn vị tham gia với tổng số 103 ATVSV được lựa chọn từ Hội thi cấp cơ sở. Nội dung thi gồm: Phần thi năng khiếu: thi các tiểu phẩm, sáng tác có nội dung liên quan về công tác ATVSLĐ, ATGT; Phần thi hiểu biết, bao gồm: hiểu biết về ngành nghề; hiểu biết về chế độ chính sách liên quan đến ATVSLĐ… và Phần thi thực hành sơ cấp cứu và PCCC.

Trước đó, Hội thi ATVSV giỏi cấp cơ sở đã có 45 đơn vị trong Tập đoàn tổ chức thi với tổng số 1.738 ATVSV dự thi.

Tổng kết Hội thi, Phó Chủ tịch Công đoàn TKV Phạm Hồng Hạnh, Phó Trưởng Ban tổ chức Hội thi đánh giá cao các đơn vị đã có sự quan tâm, chỉ đạo, thực hiện để Hội thi thành công tốt đẹp. Qua đó, đã đánh giá toàn diện kiến thức, kỹ năng của ATVSV, có tác động lớn truyền tải đến người lao động về công tác AT-VSLĐ-PCCN, về hoạt động của mạng lưới ATVSV. Các tiểu phẩm có nội dung sâu sắc, có tác dụng tuyên truyền sâu rộng công tác ATVSLĐ đến CNVC-LĐ. Đồng thời nhấn mạnh, kết quả và thành công của Hội thi sẽ là động lực, góp phần tích cực vào việc thực hiện tốt hơn nữa công tác ATVSLĐ tại các đơn vị và toàn Tập đoàn. Bên cạnh đó, Ban tổ chức cũng rút kinh nghiệm một số đơn vị vẫn còn chưa quan tâm đầy đủ, chưa tổ chức thi cấp cơ sở và tham gia thi cấp Tập đoàn, một số tiểu phẩm chất lượng còn hạn chế, chưa có tính tuyên truyền cao…

Hội thi ATVSV giỏi là một hoạt động định kỳ được tổ chức 2 năm/lần. Hội thi đã trở thành đợt sinh hoạt rộng lớn, đánh giá được cơ bản chất lượng hoạt động của mạng lưới ATVSV trong toàn Tập đoàn do tổ chức Công đoàn quản lý. Thông qua Hội thi tạo sân chơi bổ ích cho các ATVSV, nâng cao trình độ, kỹ năng, hoạt động của mạng lưới ATVSV, tuyên truyền đến đông đảo người lao động thực hiện tốt công tác ATVSLĐ, xây dựng văn hóa an toàn lao động nhằm hạn chế đến mức thấp nhất TNLĐ và sự cố thiết bị trong quá trình sản xuất.

Kết quả, Ban tổ chức đã công nhận và trao giấy chứng nhận, khen thưởng cho 26 ATVSV đạt loại giỏi và 77 ATVSV đạt xuất sắc cấp Tập đoàn năm 2017.

Giải thi năng khiếu: Công ty than Quang Hanh đạt giải Nhất; giải Nhì thuộc về Than Hà Lầm và Than Thống Nhất; có 3 đơn vị đạt giải ba và 4 đơn vị đạt giải khuyến khích.

Giải toàn đoàn:

Khối Hầm lò: Giải Nhất thuộc về Công ty than Hạ Long; Công ty than Quang Hanh đạt giải Nhì; giải Ba gồm các đơn vị: Than Hồng Thái, Thống Nhất và Vàng Danh.

Khối Lộ thiên: Giải Nhất thuộc về Công ty CP Vận tải và đưa đón thợ mỏ; TCT CN Mỏ Việt Bắc đạt giải Nhì; giải Ba gồm các đơn vị: Than Núi Béo và Công ty Nhôm Lâm Đồng.

Khối Sàng tuyển – Tổng Công ty: Giải Nhất thuộc về Công ty Môi trường; Công ty Tuyển than Cửa Ông đạt giải Nhì; giải Ba gồm các đơn vị: TCT CN Hóa chất mỏ và TCT Khoáng sản. BTC cũng đã trao giải Khuyến khích cho 15 đơn vị.

Một số hình ảnh:

Việt Trung

Nguồn : Vinacomin.vn

VIMICO phấn đấu doanh thu năm 2017 đạt trên 5.000 tỷ đồng

Sáng ngày 14/7, Tổng công ty Khoáng sản – TKV (VIMICO) đã tổ chức sơ kết công tác SXKD 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Tới dự Hội nghị có các đồng chí Vũ Thành Lâm – Thành viên HĐTV Tập đoàn, Nguyễn Anh Tuấn – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn cùng Ban lãnh đạo Tổng công ty và lãnh đạo một số đơn vị trực thuộc.

Theo báo cáo đánh giá của Tổng công ty do Phó Tổng Giám đốc VIMICO Trịnh Văn Tuệ trình bày, từ đầu năm đến nay, mặc dù vẫn phải đối mặt với không ít thách thức như: sản xuất và công tác giải phóng mặt bằng ở một số đơn vị gặp khó; giá phôi thép, tinh quặng sắt diễn biến khó lường nên việc tiêu thụ khó khăn; chưa kể các chính sách của Nhà nước về thuế tài nguyên, phí môi trường… làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chung của toàn Tổng công ty… nhưng VIMICO đã triển khai được rất nhiều việc với minh chứng sinh động nhất chính là các chỉ tiêu kế hoạch trong 6 tháng đầu năm 2017 của đơn vị hầu hết đều đạt trên 50% KHN. Trong đó, đặc biệt doanh thu đạt 52,23% KHN, lợi nhuận bằng 174,8% so với kế hoạch, nộp ngân sách 255 tỷ đồng. Cùng với đó, Tổng công ty đã triển khai nhiều biện pháp theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới để lựa chọn thời điểm, phương án tiêu thụ đảm bảo giá bán cạnh tranh, có lợi cho doanh nghiệp. Ngoài việc tập trung chỉ đạo điều hành khối Công ty mẹ, Tổng công ty tiếp tục thực hiện giải pháp “1 tập trung” tại Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và nâng cao hiệu quả của đơn vị. Cùng với đó, VIMICO đã quyết liệt thực hiện đề án tái cấu trúc của Tổng công ty như hoàn thiện và ban hành các quy định, quy chế quản lý phù hợp với mô hình hoạt động của Công ty mẹ – Tổng công ty – CTCP, hoàn thành công tác thoái vốn tại Công ty CP Kim loại màu Tuyên Quang…

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Nguyễn Anh Tuấn ghi nhận và đánh giá cao những kết quả Tổng công ty Khoáng sản đã đạt được trong hai quý đầu năm 2017. Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn nhấn mạnh: “Gần như VIMICO sản xuất đến đâu, tiêu thụ đến đấy, giảm tồn kho, giảm vốn đọng, nâng cao hiệu quả chung, giữ ổn định được tiền lương, thu nhập cho người lao động. Việc quản trị giá thành được thực hiện rất tốt với giá thành sản xuất các sản phẩm đều giảm từ 3 – 12%. Cùng với đó, đơn vị đã đưa được vào nhiều các giải pháp kỹ thuật công nghệ để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả…

Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Nguyễn Anh Tuấn phát biểu tại Hội nghị.

Nói về những mục tiêu và giải pháp VIMICO sẽ tập trung triển khai trong 6 tháng cuối năm, Tổng Giám đốc Tổng công ty Nguyễn Tiến Mạnh cho biết, năm 2017 – Tổng công ty tin tưởng và đặt mục tiêu phấn đấu đây sẽ là năm đầu tiên vượt mốc doanh thu hợp nhất trên 5.000 tỷ đồng và lợi nhuận trên 200 tỷ đồng dù khó khăn đến mấy. Do đó, Tổng Giám đốc chỉ đạo các đơn vị cần tập trung trọng tâm vào các nhiệm vụ như: đẩy mạnh gia tăng tối đa sản lượng các sản phẩm có lợi thế; quản trị chi phí đầu vào, vật tư và các chi phí khác cần tập trung hơn nữa vào việc kiểm soát chặt chẽ để nâng cao hiệu quả; tích cực triển khai đề án tái cơ cấu, nhất là trong năm phải hoàn thành xong việc quyết toán cổ phần hoá Công ty mẹ. Đầu tư xây dựng cơ bản các dự án trọng điểm cần tập trung quyết liệt hơn nữa; cần coi các giải pháp công nghệ là một khâu đột phá…

Đ/c Nguyễn Tiến Mạnh – Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tổng công ty phát biểu tại Hội nghị.

Thuỳ Linh – Thanh Thảo

Nguồn : Vinacomin.vn

Ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng vốn lưu động trị giá 228,3 tỷ đồng

Công ty CP Gang thép Cao Bằng vừa ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng vốn lưu động với Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển (BIDV Cao Bằng) trị giá 228,3 tỷ đồng.

Công ty CP Gang thép Cao Bằng được thành lập theo Quyết định số 2155/QĐ-HĐQT ngày 5/10/2006 của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam với nhiệm vụ quản lý, thăm dò, khai thác và chế biến quặng sắt Mỏ sắt Nà Rụa và đầu tư xây dựng, sản xuất kinh doanh Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng. Công ty hoạt động kinh doanh chính là sản xuất phôi thép từ quặng sắt được khai thác từ Mỏ sắt Nà Rụa và thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Khu Liên hợp Gang thép Cao Bằng với công suất 179 m3, sản xuất 221.000 tấn phôi thép/năm.

Từ khi thành lập đến nay, Công ty đã được BIDV Cao Bằng tài trợ vốn tín dụng ngắn hạn triển khai các dự án: Liên hợp gang thép Cao Bằng 449 tỷ đồng; khai thác lộ thiên mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 với tổng kinh phí 125 tỷ đồng; hạn mức tín dụng vốn lưu động để nhà máy đi vào hoạt động phục vụ sản xuất với tổng kinh phí 173 tỷ đồng. Đến nay, Công ty tiếp tục được BIDV Cao Bằng nâng hạn mức vốn lưu động với tổng kinh phí 228,3 tỷ đồng để ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 

Nguồn : baocaobang.vn