Author Archives: khoahx
Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành có nhiều chuyển biến tích cực
Tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 6-2014 của Bộ Công thương diễn ra chiều 7-7 tại Hà Nội, Thứ trưởng Công thương Ðỗ Thắng Hải cho biết, 6 tháng đầu năm, hoạt động sản xuất và xuất khẩu vẫn giữ nhịp tăng trưởng, chỉ số tiêu thụ nhiều mặt hàng tăng và tồn kho giảm đáng kể.
Tình hình sản xuất công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2014 tăng 5,8%, đây là mức tăng cao hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm 2013 (tăng hơn 0,8 điểm phần trăm); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá trong 6 tháng đầu năm 2014 với mức tăng 7,8%, cao hơn mức tăng 6,1% của cùng kỳ năm trước…
Ðơn cử, ngành công nghiệp (CN) chế biến, chế tạo tháng 5-2014 đã có chỉ số tiêu thụ tăng tới 9% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 62,2%, da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,4%, thiết bị điện tăng 16,5%. Tính đến ngày 1-6, chỉ số tồn kho ngành CN chế biến, chế tạo tăng 12,8%. Cầu sản phẩm CN có xu hướng tăng trở lại, thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định và giảm tồn kho. Ðặc biệt, chỉ số tồn kho sản phẩm đã ở mức bình thường, đây là tín hiệu khả quan cho sự phục hồi và phát triển của toàn ngành CN cũng như nền kinh tế.
Với 13 nhóm hàng chủ lực đạt kim ngạch xuất khẩu (XK) hơn một tỷ USD, hoạt động XK sáu tháng đầu năm vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và tăng trưởng kinh tế. Tổng kim ngạch XK ước đạt khoảng 70,88 tỷ USD, tăng khoảng 14,9% so với năm 2013; tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 69,56 tỷ USD, tăng khoảng 11%; ước xuất siêu khoảng 1,32 tỷ USD. Ðiểm sáng XK của những tháng đầu năm chính là nỗ lực đẩy mạnh kim ngạch XK của các doanh nghiệp trong nước (tăng 11,5%) và XK đã tăng trên hầu hết các thị trường với mức tăng từ 10,4% đến 30,8%.
Cũng tại buổi họp báo, vấn đề hóa đơn tiền điện tháng 6 tăng đột biến tại Hà Nội đã được báo giới chất vấn ngành điện và Bộ Công Thương. EVN Hà Nội khẳng định các khách hàng gặp hóa đơn tiền điện tăng cao không có sai sót về chỉ số điện kế cũng như cách tính tiền điện. Nguyên nhân do đợt nắng nóng kéo dài trong tháng 5 và 6; học sinh nghỉ hè nên thời gian sử dụng điều hòa và các thiết bị làm mát tăng cao; cộng với đó chu kỳ làm hóa đơn tiền điện tháng 6 trùng với đợt nắng nóng.
Nguồn : (vinacomin.vn)
Hội nghị trực tuyến công bố Quy hoạch tổng thế phát triển ngành Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Ngày 7/7, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức hội nghị công bố Quyết định số 879/QĐ-TTg và 880/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Nội dung chính của quy hoạch giai đoạn này là tập trung phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo như ngành cơ khí – luyện kim, hóa chất, điện tử – công nghệ thông tin, dệt may-da giày, nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống, vật liệu xây dựng, than, dầu khí, khai thác và chế biến khoáng sản… nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, gia tăng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Quyết định của Chính phủ xác định và lựa chọn 3 nhóm ngành công nghiệp để ưu tiên phát triển gồm công nghiệp chế biến chế tạo, điện tử và viễn thông, năng lượng mới và năng lượng tái tạo theo định hướng quy hoạch không gian theo các vùng công nghiệp lõi và vùng công nghiệp đệm. Các địa phương thuộc vùng lõi gồm vùng kinh tế trọng điểm và các khu kinh tế biển được ưu tiên phát triển.
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tập trung vào 10 ngành Cơ khí – luyện kim; hóa chất; điện tử, công nghệ thông tin; dệt may – da giày; chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống; sản xuất vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản; điện; than và ngành dầu khí.
Trong quy hoạch định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ tập trung vào 3 lĩnh vực chính bao gồm công nghiệp cơ khí – luyện kim; điện tử – tin học, dệt may – da giày.
Quy hoạch ngành công nghiệp đến năm 2025, công nghiệp Việt Nam phát triển với công nghệ hiện đại, cơ cấu hợp lý, có khả năng cạnh tranh và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và để xuất khẩu.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp đến năm 2030, công nghiệp Việt Nam sẽ phát triển với nhiều ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế…
Để thực hiện được mục tiêu phát triển công nghiệp, Quy hoạch đề ra các nhóm giải pháp đột phá trong việc đổi mới thể chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và giải pháp về công nghệ.
Về giải pháp ngắn hạn, các nhóm giải pháp về thể chế, cơ chế chính sách phát triển ngành CN; tăng cường điều phối theo vùng lãnh thổ, phân cấp hợp lý trong quản lý Nhà nước về CN; tạo sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế được đưa lên hàng đầu. Về dài hạn, quy hoạch đưa ra 7 nhóm giải pháp về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường và sản phẩm, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hợp tác liên vùng và phối hợp phát triển, đẩy mạnh công tác khuyến công, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp công vừa và nhỏ…
Theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, quy hoạch ngành CN của Việt Nam sẽ có tác động sâu rộng đến từng người, từng địa phương và từng ngành. Để quy hoạch này đi đúng quỹ đạo và sát với đời sống, rất cần sự vào cuộc của rất nhiều ngành và các địa phương trên cả nước.
Nguồn : (vinacomin.vn)
Giá quặng sắt thế giới sẽ tiếp tục giảm do nhu cầu thấp
Giá quặng sắt thế giới đã giảm 31% kể từ đầu năm đến nay và sẽ giảm tiếp trong các tháng tới do nhu cầu thấp. Hiện giá quặng sắt đứng ở mức 94,7 USD/tấn.
Đó là dự báo mới nhất của BHP Billiton của Australia – hãng khai mỏ lớn nhất thế giới. Theo Mike Henry, Giám đốc tiếp thị của BHP Billiton, trong thời gian dài, ngành khai thác quặng sắt đã chứng kiến đà giảm mạnh mà đỉnh điểm là ngày 16/6, giá quặng chỉ còn 89 USD/tấn – mức thấp nhất trong vòng 21 tháng qua.
Quặng sắt liên tục rớt giá là do tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước tiêu thụ quặng sắt lớn nhất thế giới là Trung Quốc bắt đầu chững lại, kéo theo nhu cầu thép cũng bị giảm theo.

Trong khi đó, các nguồn cung quặng sắt giá rẻ với hàm lượng sắt thấp vẫn liên tục được đưa ra thị trường, khiến giá quặng càng rớt mạnh.
Trước đó, trong tháng Sáu, Cơ quan Kinh tế năng lượng và Tài nguyên của Australia đã hạ thấp dự báo giá quặng bình quân, chỉ là 105 USD/tấn cho năm 2014 và 97 USD/tấn cho năm 2015.
Giới phân tích nhận định: Giá quặng sắt biến thiên khó lường, thậm chí có thể tụt xuống 90 USD/tấn nhưng với các nhà sản xuất có công nghệ khai thác tiên tiến như Rio Tinto hay BHP Billiton thì lợi nhuận vẫn được bảo đảm bởi chi phí sản xuất của hai công ty này chỉ là 43 USD/tấn và 45 USD/tấn.
Tuy nhiên, đây sẽ là thách thức với các nhà khai thác quặng có chi phí sản xuất cao như Fortescue với 72 USD/tấn, Pilbara hay Atlas với 82 USD/tấn.
Theo đánh giá của Standard & Poor’s và Moody’s, chỉ cần giá quặng sắt mất thêm 8 USD/tấn, doanh thu của Fortescue sẽ giảm 11% so với năm 2013 (khoảng 1,1 tỷ USD), còn doanh thu của Atlas sẽ giảm 9% (khoảng 90 triệu USD)./.
Nguồn : (vietnamplus.vn)
Quý IV/2014 sẽ hoàn tất phê duyệt các phương án cổ phần hóa
Kế hoạch đặt ra là trong quý II phải công bố giá trị doanh nghiệp, công bố phương án cổ phần hóa trongquý III và phê duyệt xong phương án cổ phần hóa trong quý IV/2014.
Ngày 08/07/2014, Bộ Tài chính tổ chức họp báo thường kỳ. Tại buổi họp báo, ông Đặng Quyết Tiến – Phó cục trưởng cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho biết trong số 432 doanh nghiệp nằm trong kế hoạch cổ phần hóa các năm 2014 và 2015, tính đến ngày 20/6 còn 135 doanh nghiệp chưa thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hóa, 138 doanh nghiệp đã thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hóa nhưng chưa thực sự triển khai cổ phần hóa. Những doanh nghiệp này đã được ban đổi mới lên danh sách và chỉ đạo trực tiếp với bộ chủ quản.

Vì vậy, ông Tiến lạc quan cho rằng tiến độ cổ phần hóa đến năm 2015 hoàn toàn có thể đạt được. Sau khi Chính phủ họp và có báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình sắp xếp doanh nghiệp, kế hoạch đặt ra là trong quý II phải công bố giá trị doanh nghiệp, công bố phương án cổ phần hóa trong quý III và phê duyệt xong phương án cổ phần hóa trong quý IV/2014.
Nói thêm về việc tiến hành thoái vốn ngoài ngành 6 tháng đầu năm đạt hơn 800 tỷ, ông Tiến cho hay con số này chưa bao gồm số vốn thoái của Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV). Tập đoàn này đã bán Công ty Tài chính Than Khoáng sản (CMF) cho ngân hàng VPBank, và theo ông Tiến, nếu cộng thêm khoản này, tổng vốn thoái được sẽ tăng thêm 1.000 tỷ nữa.
Tới đây, khi những vướng mắc với Nghị định 15 về thoái vốn ngoài ngành được giải quyết thì tiến độ cổ phần hóa sẽ được đẩy nhanh hơn nữa.
Nguồn : (trithuctre)
Xử nghiêm lãnh đạo không thực hiện cổ phần hóa nghiêm túc
Văn phòng Chính phủ vừa có Công văn thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh về việc đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.
Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế, UBND TP Hà Nội, TP HCM, UBND các tỉnh Bình Định, Nghệ An, Quảng Ninh, Yên Bái, Kon Tum; Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam cần khẩn trương và chỉ đạo quyết liệt trong việc thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước theo phương án đã được phê duyệt, đảm bảo có kết quả thực tế theo lộ trình đề ra.
Đồng thời có hình thức xử lý hành chính đối với lãnh đạo doanh nghiệp không thực hiện nghiêm túc hoặc thực hiện không có kết quả tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp./.
Nguồn : (vinacomin.vn)
TKV quyết tâm hoàn thành kế hoạch 6 tháng cuối năm 2014
Sáng ngày 10/7/2014, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế – Hà Nội, Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động SXKD 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Dự và chỉ đạo Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng và Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn.
Toàn cảnh Hội nghị
Tại Hội nghị, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Nguyễn Văn Biên đã báo cáo kết quả SXKD của Tập đoàn trong 6 tháng đầu năm. Theo đó, các lĩnh vực SXKD chính của Tập đoàn đều hoàn thành kế hoạch. Một số lĩnh vực chủ chốt tăng so với cùng kỳ như sản xuất và tiêu thụ than nguyên khai; sản xuất và bán điện; sản xuất và chế biến, tiêu thụ khoáng sản các loại… Doanh thu toàn Tập đoàn 6 tháng đạt 55.259 tỷ đồng, bằng 52% kế hoạch năm và bằng 118% so với cùng kỳ năm 2013. Tập đoàn cũng đảm bảo việc làm cho hơn 126.000 lao động, với mức thu nhập bình quân 6 tháng 7,7 triệu đồng/người/tháng, tăng 3% so với cùng kỳ.
Phó TGĐ Nguyễn Văn Biên báo cáo kết quả SXKD 6 tháng đầu năm và triển khai KH 6 tháng cuối năm 2014
Đánh giá cao những kết quả mà TKV đạt được trong 6 tháng qua, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng khẳng định, than – khoáng sản là mảng công nghiệp cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách và tạo việc làm ổn định cho người lao động Ngành Công thương. Bộ trưởng chỉ đạo: “Tập đoàn TKV phải tiếp tục nỗ lực để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2014 đã đề ra; thực hiện tốt quá trình tái cơ cấu, đẩy mạnh thực hiện các quyết định, các kế hoạch, đề án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong đó có vấn đề cổ phần hóa, thoái vốn, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính… Đồng thời tính đến việc duy trì nguồn tài nguyên, duy trì sản lượng của Ngành Than trong những năm tới đây…”.
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng phát biểu chỉ đạo Hội nghị
Về phía Tập đoàn, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm TGĐ Tập đoàn Lê Minh Chuẩn thể hiện quyết tâm của TKV trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 6 tháng cuối năm và cả năm 2014. Chủ tịch Hội đồng thành viên Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, Tập đoàn sẽ tập trung triển khai nhiều giải pháp linh hoạt trong điều hành sản xuất than, khoáng sản, phấn đấu cả năm tiêu thụ trên 35 triệu tấn than các loại; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm của Tập đoàn; thắt chặt công tác quản lý khai thác, chế biến, vận chuyển than; tiếp tục tiết giảm chi phí sản xuất một cách hiệu quả. Song song với đó, TKV cũng sẽ tiếp tục thực hiện quá trình tái cơ cấu và cổ phần hoá các doanh nghiệp trong Tập đoàn theo tiến độ đã đề ra. Đồng thời đảm bảo thực hiện Quyết định 60 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển ngành Than – Khoáng sản Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
Trao quyết định bổ nhiệm Chủ tịch HĐTV của Thủ tướng CP cho đ/c Lê Minh Chuẩn
Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ninh tặng hoa chia tay đồng chí Trần Xuân Hòa – Nguyên Bí thư Đảng uỷ Tập đoàn, Nguyên Chủ tịch HĐTV Tập đoàn đã được nghỉ chế độ.
Cũng tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trao Quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên cho đồng chí Lê Minh Chuẩn – Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam thay đồng chí Trần Xuân Hòa – Nguyên Bí thư Đảng uỷ Tập đoàn, Nguyên Chủ tịch HĐTV Tập đoàn đã được nghỉ chế độ từ 1/6/2014./.
Nguồn : (vinacomin.vn)
Tăng thêm 5% lương cho thợ lò từ 1/7/2014
Hội đồng thành viên Tập đoàn vừa ra Nghị quyết quyết định tăng thêm 5% lương cho lực lượng thợ lò, áp dụng trong toàn Tập đoàn kể từ ngày 1/7/2014

Thời gian qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và trong nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Thu nhập bình quân giảm kéo theo đời sống của CNCB cũng bị ảnh hưởng. Song, người lao động toàn Tập đoàn vẫn luôn tin tưởng, đồng hành với doanh nghiệp, với Tập đoàn.
Tuy nhiên, ngay cả trong thời điểm khó khăn nhất, thợ lò luôn là lực lượng được ưu tiên. Để góp phần chia sẻ khó khăn với CNCB trong Tập đoàn nói chung, đặc biệt là lực lượng thợ lò, từ đầu năm, Ban điều hành Tập đoàn đã có chỉ đạo các đơn vị, nhất là các đơn vị hầm lò cân đối tài chính trên cơ sở đặc thù của mỗi Công ty, để tiến hành tăng 5% lương cho thợ lò.
Mới đây, Hội đồng thành viên Tập đoàn đã ban hành Nghị quyết quyết định tăng thêm 5% lương cho lực lượng thợ lò trong toàn Tập đoàn kể từ ngày 1/7/2014. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, lương của thợ lò đã được điều chỉnh tăng 10%. Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014, Chủ tịch HĐTV Lê Minh Chuẩn yêu cầu giám đốc các đơn vị thực hiện nghiêm quyết định này của Tập đoàn để người lao động phấn khởi, yên tâm gắn bó với công việc.
Nguồn : (Vinacomin.vn)
Hội thảo kỹ thuật khoan neo Việt Nhật
Ngày 8/7/2014, tại Khách sạn Heritage Hạ Long, Tập đoàn TKV phối hợp với JOGMEC và Công ty CP than Kushiro (Nhật Bản) tổ chức Hội thảo kỹ thuật khoan neo. TS. Nguyễn Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn chủ trì Hội nghị.
Tham dự Hội thảo, về phía Việt Nam, gồm đại diện các ban của Tập đoàn TKV, Ban Đầu tư, KCM, AT, đại diện Lãnh đạo các đơn vị khai thác than, khoáng sản hầm lò, các đơn vị tư vấn, thiết kế, cùng các cán bộ kỹ thuật có liên quan. Về phía Nhật Bản, ông Ogawa Sumihiro -Trưởng đoàn chuyên gia Nhật Bản tại Việt Nam, ông Nomura Yasushi – Phó Trưởng đoàn, cùng các ông Matsumoto Hiroyuki – Chuyên gia nghiên cứu khoan neo, ông Mizuno Hiroshi – chuyên gia phụ trách thi công neo.

Tại Hội thảo đã có 8 báo cáo tham luận, trong đó các bản tham luận của các đơn vị trong TKV phản ánh thực trạng áp dụng chống lò bằng vì neo của các mỏ hầm lò, những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai áp dụng. Các báo cáo tham luận của các chuyên gia Nhật Bản trao đổi những kinh nghiệm trong việc triển khai áp dụng, kỹ thuật, dây chuyền công nghệ, thiết bị chống lò bằng vì neo như: tham luận “Quy trình thi công neo trong các mỏ than hầm lò” của Viện Khoa học Công nghệ mỏ; “Kỹ thuật thi công neo cho các mỏ” của Công ty Tư vấn Đầu tư mỏ và công nghiệp; “Báo cáo công tác thi công neo ở các đường lò đá” của Công ty CP than Vàng Danh; bản tham luận của các chuyên gia Nhật Bản về “Tư vấn kỹ thuật khoan neo cho các mỏ than Việt Nam”; “Thiết bị khoan neo”; “Phương pháp đo dịch động bằng các cột chỉ thị màu” và “Quá trình thi công neo cáp”…
Qua các bản tham luận cho thấy, thực tế, việc áp dụng chống lò bằng vì neo tại các mỏ hầm lò đã được triển khai thực hiện trên 10 năm. Trong những năm qua, TKV đã áp dụng cơ chế nhằm khuyến khích chống lò bằng vì neo, tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 10 mỏ áp dụng, với khối lượng đường lò chống neo vẫn rất hạn chế. Những năm gần đây đã có cố gắng, nhưng mỗi năm cũng chỉ có trên 3 ngàn mét lò chống neo, chiếm tỷ lệ khoảng 1% khối lượng đào lò hàng năm (mỗi năm khối lượng đào lò trong TKV khoảng trên 300 ngàn mét). Về những khó khăn, vướng mắc, các bản tham luận đều đề cập đến dây chuyền thiết bị không đồng bộ, tính năng kỹ thuật còn hạn chế; khó khăn trong việc hoạch định các khu vực chống neo, cơ chế khuyến khích của TKV… Các báo cáo tham luận của các chuyên gia Nhật Bản, thông qua trả lời các câu hỏi: “Có thể thi công neo được không”?; “Có cần thiết phải đo dịch động hay không”?; “Chống neo ở đường lò dọc vỉa than”?; … đã giải quyết các vấn đề về điều kiện thi công neo, về đồng bộ thiết bị, như máy khoan neo, máy ném khí di động, dụng cụ chỉ thị màu… tính toán lượng keo dẻo cần thiết, quy trình lắp đặt thiết bị đo dịch động, trình tự thi công neo cáp, …
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn đã chỉ rõ, cơ chế của TKV khuyến khích chống lò bằng vì neo áp dụng trước đây, đến nay đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, thời gian tới việc khuyến khích sẽ áp dụng thông qua đơn giá chống lò bằng vì neo. Thực tế, việc lập dự án chống neo sẽ vướng, trùng lặp với chi phí tư vấn đầu tư xây dựng mỏ, do đó, thông qua đơn giá chống neo, các đơn vị sẽ sử dụng trong việc chuẩn bị, điều tra cơ bản để chống neo.
Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Anh Tuấn đã chỉ đạo: các đơn vị cần đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng chống lò bằng vì neo, ở mức cao nhất trong các điều kiện cho phép; xem xét đầu tư đồng bộ thiết bị thi công neo, trong đó các đơn vị tư vấn cần phối hợp với các mỏ để lựa chọn thiết bị phù hợp; các mỏ cần phối hợp với các đơn vị tư vấn trong việc nghiên cứu điều kiện áp dụng, thiết kế, quy trình công nghệ chống neo; đảm bảo thi công đúng quy trình; những vướng mắc gặp phải trong thực tế triển khai, các đơn vị cần phản ánh kịp thời cho lãnh đạo TKV, thông qua các ban Đầu tư, KCM, AT./.
Nguồn : (vinacomin.vn)
Khai mạc Hội thi thợ giỏi cấp Tập đoàn lần thứ 9 năm 2014
Sáng nay 15/7, tại Phân hiệu đào tạo Hoành Bồ – Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm, Tập đoàn đã tổ chức lễ khai mạc Hội thi thợ giỏi cấp Tập đoàn lần thứ 9 năm 2014. Tới dự có các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn, Công đoàn TKV, Đảng ủy, Đoàn Than Quảng Ninh; Hội đồng thi; lãnh đạo các Tổng Công ty/Công ty trực thuộc và các thí sinh dự thi.
Hội thi thợ giỏi cấp Tập đoàn lần thứ 9 năm 2014 nhằm mục đích nâng cao trình độ lý thuyết, tay nghề, tác phong công nghiệp, thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động của người thợ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của CNVC – LĐ trong phong trào ôn lý thuyết, luyện tay nghề, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 2014, góp phần tích cực hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ SXKD của các đơn vị và toàn Tập đoàn.
Hội thi năm nay có 31 đơn vị tham gia với số lượng 535 thí sinh dự thi được lựa chọn từ Hội thi thợ giỏi cấp cơ sở bao gồm các ngành nghề sản xuất chính trong Tập đoàn như khai thác mỏ hầm lò, xây dựng mỏ hầm lò, cơ điện mỏ hầm lò; vận hành thiết bị máy xúc, máy gạt, KSC; lái xe vận tải; lái xe chở người; sửa chữa thiết bị; gia công cơ khí…
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó TGĐ Nguyễn Anh Tuấn – Chủ tịch Hội đồng thi đã biểu dương các đơn vị trong Tập đoàn đã tích cực tham gia Hội thi và công tác chuẩn bị của Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm góp phần quan trọng để Hội thi thành công. Phó TGĐ Nguyễn Anh Tuấn chúc mừng các thí sinh tham dự Hội thi và khẳng định công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, tay nghề cho công nhân có ý nghĩa quan trọng. Thông qua Hội thi nhằm rèn luyện tay nghề, phương pháp tổ chức sản xuất, công tác AT – VSLĐ, xây dựng lực lượng công nhân kỹ thuật có trình độ, tác phong công nghiệp làm nòng cốt trong quá trình sản xuất, làm chủ thiết bị, công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu sản xuất của Tập đoàn.
Tại Hội thi, Ban LĐTL Tập đoàn đã công bố các quyết định của Tổng giám đốc Tập đoàn về việc thành lập Hội đồng thi, các ban coi thi, giám sát thi, chấm thi…
Ngay sau lễ khai mạc Hội thi, các thí sinh thực hiện phần thi lý thuyết tại Phân hiệu đào tạo Hoành Bồ – Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm.
Một số hình ảnh:

Nguồn : (vinacomin.vn)
Công tác địa chất – trắc địa có vai trò quan trọng đối với sản xuất
Ngày 15/7/2014, tại Quảng Ninh, Tập đoàn đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác địa chất – trắc địa giai đoạn 2010 – 2014, phương hướng nhiệm vụ đến 2020. Tới dự có đồng chí Lê Minh Chuẩn – Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc; các đồng chí trong HĐTV, Ban điều hành, Công đoàn TKV, Đảng ủy, Đoàn Than Quảng Ninh; lãnh đạo và cán bộ làm công tác địa chất – trắc địa các Tổng Công ty/Công ty, đơn vị trực thuộc. Phó TGĐ Vũ Mạnh Hùng chủ trì Hội nghị.
Báo cáo công tác địa chất – trắc địa giai đoạn 2010 – 2014 đã đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý tài nguyên, trữ lượng và ranh giới mỏ, kết quả công tác thăm dò từ 2011 đến 2014. Theo đó, công tác địa chất – trắc địa, thăm dò khoáng sản thực hiện trong giai đoạn này đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cũng như phục vụ các dự án đầu tư khai thác mỏ và xin cấp phép khai thác. Tập đoàn đã ban hành các quy định quản lý công tác thăm dò khảo sát, xây dựng bộ định mức, đơn giá thăm dò khảo sát chuyên ngành Than – Khoáng sản để áp dụng trong nội bộ TKV. Khối lượng thực hiện thăm dò khảo sát hàng năm đều hoàn thành kế hoạch, đáp ứng được yêu cầu phục vụ khai thác, nâng cấp trữ lượng phục vụ cho việc lập các dự án đầu tư, cải tạo, mở rộng, nâng công suất các mỏ hiện có và đầu tư xây dựng các mỏ mới từ 2010 – 2014 với khối lượng 1.140.270 mét khoan, trong đó dự kiến năm 2014 là 231.000 mét (không tính Tổng Công ty Đông Bắc đã tách ra). Thực hiện thăm dò bổ sung, thăm dò cơ giới hóa, thăm dò vùng đồng bằng Sông Hồng và thực hiện các nhiệm vụ khác…

Tại Hội nghị, Tập đoàn đã triển khai nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác địa chất – trắc địa giai đoạn 2015 đến năm 2020, đảm bảo cung cấp tài liệu địa chất phục vụ các dự án đầu tư khai thác mỏ giai đoạn 2021- 2030; thăm dò phát triển tài nguyên khoáng sản đồng, chì, kẽm, đảm bảo cung cấp ổn định nguyên liệu cho các dự án đã đầu tư…
Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn đã ghi nhận, biểu dương những kết quả trong công tác địa chất – trắc địa giai đoạn 2010 – 2014 và nhấn mạnh công tác địa chất – trắc địa có vai trò hết sức quan trọng đối với sản xuất của Tập đoàn. Trong những năm vừa qua, Tập đoàn đã quan tâm, đầu tư thích đáng cho công tác địa chất – trắc địa, thăm dò khoáng sản. Đồng thời, Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng, tính trung thực, chính xác, hiệu quả của công tác địa chất – trắc địa, tránh lãng phí, thất thoát tài nguyên. Các đơn vị cần nắm chắc trữ lượng, tài nguyên để đầu tư đúng hướng, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, quản lý ranh giới mỏ; xây dựng phát triển đội ngũ công nhân, cán bộ làm công tác địa chất – trắc địa có trình độ, năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nhân dịp này, Tổng giám đốc đã tặng bằng khen và tiền thưởng 318 triệu đồng cho 19 tập thể, 11 cá nhân có thành tích xuất sắc và thưởng 200 triệu đồng cho 16 tập thể, 20 cá nhân có thành tích trong công tác địa chất – trắc địa giai đoạn 2010 – 2014.
Nguồn : (vinacomin.vn)
210/217 phiếu tín nhiệm đồng chí Đặng Thanh Hải vào chức danh Thành viên HĐTV TKV
Sáng ngày 17/7/2014, tại Trụ sở Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã diễn ra Hội nghị lấy phiếu tín nhiệm cán bộ để bổ nhiệm bổ sung giữ chức vụ Thành viên HĐTV TKV

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Đào Văn Hải – Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Công Thương), Nguyễn Thanh Bình – Vụ Công chức viên chức (Bộ Nội vụ), Đoàn Thị Hồng Nga – Phó Trưởng Ban Tổ chức (Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương), Lê Minh Chuẩn – Chủ tịch HĐTV TKV và toàn bộ cán bộ chủ chốt của Tập đoàn.
Theo kết quả tại Hội nghị, đồng chí Đặng Thanh Hải – Phó Tổng Giám đốc TKV, Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất tại Quảng Ninh đạt 210/217 phiếu đồng ý tín nhiệm (96,77%) vào chức danh Thành viên HĐTV TKV.
Nguồn : (vinacomin.vn)
Quản lý khai thác khoáng sản: Gỡ vướng cho cơ sở
Hơn một tháng qua, Bộ TN&MT liên tiếp đi kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản tại nhiều địa phương trong cả nước như: Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Điện Biên, Quảng Nam… nơi có khá nhiều mỏ, điểm mỏ đang hoạt động khai thác để giúp địa phương tháo gỡ khó khăn và giải quyết những vấn đề còn vướng mắc liên quan đến Luật Khoáng sản cũng như một số nghị định mới ban hành…
“Đả thông” đúng luật
Hiện có khá nhiều ý kiến của doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại các địa phương cho rằng, việc thu hồi khoản tiền thuế “tính tiền cấp quyền” đối với các mỏ phải được tính từ khi Luật Khoáng sản ban hành là không hợp lý. Đối với vấn đề này, đã được Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà trả lời rõ trong Thông báo tại cuộc họp với tỉnh Hà Giang đó là, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến đồng ý chưa thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với phần trữ lượng đã khai thác từ ngày 1/7/2011 đến ngày 31/12/2013 trong khi chờ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính vì vậy, doanh nghiệp có thể yên tâm thực hiện các hoạt động khai thác sản xuất bình thường, không phải lo lắng đến vấn đề truy thu khoản thuế này.

Tại nhiều địa phương, đây cũng là thời điểm một số mỏ phân tán nhỏ lẻ đã hết hạn giấy phép nhưng địa phương thiếu cơ sở cấp lại do hoạt động cấp phép trước kia chưa được đầy đủ hồ sơ, thủ tục đúng như Luật Khoáng sản 2010 quy định. Đặc biệt hồ sơ đánh giá trữ lượng mỏ và được khoanh vùng là mỏ khoáng sản nhỏ, lẻ đã được phê duyệt, hầu như thiếu. Điều này đã gây không ít bức xúc, lo lắng cho địa phương cũng như doanh nghiệp bởi lẽ không ít mỏ hiện nay doanh nghiệp đã đầu tư khá nhiều tiền bạc cho việc cải thiện hạ tầng, công nghệ khai thác xong thiếu cơ sở pháp lý để được cấp lại. Về vấn đề này, theo ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam: Trường hợp các khu vực có khoáng sản đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp phép khai thác theo đúng quy định trước ngày 1/7/2011, sắp hết thời hạn khai thác; tổ chức, cá nhân đã đầu tư khai thác, chế biến có hiệu quả, chấp hành tốt quy định của pháp luật về khoáng sản và có nhu cầu gia hạn, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các tổ chức, cá nhân thăm dò bổ sung, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trữ lượng để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét: Nếu các khu vực đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 9/3/2012 của Chính phủ (Nghị định 15) thì công bố là khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ làm cơ sở để UBND tỉnh cấp phép; nếu không phù hợp với tiêu chí quy định thì trình hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia xem xét, quyết định việc công nhận kết quả thăm dò, phê duyệt trữ lượng làm cơ sở để Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép khai thác theo quy định của Luật Khoáng sản.
Trường hợp các khu vực có khoáng sản đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp phép khai thác theo đúng quy định trước ngày 1/7/2011, đã hết thời hạn khai thác, doanh nghiệp đã đầu tư khai thác, chế biến có hiệu quả, chấp hành tốt quy định của pháp luật về khoáng sản và có nhu cầu cấp lại giấy phép, UBND tỉnh chỉ đạo doanh nghiệp nộp toàn bộ hồ sơ, tài liệu địa chất đã thực hiện ở khu vực do UBND tỉnh, thành phố đã cấp phép đến Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam để kiểm tra, rà soát. Nếu tài liệu thăm dò hoặc điều tra, đánh giá tiềm năng khoáng sản được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định và đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 15, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét công bố là khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ.
Kiên quyết với vi phạm, ưu tiên đơn vị làm tốt
Tại các buổi làm việc và đi thực địa, lãnh đạo Bộ TN&MT đã nêu rõ quan điểm quản lý Nhà nước về hoạt động khai thác khoáng sản tại địa phương đó là, hoạt động khai thác khoáng sản ảnh hưởng rất lớn và gắn liền với tác động tới các vấn đề về bảo tồn, môi trường, cảnh quan và xã hội. Do đó, đề nghị UBND các tỉnh hết sức chú trọng các vấn đề này trong cấp phép hoạt động khoáng sản; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động khoáng sản; kiên quyết xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản. Đồng thời Bộ thống nhất với chủ trương của tỉnh đối với việc rà soát, ưu tiên lựa chọn các doanh nghiệp có năng lực, chấp hành tốt quy định của pháp luật về khoáng sản và có đóng góp đối với phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh để thực hiện đầu tư vào hoạt động khoáng sản trên cơ sở xem xét đồng bộ từ công tác điều tra, đánh giá; thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản nhằm gia tăng giá trị từ hoạt động khai thác khoáng sản.
Chính vì vậy, trong một số các trường hợp cụ thể đang còn vướng mắc tại địa phương, các thông báo đều nêu rõ tính chất kiên quyết của việc loại bỏ những doanh nghiệp không tuân thủ đúng luật. Như thông báo kết luận làm việc với UBND tỉnh Điện Biên, Bộ TN&MT đề nghị UBND tỉnh Điện Biên cần khẩn trương kiểm tra hoạt động của Công ty cổ phần Đầu tư Khoáng sản Dầu khí Điện Biên, nếu công ty không còn hoạt động thì lập thủ tục thu hồi đăng ký kinh doanh, đồng thời đánh giá lại năng lực của 2 doanh nghiệp đăng ký đầu tư tại khu vực mỏ (Công ty cổ phần Tài nguyên và Công ty TNHH Tuyên Huy) để lựa chọn tổ chức có năng lực, đã đầu tư hoạt động khai thác có hiệu quả, chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật để tiếp tục giao hoàn chỉnh thủ tục lập hồ sơ thăm dò.
Còn đối với những doanh nghiệp tại địa phương làm tốt công tác môi trường, làm tốt nghĩa vụ tái tính đối với địa phương và đầu tư công nghệ, mà đến thời điểm hết hạn giấy phép hoặc mong muốn được cấp mở rộng diện tích khai thác như: Công ty Đức Sơn, mỏ vàng Võ Nhai… đã được Bộ TN&MT cho phép được khai thác thử nghiệm để duy trì nguồn nguyên liệu trong khi hoàn thành các thủ tục quan trọng theo đúng hướng dẫn của Luật Khoáng sản, đồng thời cũng được ưu tiên giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành chính và được Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam giúp về mặt thủ tục pháp lý để đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ.
Tác giả bài viết: Theo Báo Tài nguyên & Môi trường
Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh: Bãi thải đã thành ruộng lúa
Cách đây vài năm, đến Bản Cô – một trong những điểm khai thác quặng thiếc của Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh – tôi thấy vùng bãi thải nhấp nhô những đá. Giờ đây, bãi thải Bản Cô đã thành những thửa ruộng lúa.
Ông Trần Văn Hành (bên trái) – Phó Giám đốc Công ty kiểm tra ruộng lúa cải tạo từ bãi thải
Cải tạo bãi thải thật kỳ công
Mỏ thiếc Bản Cô bắt đầu khai thác từ năm 2007. Phần lớn diện tích khai thác nằm trong thung lũng Bản Cô. Đây là diện tích trồng lúa chính của bà con dân bản thuộc xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Phương pháp khai thác ở đây thực hiện bằng hình thức “cuốn chiếu”, tức là phần diện tích mỏ sau khi khai thác xong được sử dụng làm bãi thải trong (thuật ngữ) cho những lô khai thác tiếp theo. Khu vực bãi thải trong sau khi lấp đầy, được cải tạo, phục hồi trả lại diện tích canh tác. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do công nghệ hoàn thổ nên kết quả hoàn thổ chưa đạt yêu cầu. Hiện trạng khu vực đã khai thác xong và hoàn thổ nhấp nhô, lớp đất phủ trên mặt cằn cỗi, không có chất màu, lớp đất phía dưới không giữ được nước, không có hệ thống tưới tiêu nên không thể canh tác được.
Để đảm bảo khả năng canh tác cho người dân như trồng được cây lương thực, các loại hoa màu trên khu vực khai trường của mỏ, đồng thời góp phần cải tạo cảnh quan môi trường chung, Tổng Công ty Khoáng sản – Vinacomin đã chủ trương khảo sát và lập báo cáo kinh tế kỹ thuật cải tạo, phục hồi môi trường khai trường mỏ thiếc Bản Cô nhằm nghiên cứu đánh giá và đưa ra các giải pháp cải tạo, phục hồi diện tích đã hoàn thổ trước đây đảm bảo đủ điều kiện để canh tác cho địa phương.
Đơn vị lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật là Công ty CP tin học, công nghệ, môi trường – Vinacomin. Trong quá trình lập báo cáo, Công ty đã hợp tác với Viện Thổ nhưỡng Nông thôn hóa (thuộc Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam) thu thập số liệu, nghiên cứu các giải pháp cải tạo hoàn thổ xây dựng mô hình trồng thử nghiệm để có biện pháp điều chỉnh nhằm đảm bảo kết quả cải tạo hoàn thổ đạt hiệu quả cao. Với tổng mức đầu tư hơn 5 tỷ đồng, vùng bãi thải trên 6 ha đã được cải tạo thật kỳ công. Ban đầu là san gạt, tạo mặt bằng hoàn thổ. Tiếp đó là xây dựng hệ thống bờ bao, trồng cỏ chống xói bờ taluy. Mặt ruộng được phủ lớp đất sét giữ nước và chống rửa trôi chất dinh dưỡng. Tiếp đó, tạo một lớp màu có chiều dày 0,45 mét để trồng lúa nước v.v. Lớp đất được đưa đi phân tích, đạt tiêu chuẩn chất lượng mới bắt đầu trồng cấy.
Năng suất lúa đạt khoảng 4 tấn/ha và hơn thế
Vùng bãi thải đất đá nham nhở, nhấp nhô trước đây nay đã trở thành những thửa rộng màu mỡ. Ông Trần Văn Hành, Phó giám đốc Công ty Kim loại màu Nghệ Tĩnh cho biết, số diện tích cải tạo phục hồi đã được trồng một vụ lúa, năng suất bình quân khoảng 4 tấn/ha; hiện đang trồng vụ thứ hai. Toàn bộ số diện tích trên đã bàn giao cho dân để tiếp tục canh tác. Dân rất phấn khởi.
Với năng suất lúa đạt khoảng 4 tấn/ha, so với các vùng đồng bằng chuyên thâm canh lúa là chưa cao. Nhưng với đồng bào các dân tộc vùng cao huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) nói riêng và những địa phương có đất nằm trong vùng đền bù gải phóng mặt bằng để khai thác khoáng sản nói chung, ngoài giá trị về năng suất lúa, công việc hoàn thổ phục hồi môi trường sau khai thác còn mang ý nghĩa lớn hơn, đó là tạo niềm tin trong nhân dân; rằng, muốn tiếp tục thuê đất của dân để khai thác khoáng sản, đã có phương pháp hợp lí hoàn thổ, trả lại đất cho dân để canh tác.
Tác giả bài viết: P.V
Theo tin Tạp chí Than
VIMICO tập trung vào các mục tiêu trọng tâm 6 tháng cuối năm
Phát huy những kết quả đã đạt được, Lãnh đạo Tổng Công ty Khoáng sản – Vinacomin (VIMICO) đã đặt ra những mục tiêu trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2014 và bằng nhiều giải pháp linh hoạt, quyết liệt để tập trung thực hiện những mục tiêu đó.
Khai trường Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền
Cụ thể, trong công tác sản xuất, tiêu thụ, Lãnh đạo Tổng Công ty tập trung chỉ đạo các công ty con đẩy mạnh sản xuất, triển khai các biện pháp tiết giảm chi phí, tăng cường công tác tiêu thụ nội địa… Phấn đấu năm 2014, VIMICO đạt doanh thu trên 3.650 tỷ đồng và lợi nhuận trên 120 tỷ đồng, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động với mức lương bình quân trên 5,5 triệu đồng/người/tháng. Tăng cường quản lý công tác đầu tư để đưa các dự án trọng điểm như: Dự án “Khai thác, tuyển và luyện quặng vàng gốc mỏ Minh Lương”, Dự án Gang thép Cao Bằng… vào hoạt động đảm bảo đúng tiến độ.
Đồng thời, VIMICO đang tập trung triển khai thực hiện công tác cổ phần hóa công ty mẹ TCT theo đúng kế hoạch đề ra, phấn đấu từ 01/01/2015, Công ty mẹ TCT hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Cùng với đó, trong những tháng cuối năm, Tổng Công ty cũng chú trọng tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh đối với các Công ty: Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên, Công ty CP khoáng sản 4, Công ty CP Kim loại màu Tuyên Quang…
Tác giả bài viết: Minh Châu
TKV hoàn thành 11 đề án thăm dò khoáng sản
Theo báo cáo tổng kết từ Ban Tài Nguyên – Tập đoàn TKV, để phục vụ sản xuất, phát triển mỏ, trong giai đoạn từ năm 2010 – 2014, Tập đoàn TKV và các đơn vị khai thác khoáng sản đã hoàn thành 11 đề án thăm dò các khoáng sản khác ngoài than. Đó là Vàng gốc Avao, Quảng Trị; vàng gốc Sa Phìn, đồng Vi Kẽm, đồng Tả Phời tỉnh Lào Cai; thiếc gốc Suối Bắc, Nghệ An; đất hiếm Đông Pao, Lai Châu, thiếc gốc khu Ngòi Lẹm; wonfram gốc khu A Thiện Kế, Tuyên Quang; đá hoa Bản Hạt, Nghệ An; antimon Làng Vài, Tuyên Quang; titan-zircon khu Lương Sơn I, tỉnh Bình Thuận.

Hội đồng Đánh giá Trữ lượng khoáng sản Quốc gia đã phê duyệt 9 báo cáo là vàng gốc Avao, Quảng Trị; vàng gốc Sa Phìn, đồng Vi Kẽm, đồng Tả Phời tỉnh Lào Cai; thiếc gốc Suối Bắc, Nghệ An; đất hiếm Đông Pao, Lai Châu, thiếc gốc khu Ngòi Lẹm; wonfram gốc khu A Thiện Kế, Tuyên Quang; đá hoa Bản Hạt, Nghệ An. Các đơn vị đã lập dự án đầu tư khai thác mỏ. Còn lại 2 đề án đang tiếp tục thi công là antimon Làng Vài, Tuyên Quang; titan-zircon khu Lương Sơn I, tỉnh Bình Thuận. Dự kiến sẽ thi công xong trong năm 2015.
Tác giả bài viết: Linh Nguyễn
Công bố quyết định bổ nhiệm và lấy phiếu tín nhiệm các chức danh cao cấp Tập đoàn
Ngày 12/8, tại Quảng Ninh, đại diện Bộ Công thương và Tập đoàn đã tổ chức công bố và trao quyết định bổ nhiệm chức vụ Thành viên HĐTV cho ông Đặng Thanh Hải, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất than tại Quảng Ninh.
Theo quyết định số 6868/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng ký ngày 6-8-2014, ông Đặng Thanh Hải, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất than tại Quảng Ninh được bổ nhiệm có thời hạn giữ chức Thành viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam kể từ ngày ký.

Ông Đặng Thanh Hải sinh ngày 8-2-1966. Quê quán: Đông Hưng, Thái Bình. Trình độ chuyên môn: Kỹ sư khai thác, Thạc sỹ Quản trị doanh nghiệp. Trình độ chính trị: Cao cấp lý luận chính trị. Ông Đặng Thanh Hải đã qua nhiều chức vụ quan trọng của các đơn vị trong Tập đoàn cũng như cơ quan điều hành Tập đoàn. Cùng ngày công bố quyết định, ông Đặng Thanh Hải đã được lãnh đạo chủ chốt Tập đoàn bỏ phiếu tín nhiệm chức vụ Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam với gần 70% số phiếu tín nhiệm.
Cũng tại Hội nghị, Tập đoàn tiếp tục tiến hành lấy phiếu tín nhiệm cán bộ để bổ nhiệm bổ sung giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tập đoàn. Theo đó, ông Nguyễn Ngọc Cơ, Giám đốc Công ty than Mạo Khê đã được tín nhiệm với 60% số phiếu.
Tác giả bài viết: P.V
“TKV đã đặt nền móng cho một nền công nghiệp mới trên vùng đất Tây Nguyên…”
Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng tại Hội nghị kiểm điểm 1 năm sản xuất và tiêu thụ Alumina – Hydroxit Nhôm của Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa được tổ chức mới đây (15/8) tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Dự án Tổ hợp Bauxite – Nhôm Lâm Đồng là một trong hai Dự án sản xuất Alumina thử nghiệm dùng cho luyện kim đầu tiên tại Việt Nam. Cùng với Dự án Alumin Nhân Cơ, hiệu quả 2 dự án của TKV đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến khả năng hình thành và phát triển ngành công nghiệp bauxite – alumina – nhôm của Việt Nam.
Sau hơn 1 năm tổ chức vận hành Nhà máy Alumin Tân Rai, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, về cơ bản TKV đã đảm bảo được việc vận hành Nhà máy ổn định, linh hoạt sửa chữa và khắc phục các sự cố trong quá trình vận hành ban đầu. Sau quá trình tích lũy kinh nghiệm, nắm bắt công nghệ, chất lượng sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn thiết kế, sản lượng sản xuất ngày càng ổn định và tăng dần tiến tới đạt công suất thiết kế.
Theo báo cáo thống kê, trong giai đoạn vận hành thương mại (từ 1/10/2013 đến hết tháng 7 năm 2014, Nhà máy Alumin Tân Rai đã sản xuất gần 351.578 tấn alumina, 533.480 tấn hydroxit nhôm. Dự kiến năm 2014, Nhà máy sẽ đạt 75-80% công suất.
Với chất lượng quặng bauxite trên thực tế tốt hơn so với thiết kế (hàm lượng Al2O3 đạt trên 98,5%), giá bán tại thị trường trong nước phù hợp với giá cả thị trường quốc tế nên sản phẩm của Nhà máy đã được các khách hàng trong nước ủng hộ. Sản lượng tiêu thụ tại thị trường trong nước ngày một tăng. Năm 2013, sản lượng alumina tiêu thụ trong nước của Nhà máy đạt 845 tấn và sản lượng hydroxit nhôm là 3.840 tấn; 7 tháng đầu năm 2014 là 1.088 tấn alumina và 3.640 tấn hydroxit nhôm.
Về xuất khẩu, TKV đã thực hiện giao dịch với nhiều khách hàng đến từ các nước như: Thụy Sỹ, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc…; đã ký hợp đồng bán alumina với 11 khách hàng. TKV đang tích cực tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ ra các khu vực khác có nhu cầu cao về alumina. Tính đến nay, sản phẩm alumina của Nhà máy xuất khẩu đạt 411.528 tấn.
Tại Hội nghị, đồng chí Lê Minh Chuẩn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV, TGĐ Tập đoàn TKV nhấn mạnh, hội nghị kiểm điểm 1 năm sản xuất và tiêu thụ Alumina – Hydroxit Nhôm lần này chính là tiếng nói mạnh dạn của TKV báo cáo lên Đảng, Chính phủ, nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng, các đối tác bạn hàng… về sự thành công bước đầu của dự án Bauxite – Nhôm tại Tân Rai (Lâm Đồng) và sắp tới là Alumin Nhân Cơ (Đắk Nông). Trải qua rất nhiều khó khăn, có những lúc tưởng phải dừng lại nhưng với sự quan tâm chỉ đạo, động viên của các cấp, các ngành… đã giúp TKV vững tin và quyết tâm thực hiện thành công dự án. Tuy vậy, không bằng lòng với những gì đã đạt được, thời gian tới, TKV sẽ nỗ lực và cố gắng hơn nữa để tiếp tục triển khai dự án đạt hiệu quả.

Đánh giá tác động đối với địa phương, theo đồng chí Phạm S – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, năm 2013 số thuế, phí của dự án nộp cho ngân sách địa phương gần 100 tỷ đồng và tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh Lâm Đồng khoảng 1.300 tỷ đồng, vượt kỷ lục trong 10 năm trở lại đây. Đồng thời, trong quá trình triển khai, Dự án đã thực hiện đúng cam kết hỗ trợ, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất, Dự án đã thu hút 1.200 lao động trực tiếp, tạo việc làm ổn định cho khoảng 12.000 lao động liên quan… Như vậy, tuy ở giai đoạn đầu triển khai nhưng dự án đã có đóng góp rất tích cực, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng xúc động, biểu dương và chúc mừng những kết quả mà TKV đã đạt được. Đồng thời, Bộ trưởng khẳng định: đây là minh chứng bước đầu cho một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước về một ngành công nghiệp còn hết sức mới mẻ là alumina và sau này là nhôm. TKV đã vượt qua được những giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình triển khai dự án, bằng những kết quả thực tế của mình đang dần tạo được sự đồng thuận trong toàn xã hội. Cụ thể nhất, tháng 6 vừa qua, UBTVQH đã tổ chức đoàn giám sát, qua báo cáo của các Uỷ ban của Quốc hội đã ghi nhận các kết quả, thành công bước đầu của dự án theo hướng tích cực.
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng đề nghị, từ bài học kinh nghiệm của dự án Tổ hợp Bauxite – Nhôm Lâm Đồng, TKV cần tiếp tục hoàn thiện các vấn đề còn tồn tại, các khâu để Nhà máy vận hành thật sự ổn định, an toàn. Thêm đó, TKV bằng nhiều biện pháp để giảm chi phí, tăng năng suất lao động, nâng cao cạnh tranh giá thành; làm tốt công tác hoàn thổ, tìm hiểu cơ cấu cây trồng phù hợp. Và quan trọng, khắc phục các vấn đề còn tồn tại từ dự án này để không lặp lại tại Dự án Alumin Nhân Cơ (Đắk Nông), đồng thời có trách nhiệm như một “trường học” để đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực cho Dự án Nhân Cơ sẽ chính thức vận hành vào cuối năm 2015.
Đồng chí Lê Minh Chuẩn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV, TGĐ Tập đoàn TKV đã tặng bằng khen cho các tập thể vì đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất và tiêu thụ alumina – hydroxit nhôm
Cũng tại Hội nghị, đồng chí Lê Minh Chuẩn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV, TGĐ Tập đoàn TKV đã tặng bằng khen cho các tập thể vì đã có những thành tích xuất sắc trong công tác sản xuất và tiêu thụ alumina – hydroxit nhôm với tổng số tiền 120 triệu đồng./.
Nguồn : (Vinacomin.vn)
Doanh nghiệp tiên phong trong tin học hoá quản trị doanh nghiệp
Mới đây, Công ty TNHH Cơ khí Sơn Hà và Trung tâm dịch vụ ERP-FPT đã ký thoả thuận triển khai phần mềm quản trị tổng thể doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource Planning) Oracle E-Business Suite vào tin học hoá quản trị doanh nghiệp. Với việc ký kết này, Sơn Hà đã trở thành DN sản xuất các sản phẩm gia dụng Inox đầu tiên của VN ứng dụng phần mềm ERP vào tin học hoá quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý sản xuất.
Sơn Hà là DN sản xuất các sản phẩm gia dụng Inox đầu tiên của VN ứng dụng phần mềm ERP vào tin học hoá quản trị doanh nghiệp.
Dự kiến trong thời gian tới, Sơn Hà sẽ ứng dụng đầy đủ các phân hệ cơ bản của ERP như Tài chính- Kế toán, quản lý mua sắm, quản lý bán hàng, quản lý kho hàng, quản lý sản xuất và hệ thống báo cáo quản trị. Với việc ứng dụng này, Sơn Hà sẽ chính thức tin học hoá hầu hết các tác nghiệp của mình.
Qua việc ứng dụng giải pháp ERP Oracle vào tin học hoá quản trị doanh nghiệp, Ban lãnh đạo Sơn Hà mong muốn nhận được các báo cáo Tài chính kịp thời và chính xác phục vụ cho việc đưa ra các chính sách kinh doanh hợp lý cũng như đáp ứng các yêu cầu báo cáo theo quy định của nhà nước. Hơn thế nữa, Công ty cũng chủ động kiểm soát được tình hình sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị thành viên, từng loại sản phẩm một cách chính xác hơn; theo dõi, quản lý hậu cần một cách hiệu quả, từ đó, thay đổi cách quản lý mới phù hợp với xu thế ngày càng phát triển của Công ty, nhằm thực hiện đúng các chính sách của nhà nước về thuế sao cho hợp lý, có lợi và hợp pháp.
Giải pháp ERP Oracle E-Business Suite
ERP (Enterprise Resource Planning) có nghĩa là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp và giải pháp Oracle E-Business Suite là một trong những giải pháp ERP hàng đầu thế giới. Với hơn 17 năm kinh nghiệm liên tục, Oracle đã dựa vào nguồn kinh nghiệm rộng lớn này để đưa sức mạnh quản lý doanh nghiệp của những công ty hàng đầu thế giới, từ phức tạp xuống tới quy mô mà các công ty thuộc doanh nghiệp mong muốn. Tiêu chí của các phần mềm ERP là quản lý đồng bộ, chặt chẽ và khoa học hơn toàn bộ thông tin của doanh nghiệp, trong đó thông tin kinh tế là một phần cốt lõi.
Có thể nói, mặc dù ERP không đem lại hiệu qủa trực tiếp về mở rộng thị phần, tăng doanh số bán nhưng bù lại, ERP sẽ cải thiện được các quy trình tác nghiệp, giảm được thời gian trễ của việc giao hàng, hàng tồn kho, công nợ…do Ban lãnh đạo Sơn Hà có thể kiểm soát được công việc đó hàng ngày. Đồng thời, với việc thực hiện quy trình tác nghiệp theo hệ thống ERP, cán bộ công nhân viên của Sơn Hà sẽ tăng khả năng làm việc nhóm, giảm nhiều thời gian nhập dữ liệu thừa, tăng năng xuất lao động…
Vấn đề khó khăn hiện nay đối với Công ty TNHH Cơ khí Sơn Hà là sự thay đổi của nhân lực phải theo kịp sự cải tiến về công nghệ. Để ứng dụng thành công ERP trong tin học hoá quản trị doanh nghiệp, Ban lãnh đạo Công ty đặt quyết tâm cao, yêu cầu nhân viên thay đổi thói quen làm việc cũ, tuân thủ các nguyên tắc, quy trình…
Được biết, công ty TNHH Sơn Hà được thành lập tháng 11/1998. Sau gần 10 năm hoạt động, Sơn Hà đã trở thành Công ty hàng đầu ở VN trong lĩnh vực sản xuất bồn chứa nước Inox và một số sản phẩm khác như :chậu rửa Inox, thép Inox công nghiệp (đây là mặt hàng được sản xuất lần đầu tiên tại Việt Nam bởi công ty Sơn Hà). Hiện nay, sản phẩm của Sơn Hà không những chiếm lĩnh được thị trường trong nước mà còn có mặt tại các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan, và một số nước Châu Á khác.
Theo tin từ Việt Báo
Hội thảo khoa học “Tiết kiệm năng lượng – Những vấn đề cấp bách”
Ngày 21/8/2014, tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của Bộ Công thương, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam phối hợp với Tổng cục Năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tiết kiệm năng lượng – Những vấn đề cấp bách”. Đoàn Chủ tịch chủ trì hội thảo gồm: ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, ông Nguyễn Khắc Thọ – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương), ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Lộc – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam và ông Nguyễn Quốc Khánh – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Sau lời phát biểu khai mạc của Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Trần Viết Ngãi, nhiều tham luận của các doanh nghiệp, đơn vị tham gia hội thảo đã được trình bày như: tham luận “Tiết kiệm năng lượng – những vấn đề cấp bách” của đại diện Tổng cục Năng lượng; tham luận “Những khó khăn và thách thức trong thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2012 – 2015” của Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam; tham luận “Ngành thép Việt Nam và vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả”….

Tham dự Hội nghị, đại diện cho Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản, ông Kiều Kim Trúc – Phó trưởng Ban Khoa học Công nghệ TKV cũng trình bày bản tham luận “Chia sẻ kinh nghiệm triển khai chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành Than – Khoáng sản”. Bản tham luận nêu rõ, Tập đoàn TKV đã hưởng ứng Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và chỉ đạo mạnh mẽ thông suốt từ Tập đoàn đến các đơn vị sản xuất thực hiện tiết kiệm năng lượng. Tập đoàn đã thành lập Ban chỉ đạo gồm lãnh đạo Tập đoàn và lãnh đạo các đơn vị sản xuất điển hình (hầm lò, lộ thiên, sàng tuyển, cơ khí, vận tải, luyện kim) và giao nhiệm vụ cho đơn vị chuyên trách chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong Tập đoàn triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Ban KCL là đầu mối thường trực Ban chỉ đạo. Với lộ trình kế hoạch xây dựng xuyên suốt và chỉ đạo sát sao của Tập đoàn, từ năm 2006 đến nay, trong khuôn khổ triển khai Chương trình, TKV đã thực hiện một số đề tài và triển khai áp dụng các giải pháp tiết kiệm sau kiểm toán vào sản xuất, thực hiện kiểm toán năng lượng: tổ chức lớp đào tạo Cán bộ quản lý năng lượng cho hơn 70 học viên từ các doanh nghiệp trong Tập đoàn TKV trong năm 2012; giao cho Viện KHCN mỏ “Triển khai xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO cho khối sản xuất than hầm lò và lộ thiên”, từng bước đưa hệ thống quản lý năng lượng theo ISO vào sản xuất tại các đơn vị trong TKV; có khoảng 40 đơn vị tiêu thụ năng lượng trọng điểm trong TKV được thực hiện kiểm toán năng lượng theo Luật và một số đơn vị đã được Kiểm toán lần thứ 2… Bên cạnh đó, nhiều giải pháp từ tuyên truyền đến các giải pháp có chi phí đầu tư từ thấp đến cao đã được TKV áp dụng thực tế và đạt hiệu quả trong toàn Tập đoàn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn mà Tập đoàn cần khắc phục như: chi phí năng lượng đối với sản xuất khai thác chế biến than còn cao so với các nước trong khu vực; Còn nhiều thiết bị công nghệ cũ, đã được trang bị từ rất lâu, hiệu suất sử dụng năng lượng thấp; Chi phí đầu tư cho các thiết bị hiệu suất cao là rất lớn và năng lực đầu tư của các đơn vị còn hạn chế…
Thông qua bản tham luận, Tập đoàn TKV cũng kiến nghị Bộ Công thương những biện pháp tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn của TKV trong công tác triển khai tiết kiệm năng lượng có hiệu quả gồm: Hỗ trợ trong công tác đào tạo nâng cao kinh nghiệm cho các cán bộ quản lý xây dựng kế hoạch năng lượng, kiểm toán viên năng lượng, cán bộ quản lý năng lượng của TKV thông qua các chương trình đào tạo, trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực năng lượng trong nước và nước ngoài; Tiếp tục chỉ đạo, ủng hộ để TKV triển khai nhân rộng mô hình “Hệ thống tự động quản lý giám sát tiêu thụ năng lượng Công ty CP than Hà Lầm”; Hỗ trợ, giới thiệu các nguồn vốn vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài qua các diễn đàn hội thảo hội nghị do Tổng Cục Năng lượng tổ chức để triển khai đưa các dự án đầu tư giải pháp tiết kiệm năng lượng vào thực tế sản xuất…
Kết luận hội thảo, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Trần Viết Ngãi nhất trí với các ý kiến tham luận rằng cần tiết kiệm năng lượng ngay từ khâu đầu vào của các dự án, từ việc lập hồ sơ trình duyệt đến lập dự án, thiết kế kỹ thuật, quản lý cho đến khi hoàn thành dự án, tránh lãng phí không cần thiết, nhất là đối với các dự án được Nhà nước đầu tư. Khai thác tối đa, tận thu tối đa các nguồn năng lượng từ điện, than, dầu khí; cần đầu tư thêm công nghệ để khai thác ra nhiều năng lượng cho đất nước. Đoàn Chủ tịch tiếp thu các ý kiến đã tham luận và sẽ kiến nghị lên Đảng, Chính phủ và các Bộ ngành để nghiên cứu các chính sách, cơ chế, giải pháp thích hợp. Cụ thể sẽ tập trung đề xuất vào 7 giải pháp đột phá về tiết kiệm năng lượng gồm:
1. Ngành năng lượng Việt Nam cần có một quy hoạch tổng thể năng lượng Quốc gia, gồm các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái tạo;
2. Cần tạo điều kiện hỗ trợ vốn cho ngành Than để xây dựng thêm nhiều mỏ mới ở khu vực Quảng Ninh và Đông Bắc, tăng sản lượng than hàng năm để phát triển kinh tế trong yêu cầu mới;
3. Cần phải thực hiện Quyết định số 41 của Bộ Chính trị về phát triển ngành Dầu khí đến năm 2025, đẩy mạnh công tác lọc hóa dầu tạo thành chuỗi sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong lĩnh vực này;
4. Cần sớm hiệu chỉnh Tổng sơ đồ Điện VII một cách hợp lý nhất, sát với thực tế theo tốc độ phát triển của nền kinh tế và cần quan tâm đến môi trường;
5. Chính phủ cần có quy hoạch chiến lược phát triển năng lượng gió, vì tiềm năng gió VN rất lớn, có thể sản xuất được nhiều nghìn MW điện thay thế cho NL hóa thạch ngày càng cạn kiệt, cải thiện ô nhiễm môi trường;
6. Chính phủ cần tổng kết việc thực hiện Chương trình MTQG, Luật sử dụng NLTK hiệu quả để từ đề ra chủ chương chính sách mới triển khai thực hiện có hiệu quả hơn;
7. Cần thành lập Bộ Năng lượng giúp Chính phủ quản lý chỉ đạo ngành năng lượng, trong đó có việc chỉ đạo MTQG, Luật sử dụng NLTK hiệu quả.
Tác giả bài viết: T.T
Theo tin Tạp chí Than
Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm việc với Tập đoàn TKV
Chiều ngày 23/8/2014, trong chuyến công tác và làm việc tại Quảng Ninh, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cùng đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.
Cùng đi có đồng chí Phạm Thế Duyệt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đại diện các Bộ, ngành Trung ương; đồng chí Nguyễn Đức Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và các Sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh Quảng Ninh. Về phía TKV có đồng chí Lê Minh Chuẩn, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐTV, Tổng Giám đốc và các đồng chí lãnh đạo Đảng uỷ; HĐTV, Ban điều hành, Công đoàn TKV; Đảng uỷ, Đoàn TQN; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc TKV vùng Hạ Long.
Tại buổi làm việc, đồng chí Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch, Tổng Giám đốc đã báo cáo tình hình hoạt động SXKD của Tập đoàn. Với tổng số 125.260 CNVC, trong đó sản xuất than có 91.439 người, chiếm 73%; thợ hầm lò là 36.744 người, chiếm 37%. Trong 7 tháng đầu năm 2014, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng SXKD của Tập đoàn đã có mức tăng trưởng; doanh thu đạt trên 60.300 tỷ đồng, đạt 57% KHN, tăng 13% so cùng kỳ 2013. Sản lượng than khai thác đạt trên 21 triệu tấn, đạt 59% KHN, bằng 100% so cùng kỳ; tiêu thụ 21,1 triệu tấn, đạt 60% KHN, bằng 102% so cùng kỳ; sản xuất khoáng sản, nhiệt điện đạt khá, trong đó sản lượng điện đạt 5,56 tỷ KWh, bằng 65% KHN. Đồng thời, tiếp tục duy trì, ổn định việc làm, thu nhập với mức lương bình quân gần 8 triệu đồng/người/tháng. Năm 2014, Tập đoàn đặt ra kế hoạch khai thác 37,7 triệu tấn than, tiêu thụ trên 35,5 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2013. Thực hiện đề án tái cơ cấu theo chỉ đạo của Chính phủ, Tập đoàn đã hoàn thành chuyển đổi 10/11 công ty TNHH MTV thành chi nhánh của Tập đoàn, giải thể 2 đơn vị; cổ phần hóa 3/8 công ty TNHH MTV; hoàn thành cơ bản việc thoái vốn ngoài ngành trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thu về trên 1,6 nghìn tỷ đồng.
Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu khẳng định ngành Than đóng góp to lớn cho sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh và công tác an sinh xã hội trên địa bàn. Tỉnh Quảng Ninh và TKV đã thường xuyên phối hợp, tháo gỡ giải quyết các khó khăn, vướng mắc đạt hiệu quả thiết thực, đặc biệt là các vấn đề về khai thác, quản lý than, công tác môi trường, nhà ở công nhân…
Sau khi nghe ý kiến của các đồng chí trong đoàn công tác, của tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn. Kết luận buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đánh giá cao sự nỗ lực, cố gắng của CBCNVC Tập đoàn trong sản xuất, thực hiện tái cơ cấu, chăm lo đời sống người lao động và đóng góp với địa phương; đồng chí khẳng định TKV có vai trò quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia và thực hiện CNH, HĐH đất nước. Đồng chí nhấn mạnh, ngành Than đang đứng trước giai đoạn chuyển đổi mang tính căn bản, thực hiện tái cơ cấu cả về sản xuất, công nghệ, tư duy, nhận thức, nguồn nhân lực. TKV cần tiếp tục quan tâm tăng năng suất lao động, đầu tư đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập của thợ lò, đồng thời tổ chức rà soát, đánh giá và xây dựng đề án đảm bảo lao động cho ngành Than về đào tạo, thu nhập, nhà ở, cơ chế chính sách, đặc biệt đối với thợ lò để đáp ứng cho sản xuất và sự phát triển của TKV.
Về các đề nghị của Tập đoàn, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân khẳng định, MTTQ Việt Nam sẽ xem xét và kiến nghị với Đảng, Quốc hội và Chính phủ những khó khăn của TKV trong quá trình sản xuất trong thời gian sớm nhất.
Chiều cùng ngày, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân đã đến thăm hỏi, động viên công nhân, cán bộ, chuyên gia nước ngoài đang làm việc và kiểm tra tiến độ tại Dự án hầm lò Công ty CP than Núi Béo.
Một số hình ảnh của đoàn công tác:

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm việc với Tập đoàn TKV

Đồng chí Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch, Tổng Giám đốc TKV đón nhận bức tranh Bác Hồ của đồng chí Nguyễn Thiện Nhân trao tặng

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thăm hỏi CNCB và chuyên gia Ucraina đang làm việc tại Dự án Hầm lò mỏ Núi Béo
Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn TKV trồng cây tại mỏ Núi Béo
Tác giả bài viết: Việt Trung
CPI tháng 8: Tăng thấp nhất trong vòng 5 năm
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2014 tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 4,31% so với tháng 8/2013. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, CPI cả nước mới tăng 1,84%. Đây là mức tăng thấp nhất trong vòng 5 năm qua.
CôngThương – Trong rổ hàng hóa tính CPI thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng mạnh nhất, với mức tăng 0,45% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng thực phẩm cho ngày Rằm tháng 7 và một số loại thực phẩm cũng tăng cao. Trong đó, lương thực tăng 0,45%, thực phẩm tăng 0,54% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,16%.

Nhóm tăng giá cao thứ hai là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép khi đạt mức 0,32% so với tháng trước. Do thời tiết chuyển mùa và chuẩn bị bắt đầu khai giảng năm học mới, nhu cầu mua sắm quần áo cũng tăng cao hơn, khiến chỉ số giá nhóm này tăng cao hơn so với mức tăng của tháng trước.
Nếu như các năm trước, CPI tháng 8 sẽ chịu tác động mạnh chủ yếu từ việc điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh và học phí thì năm nay cả hai yếu tố trên chỉ tác động rất nhỏ đến CPI, chỉ tăng ở mức thấp, cùng là 0,22%.
Một số nhóm hàng khác có tăng mức nhẹ. Cụ thể, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng ở mức 0,13%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,18%.
Về phía nhóm hàng giảm giá, có tới 3 mặt hàng giảm giá. Đó là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và bưu chính viễn thông. Trong đó, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm nhiều nhất với mức giảm 0,31%. Chỉ số giá nhóm hàng này giảm chủ yếu là giá gas nhập khẩu liên tục giảm khiến giá gas bán lẻ trong nước đồng loạt giảm khoảng 12.000 đồng/ bình 12kg.
Cũng do ảnh hưởng từ giá thế giới, giá xăng dầu bán lẻ trong nước được điều chỉnh giảm 2 đợt liên tiếp cũng là nguyên nhân chính khiến chỉ số giá nhóm giao thông giảm nhẹ 0,02% so với tháng trước.
Nhóm bưu chính viễn thông vẫn giữ “truyền thống giảm” trong nhiều tháng qua với mức giảm tháng này là – 0,02%.
Trong tháng, hai mặt hàng đặc biệt là vàng và đô la Mỹ đã diễn biến cùng chiều khi cùng giảm so với tháng trước ở các mức tương ứng 0,34% và 0,26%.
Thu Phương
Theo tin Tạp chí Công thương
Ngành công nghiệp khai thác Titan: Bị “bó” bởi công nghệ và các loại phí
Khoáng sản Tian Việt Nam được dự báo có trữ lượng đứng thứ 2 trên thế giới, “thiên thời, địa lợi” nhưng hiện tại công nghiệp khai thác titan của Việt Nam vẫn chỉ được ví như những “con vịt xấu xí” do công nghệ lạc hậu, bị các loại thuế và phí kìm hãm.
CôngThương – 90% nhà máy titan tạm dừng
Theo thống kê của Hiệp hội Titan Việt Nam, hiện cả nước có trên 47 giấy phép khai thác titan đã được cấp và còn hiệu lực, với công suất trên 1,26 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, đánh giá của Hiệp hội Titan VN cho thấy, việc cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản titan, khai thác tận thu titan đang diễn ra tràn lan; khai thác các điểm mỏ chưa được thăm dò, đánh giá trữ lượng, khai thác không gắn với tuyển tinh làm thất thoát tài nguyên. Đặc biệt, do yếu về năng lực tài chính, chuyên môn nên doanh nghiệp titan đầu tư cho các nhà máy chế biến manh mún, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, không thân thiện môi trường dẫn tới chất lượng sản phẩm titan thấp, cộng với giá xuất khẩu titan trên thế giới giảm sâu khiến cho lượng titan tồn kho tăng cao.

Ông Nguyễn Thượng Đắt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Titan Việt Nam cho biết, titan tồn kho tăng từ 300.000 tấn năm 2013 lên gần 500.000 tấn vào thời điểm hiện nay. Nếu so với cùng thời điểm này năm ngoái, giá xuất khẩu các loại sản phẩm titan là ilmenite và rutile đã giảm 20 – 50%, dao động ở mức 60 -100 đô la Mỹ/tấn. “Sau khi trừ thuế, phí, chi phí khai thác, chế biến thì giá bán này không có lãi. Hiện cả nước có gần 70 nhà máy khai thác, chế biến titan lớn nhỏ với công suất gần 1 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, hiện đã có gần 90% nhà máy phải tạm dừng hoạt động do lượng tiêu thụ và giá bán sụt giảm hơn một năm nay”, ông Đắt cho hay.
Ông Nguyễn Quốc Hội, Tổng giám Công ty Cổ phần Khoáng sản An Khánh (Thái Nguyên) cho biết: Trong năm 2013 các doanh nghiệp chế biến khai thác quặng titan đã được Bộ Công Thương cho phép tiếp tục xuất khẩu giải phóng tồn kho. Tuy nhiên, thời điểm 2013 đến tháng 7/2014 titan không bán được dẫn đến tồn kho lớn. Điều nan giải là để giữ chân người lao động buộc doanh nghiệp phải duy trì sản xuất dẫn đến tồn kho ngày càng nhiều hơn.
Cũng theo ông Đắt, Các nhà máy khai thác titan hiện nằm rải rác ở các địa phương tập trung trữ lượng titan lớn như Bình Thuận, Bình Định, Thái Nguyên, Huế, Quảng Nam, Quảng Trị… Việc nhà máy titan dừng hoạt động kéo theo khoảng 70% lao động ngành khai thác, chế biến titan bị sa thải.
Muốn cất cánh, cần “cởi trói”
Với trữ lượng dự báo quặng titan khoảng 650 triệu tấn, đứng hàng thứ 2 trên thế giới, theo Quy hoạch dự kiến phát triển ngành titan VN, mục tiêu đến năm 2020 sẽ hình thành ngành công nghiệp titan với các sản phẩm chế biến sâu đến pigment và titan xốp để đảm bảo nhu cầu trong nước về pigment, xuất khẩu các sản phẩm xỉ titan, titan xốp, muối zircon oxychloride… Đến năm 2030, ngành công nghiệp titan phải phát triển ổn định và bền vững với trung tâm khai thác, chế biến quặng titan quy mô lớn, công nghệ tiên tiến tại Bình Thuận.
Theo các chuyên gia khoáng sản, nằm trên núi quặng với “thiên thời, địa lợi” nhưng ngành công nghiệp khai thác và chế biến titan phát triển rất chật vật, nguyên nhân chính được chỉ ra chính là công nghệ. Nếu nhập công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến thì doanh nghiệp không có khả năng về tài chính, còn sử dụng thiết bị sản xuất của Trung Quốc như hiện nay thì chất lượng titan sẽ không cao. Việc chuyển giao công nghệ đòi hỏi cần có sự hỗ trợ của Chính phủ để kết nối với những quốc gia có nền công nghiệp chế biến sâu titan rất hiện đại như Nga, Nhật, Mỹ. Nhà nước cần có chiến lược đào tạo nhân lực chuyên ngành, có thể là thành lập một viện nghiên cứu về titan hoặc những chuyên khoa về khai thác, chế biến sâu titan, về công nghệ thiết bị, tách quặng khoáng mỏ… “Nếu chúng ta không mạnh dạn đầu tư, không quyết tâm phát triển những khu công nghiệp chuyên sâu về chế biến titan thì chúng ta cũng không thể giành lấy cơ hội tạo ra giá trị thặng dư lớn với khoáng sản quý giá không thể tái tạo này” – ông Đắt chia sẻ.
Trong bối cảnh hiện nay, Chủ tịch HĐQT – Giám đốc Công ty CP khoáng sản Quảng Trị Lê Vĩnh Thiều cho rằng, Nhà nước cần điều chỉnh lại mức thuế tài nguyên và phí môi trường, đảm bảo sự cân đối giữa giá thành với giá bán của doanh nghiệp, hiện nay các doanh nghiệp titan phải chịu các khoản chi phí gồm: 10% thuế giá trị gia tăng, 16% thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu 30%, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 5%, thuế thu nhập doanh nghiệp 25%, tiền phí bảo vệ môi trường. Cộng gộp các khoản này lại tương đương với giá bán titan theo hình thức FOB.
Bên cạnh đó, để công nghiệp titan phát triển bền vững, theo ông Ngô Quốc Hội, Chính phủ cần phê duyệt quy hoạch chế biến sâu titan theo hướng liên kết vùng, liên kết giữa các doanh nghiệp để tránh tình trạng cấp phép đầu tư chế biến sâu tràn lan dẫn đến khủng hoảng thừa nguồn cung sản phẩm chế biến sâu nhưng lại thiếu nguyên liệu đầu vào.
Theo Báo Tài nguyên & Môi trường
Đánh giá thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2016-2020
Sáng ngày 28/8/2014, tại trụ sở Tập đoàn, TKV tổ chức Hội nghị đánh giá thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2016-2020 với sự tham gia của Hội đồng thành viên, Ban lãnh đạo điều hành Tập đoàn và giám đốc các đơn vị trực thuộc. Đồng chí Lê Minh Chuẩn – Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐTV kiêm TGĐ Tập đoàn chủ trì hội nghị.

Theo báo cáo do PTGĐ Tập đoàn Nguyễn Văn Biên trình bày tại Hội nghị, thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tập đoàn đã tập trung toàn bộ nguồn lực, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp với quyết tâm thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ được giao.
Ngay trong năm 2011, năm đầu tiên thực hiện KH 5 năm (2011-2015), các chỉ tiêu SXKD của Tập đoàn đều hoàn thành ở mức cao như: than tiêu thụ 44,7 triệu tấn, lợi nhuận 8.632 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 16.150 tỷ đồng.
Tuy nhiên, liên tiếp các năm sau đó, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu nên tất cả các lĩnh vực SXKD của Tập đoàn đều bị ảnh hưởng. Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động SXKD của Tập đoàn. Đó là vấn đề thuế, phí tăng cao như thuế tài nguyên (năm 2007 là 7.000 đồng/tấn thì đến năm 2014 là 105.000 đồng/tấn), tiền cấp quyền khai thác 2%, phí sử dụng tài liệu thăm dò… Trong khi đó, điều kiện khai thác ngày càng khó hơn (do xuống sâu, hệ số bóc đất tăng, cung độ vận chuyển lớn) làm suất đầu tư cao, giá thành sản xuất tăng… Tổng hợp các chỉ tiêu 5 năm, sản lượng than, khoáng sản, điện… đều đạt thấp hơn so với KH đề ra; lợi nhuận từ 2012 đến nay giảm mạnh, chỉ còn khoảng 2-3 ngàn tỷ đồng/năm so với KH 7-9 ngàn tỷ đồng/năm.
Trước khó khăn, Công ty mẹ – Tập đoàn cùng các công ty đã có nhiều nỗ lực chung sức vượt khó. Theo PTGĐ Tập đoàn Nguyễn Văn Biên, nhiều giải pháp quan trọng trong tất cả các lĩnh vực SXKD, đầu tư XDCB và trong quản trị doanh nghiệp đã được Tập đoàn triển khai. Qua đó, từng bước ổn định sản xuất, việc làm và thu nhập cho người lao động; đồng thời đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Song song với đó, Tập đoàn tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng các mỏ, các dự án trọng điểm quyết định phát triển của Tập đoàn; Hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện tái cơ cấu theo tiến độ.
Từ kết quả thực hiện KH 2011-2015, đặc biệt là dựa trên mục tiêu tổng quát Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020 theo Chỉ thị số 22/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Tập đoàn đề ra mục tiêu phát triển giai đoạn 2016-2020 là: Phát triển Tập đoàn TKV trở thành Tập đoàn kinh tế vững mạnh, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu sau: công nghiệp than, công nghiệp khoáng sản, công nghiệp điện, công nghiệp VLNCN, cơ khí mỏ và phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ hỗ trợ phù hợp. Tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu bình quân giai đoạn 2016-2020 là 6,5 – 7%/năm với cơ cấu hợp lý giữa các lĩnh vực trên. Trước đó, Tập đoàn cũng đã có văn bản số 2256/TKV – KCL báo cáo tình hình thực hiện quy hoạch phát triển ngành Than đến 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 gửi Bộ Công thương, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, kiến nghị điều chỉnh các dự án trong quy hoạch cho phù hợp với thực tế thăm dò, khai thác của Tập đoàn hiện nay. Trên cơ sở này, Tập đoàn dự kiến một số chỉ tiêu KH 2016-2020 như sản lượng than 41,8 triệu tấn/năm, doanh thu 159.600 tỷ đồng.
Để thực hiện thắng lợi KH 5 năm 2016-2020, Chủ tịch HĐTV – Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, Tập đoàn cần triển khai thực hiện tốt 2 nhóm giải pháp chủ yếu ngay từ bây giờ. Một là, đẩy mạnh đầu tư, đảm bảo tiến độ các dự án quyết định tăng trưởng của Tập đoàn. Hai là, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý. Cũng theo chỉ đạo của Chủ tịch HĐTV – Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn, Tập đoàn sẽ quyết liệt trong điều hành SXKD, phấn đấu năng suất lao động tổng hợp hàng năm phải tăng ít nhất 5%, chi phí hằng năm phải giảm từ 3-5% so với năm trước; hướng đến mục tiêu xây dựng Tập đoàn TKV năng suất, hiệu quả, tuân thủ pháp luật.
Tác giả bài viết: H.M
Nguồn : Vinacomin.vn
Chính quyền điện tử: Nâng cao năng lực cạnh tranh
Sáng nay (29/8), tại TP. Hạ Long – Quảng Ninh, Hội thảo hợp tác phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ 18 với chủ đề “Chính quyền điện tử: Hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư” đã chính thức khai mạc.
CôngThương – Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của gần 800 đại biểu từ các bộ, ngành, Trung ương, lãnh đạo của 59/63 tỉnh, thành, các hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia hàng đầu về CNTT trong cả nước.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Minh Hồng – Thứ trưởng Bộ TT&TT cho biết, từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, thể hiện qua nhiều văn bản quan trọng như: Nghị quyết 36 – NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Bộ chính trị; Quyết định 109/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về ứng dụng CNTT. Tất cả sự quan tâm này đều nhằm tới mục đích phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách bền vững.
Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng phát biểu khai mạc.
CNTT là động lực thúc đẩy quá trình cải cách hành chính vừa là điều kiện để cải cách hành chính thành công. Phát triển Chính phủ điện tử sẽ giúp đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tăng cường năng lực quản lý của chính quyền, giúp nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ để đưa ra các quyết định hành chính phù hợp, nâng cao hiệu lực pháp luật, giúp quản lý nhà nước hiệu quả, minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư.
Theo ông Hồng, Hội thảo hợp tác và phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ 18 sẽ là cơ hội để các địa phương, chuyên gia, doanh nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, đóng góp ý kiến, nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện cơ chế chính sách CNTT-TT quốc gia; Đây cũng là cơ hội giao lưu, trao đổi, chia sẻ nhiều sáng kiến, kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT tại các địa phương, từ đó xây dựng hướng đi, mô hình phát triển phù hợp trong thời gian tới.
Chia sẻ tại hội thảo, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh Phạm Minh Chính cho biết, đối với cải cách hành chính, tuy đã đạt được những bước đột phá nhưng còn một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế như tổ chức bộ máy ở một số đơn vị còn cồng kềnh, hoạt động chưa hiệu quả; thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực còn rườm rà; một bộ phận cán bộ chưa tích cực cải cách phương thức, lề lối làm việc, còn có biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu… gây ảnh hưởng đến tiến trình cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử.
Ông Phạm Minh Chính cho rằng, nền hành chính của Việt Nam thực hiện 2 chức năng cùng 1 lúc bao gồm chức năng quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Nó làm ảnh hưởng đến công tác quản lý điều hành, cũng giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Do đó để xây dựng chính quyền điện tử, cải cách hành chính có cơ chế hệ thống, đặc biệt phải tách được hai chức năng này.
Tại hội thảo, các đại biểu cũng đã nghe nhiều tham luận do các cơ quan nhà nước, các địa phương như một số định hướng về chính sách CNTT; kinh nghiệm triển khai hệ thống điều hành điện tử Quốc hội; Giải pháp tổng thể cho chính phủ điện tử của Microsoft; công bố báo cáo mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT của Việt Nam. Trong buổi chiều, sẽ có hai hội thảo chuyên đề bao gồm Hạ tầng thông tin trong định hướng xây dựng Chính quyền điện tử; Đầu tư và dịch vụ công nghệ thông tin với chủ đề Thúc đẩy thuê, sử dụng dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước.
Trong khuôn khổ hội thảo, đại diện doanh nghiệp cũng đã trao tặng cho Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Ninh 5 bộ máy tính và 5 bộ sản phẩm tự học với trị giá khoảng 70 triệu đồng.
Đình Dũng
Nguồn : baocongthuong.com.vn
8 tháng, Tập đoàn sản xuất 24,7 triệu tấn than, đạt 65,6% KH năm
Tại Hội nghị giao ban trực tuyến điều hành sản xuất kinh doanh tháng 9/2014 tổ chức sáng ngày 29/8/2014 tại trụ sở Tập đoàn, Chủ tịch HĐTV – Tổng giám đốc Tập đoàn Lê Minh Chuẩn đã đánh giá cao nỗ lực SXKD của CNCB toàn Tập đoàn cũng như kết quả đã đạt được, dù còn nhiều khó khăn do bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước chưa sáng sủa, sản xuất chịu tác động nhất định của yếu tố thời tiết.
Cụ thể, trong tháng 8 vừa qua, thời tiết mưa nhiều, lượng mưa đo được ở vùng Cẩm Phả lên tới 633mm/17 ngày… đã ảnh hưởng trực tiếp hoạt động sản xuất than của Tập đoàn. Do đó, các chỉ tiêu sản lượng chính của tháng 8 thấp hơn so với tháng trước như sản lượng than nguyên khai đạt 2,6 triệu tấn, sản lượng than tiêu thụ đạt 2,4 triệu tấn, bằng 6,8% KH năm; sản xuất khoáng sản: thiếc thỏi 95 tấn, kẽm thỏi 800 tấn, tinh quặng đồng 4.375 tấn, đồng tấm 940 tấn; sản xuất và tiêu thụ 330 triệu kWh điện. Doanh thu tiêu thụ than ước đạt 3.565 tỷ đồng; doanh thu tiêu thụ khoáng sản 468 tỷ đồng; doanh thu bán điện 543 tỷ đồng, doanh thu cơ khí 335 tỷ đồng…

Tính chung 8 tháng, sản lượng than nguyên khai đạt 24,7 triệu tấn, bằng 65,6% KH năm, sản lượng than tiêu thụ đạt 23,5 triệu tấn, bằng 67,1% KH năm. Doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 65.995 tỷ đồng, đạt 62,5% KH năm và bằng 113% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó: doanh thu sản xuất than đạt 34.605 tỷ đồng, bằng 65,2% kế hoạch năm, bằng 108% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sản lượng đất bóc và số mét lò đào đạt thấp.
Tháng 9, Tập đoàn đặt kế hoạch bốc xúc 17,5 triệu m3 đất đá, sản xuất 3,07 triệu tấn than, tiêu thụ 2,67 triệu tấn. Cùng với đó, tiếp tục duy trì tiến tới đẩy mạnh sản xuất khoáng sản, điện lực, cơ khí… Để đạt được kế hoạch này, Chủ tịch HĐTV – Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn yêu cầu các đơn vị cần tập trung đẩy mạnh khai thác và chế biến than, nhất là những đơn vị đang đạt sản lượng thấp, để đảm bảo đủ than cho khách hàng, phấn đấu tiêu thụ đạt tối thiểu 35,5 triệu tấn. Các đơn vị chế biến kinh doanh than cần tăng cường công tác chế biến đảm bảo đủ sản lượng Tập đoàn giao; chủ động phối hợp với các đơn vị sản xuất về nguồn cung ứng cho chế biến. Có vướng mắc cần báo cáo tập đoàn ngay để tháo gỡ; đồng thời triển khai thử nghiệm pha trộn than nhập khẩu để cung cấp cho thị trường nội địa.
Bên cạnh đó, Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị tiếp tục thực hiện các biện pháp tiết giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả SXKD, bám sát các cơ quan quản lý Nhà nước để giải quyết các kiến nghị về cấp phép, chính sách giá, thuế; Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong công tác quản lý tài nguyên trong ranh giới mỏ, ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác, chế biến và vận chuyển tiêu thụ than trái phép…
Phó TGĐ Tập đoàn Vũ Thành Lâm nhắc các đơn vị tăng cường kiểm tra các biện pháp phòng chống mưa bão, đề phòng mưa lốc, úng lụt, sạt lở đất và có phương án ứng phó kịp thời.
Trước mắt, trong dịp nghỉ lễ Quốc Khánh, Tập đoàn yêu cầu các đơn vị căn cứ theo KH sản xuất và tiêu thụ của đơn vị để bố trí nghỉ xen kẽ nhưng phải duy trì trực ban an toàn, bảo vệ tài nguyên trong ranh giới mỏ. Riêng công tác tiêu thụ vẫn bố trí làm việc bình thường để đảm bảo tiến độ giao than cho khách hàng.
Tác giả bài viết: H.M
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp bôxít
Ngày 4/9, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông sẽ chính thức tiến hành Lễ động thổ. Đây là dự án quan trọng về chế biến sâu khoáng sản, sản xuất nhôm kim loại đầu tiên tại Việt Nam, có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển đồng bộ ngành công nghiệp khai thác bôxít – chế biến alumin – điện phân nhôm ở nước ta.
CôngThương – Dự án điện phân nhôm đầu tiên ở Việt Nam
Dự án Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, do Công ty TNHH Luyện kim Trần Hồng Quân đầu tư tại Khu công nghiệp Nhân Cơ, huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông. Dự án có diện tích sử dụng 114 ha, thời gian xây dựng dự kiến 2 năm, sản xuất nhôm thỏi công suất 450.000 tấn/năm, tổng mức đầu tư 575 triệu USD. Dự án được đầu tư một lần nhưng trong quá trình đầu tư sẽ chia làm ba phân kỳ (Phân kỳ I: đạt công suất 150.000 tấn/năm vào cuối năm 2016; Phân kỳ II: đạtc ông suất 300.000 tấn/năm vào cuối năm 2017; Phân kỳ III: đạt công suất 450.000 tấn/năm vào cuối năm 2018, đầu năm 2019)
Đây là dự án trọng điểm của quốc gia, khẳng định tầm nhìn của Chính phủ tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bôxít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025. Nhà máy điện phân nhôm khi vận hành sẽ tạo điều kiện đồng bộ hóa và khép kín chuỗi công nghiệp khai thác bôxít – chế biến alumin – sản xuất nhôm thỏi và công nghiệp chế biến nhôm thỏi, có tác dụng hỗ trợ tích cực cho hiệu quả kinh tế Dự án Nhà máy alumin Nhân Cơ; là một mắt xích quan trọng kết nối công nghiệp bô xít và công nghiệp phụ trợ, có ảnh hưởng sâu rộng đến ngành nhôm nói riêng và nền công nghiệp nói chung.

Được biết, dự án điện phân nhôm do các đơn vị tư vấn hàng đầu trong ngành nhôm như Công ty Kỹ thuật HRV (Iceland), Công ty Tư vấn ngành nhôm ACE (Mỹ), Công ty Hữu hạn thiết kế Trung Nam CSUI (Trung Quốc). Công nghệ điện phân nhôm với dòng điện 500kA sản xuất nhôm kim loại thuộc loại công nghệ hiện đại nhất hiện nay trên thế giới và mới chỉ sử dụng ở 5 nhà máy điện phân nhôm tại một số nước. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, sản phẩm của dự án là nhôm thỏi phù hợp với các tiêu chuẩn thương mại quốc tế, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường và thay thế sản phẩm nhôm nhập khẩu.
Công trường nhà máy sản xuất alumina Nhân Cơ
Cùng với chế biến alumin của Vinacomin, nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông của Công ty TNHH Luyện kim Trần Hồng Quân sẽ là đầu tàu tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng “ngành kinh tế chủ lực” ở Tây Nguyên, trên cơ sở đó góp phần quan trọng để Tây Nguyên cất cánh trở thành trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính của khu vực cũng như căn cứ địa vững chắc về quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội xứng tầm là địa bàn chiến lược “Mái nhà của Đông Dương”.
Đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực
Với tiềm năng tương đối dồi dào về tài nguyên bôxít và nhu cầu nhôm ngày càng tăng cao cũng như lợi thế của nhôm kim loại trong nền kinh tế, Dự án điện phân nhôm Đắk Nông sẽ có vai trò tạo sự khởi đầu đột phá cho việc hình thành một ngành kinh tế quan trọng của nước ta trên nền công nghiệp bô xít – nhôm đồng bộ.
Dự kiến, nếu vận hành, trước hết, nhà máy sẽ đáp ứng nhu cầu nhôm (là loại nguyên liệu cơ bản của thế kỷ 21, về quy mô sản xuất và tiêu thụ đứng thứ 2 sau sắt và thứ nhất trong kim loại màu), thay thế nhập khẩu, góp phần cải thiện cán cân thương mại và cân đối ngoại tệ.
Thứ hai, giúp Nhà máy alumin Nhân Cơ của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam tiêu thụ toàn bộ sản lượng alumin ổn định và lâu dài. Giảm lưu lượng và chi phí vận chuyển, góp phần cải thiện hiệu quả của Nhà máy chế biến alumin Nhân cơ. Nếu hình thành nền công nghiệp bô xít – nhôm đồng bộ sẽ góp phần và tạo điều kiện xây dựng, phát triển, nâng cao hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn và Tây Nguyên, trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của Tây Nguyên.
Ngoài đóng góp cho NSNN và địa phương, sản xuất được nhôm trong nước sẽ góp phần tăng cường tính ổn định và chủ động hơn trong việc đáp ứng nhu cầu nhôm thỏi của nền kinh tế. Đồng thời, góp phần thiết thực hình thành và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp điện phân nhôm. Đến nay đã có một số đối tác liên hệ nghiêm túc với Công ty TNHH Luyện kim Trần Hồng Quân để hợp tác đầu tư sản xuất phần hạ nguồn của nhôm thỏi (cán kéo nhôm định hình, sản xuất vành bánh xe và các phụ kiện từ nhôm v.v.), hiệu quả kinh tế lan toả của khâu này rất lớn.
Điều đáng nói, dự án còn đem lại các lợi ích về xã hội như tạo việc làm trực tiếp trong Nhà máy điện phân nhôm khoảng 935 người (bình quân trong 15 năm). Ngoài số lao động trực tiếp làm ở Nhà máy, một số loại lao động khác sẽ có cơ hội cung cấp dịch vụ cho lao động trong Nhà máy như dịch vụ vệ sinh công nghiệp, ăn uống, nhà ở, giặt là, giữ trẻ, giải trí v.v… Đóng góp này của Dự án Nhà máy điện phân nhôm sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng của nông nghiệp và tăng tỷ trọng dịch vụ tại địa bàn tỉnh Đắk Nông, góp phần nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, an ninh quốc phòng, trật tự xã hội trên địa bàn và Tây Nguyên.
Quỳnh Minh
Nguồn : baocongthuong.com.vn
Đăk Nông: Khởi công Nhà máy điện phân nhôm
Sáng nay (4/09/2014), tại khu công nghiệp Nhân Cơ, huyện Đăk R’lấp, UBND tỉnh Đăk Nông đã phối hợp với Công ty TNHH luyện kim Trần Hồng Quân tổ chức Lễ động thổ khởi công Dự án nhà máy điện phân nhôm Đăk Nông.
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng phát biểu tại lễ khởi công nhà máy.
CôngThương – Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bí thư Tỉnh ủy Đăk Nông Trần Quốc Huy cùng đại diện HĐND, UBND, các bộ, ngành Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên… đã tham dự và cắt băng khánh thành.
Dự án nhà máy điện phân nhôm Đăk Nông được xem là một mắt xích quan trọng kết nối chuỗi sản phẩm từ alumin (sản phẩm đầu ra của hai nhà máy chế biến boxit tại Nhân Cơ và Tân Rai hiện nay) và công nghệ phụ trợ, có ảnh hưởng sâu rộng đến ngành công nghiệp nhôm nói riêng và nền công nghiệp nói chung.
Lễ động thổ dự án Nhà máy điện phân nhôm
Tổng mức đầu tư của dự án nhà máy điện phân nhôm dự kiến 575 triệu USD, do Công ty TNHH luyện kim Trần Hồng Quân làm chủ đầu tư (công ty sở hữu 100% vốn trong nước). Dự án với quy mô công suất 300.000 tấn nhôm/năm, định hướng tăng công suất lên 450.000 tấn nhôm/năm. Dự kiến, nhà máy bắt đầu có sản phẩm vào cuối năm 2016 và hoàn thành vào năm 2019. Sản phẩm đầu ra của dự án là nhôm, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu. Sản phẩm nhôm của nhà máy sẽ trở thành sản phẩm đầu vào của các ngành công nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng ô tô, xe máy, nhôm cuộn, nhôm định hình…
Công nghệ ứng dụng cho dự án là công nghệ điện phân, ứng dụng dòng điện 500kA do Tập đoàn Rio Tinto Alcan của Pháp cung cấp, là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẩm định công nghệ và cấp Giấy chứng nhận “hoạt động ứng dụng công nghệ cao” cho Dự án nhà máy điện phân nhôm Đăk Nông.
Các đại biểu dự lễ khởi công nhà máy
Theo tính toàn của chủ đầu tư, khi dự án có sản phẩm vào cuối năm 2016, doanh thu hàng năm kể từ năm hoạt động đầy đủ công suất đạt xấp xỉ 1,35 tỷ USD/năm.
Dự án nhà máy điện phân nhôm Đăk Nông đã được xem xét toàn diện về vấn đề môi trường và áp dụng các công nghệ xử lý tiên tiến trên thế giới; đảm bảo các chỉ tiêu đầu ra về tác động đến môi trường đất, nước, không khí, tham chiếu cả các tiêu chuẩn quốc tế ở mức yêu cầu khắt khe hơn quy định tại tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành. Dự án được các chuyên gia và cơ quan quản lý Nhà nước thẩm tra và đánh giá là có tác động tổng hòa về mặt kinh tế- xã hội rất lớn cho sự phát triển của tỉnh Đăk Nông và khu vực Tây Nguyên.
Tại lễ động thổ, Bộ trưởnng Vũ Huy Hoàng đánh giá cao sự nỗ lực của chủ đầu tư đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan và các cấp chính quyền ở địa phương triển khai dự án. Bộ trưởng cho rằng: Đây là Dự án nhà máy điện nhôm đầu tiên của Việt Nam. Việc xây dựng nhà máy có ý nghĩa quan trọng đặc biệt với tỉnh Đăk Nông, tạo sự đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động ở địa phương… Dự án sẽ đóng góp đáng kể cho sự phát triển của tỉnh Đăk Nông nói riêng, khu vực Tây Nguyên nói chung, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực Tây Nguyên và các khu vực khác trong cả nước. Dự án nhà máy điện phân nhôm Đăk Nông còn thể hiện quyết sách của Đảng, Nhà nước trong việc huy động các nguồn lực, các thành phần kinh tế tham gia vào các dự án lớn của đất nước.
Bộ trưởng đề nghị, các đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tiếp tục nghiên cứu các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện dự án, nhất là thực hiện tốt công tác giải tỏa, di dân tái định cư và đào tạo nguồn lao động cung cấp cho dự án..
Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông trao tặng Bằng khen các 2 tập thể và cá nhân, UBND huyện Đác R’lấp tặng giấy khen cho tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác giải phóng mặt bằng của dự án
Nhân dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông đã trao tặng Bằng khen cho 2 tập thể và 3 cá nhân. UBND huyện Đác R’lấp tặng giấy khen cho 4 tập thể, 9 cá nhân và có thành tích trong công tác giải phóng mặt bằng của dự án. Công ty TNHH luyện kim Trần Hồng Quân tặng quà cho 10 hộ gia đình chấp hành tốt chủ trương đền bù, giải tỏa, bàn giao mặt bằng để dự án sớm đi vào hoạt động.
Quỳnh Mỹ
Nguồn : baocongthuong.com.vn
Buộc TKV dừng thuê các doanh nghiệp bên ngoài: Giằng co trách nhiệm
Lâu nay, mỗi khi có chuyện than xuất lậu thì người ta thường đổ lỗi cho than “thổ phỉ”, nhưng thực chất khai thác theo kiểu thủ công của than “thổ phỉ” thì sản lượng chẳng đáng là bao, trong khi lượng xuất lậu lên tới hàng triệu tấn. Thực tế, những điều tiếng về việc doanh nghiệp (DN) bên ngoài lợi dụng các hợp đồng bốc xúc, vận chuyển đất đá để xúc than đem ra ngoài, dẫn tới tình trạng than lậu thêm “nóng”, chưa bao giờ chấm dứt.
Chấm dứt các hợp đồng trên, theo yêu cầu của tỉnh Quảng Ninh đối với Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), hy vọng sẽ tận diệt phần lớn nạn than lậu, nhưng sẽ gây khó khăn lớn cho các đơn vị của TKV, vì phải bỏ ra hàng ngàn tỉ đồng để làm các công việc hiện đang thuê các DN bên ngoài thực hiện…
Giải trình của TKV
Sau khi Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh trong Kết luận số 56, ngày 25.7.2014 đã yêu cầu TKV chỉ đạo các đơn vị trong ngành ngay trong quý III năm nay phải chấm dứt việc thuê các DN bên ngoài bốc xúc, vận chuyển đất đá, ngày 20.8.2014, UBND tỉnh Quảng Ninh lại có công văn số 4618, trong đó yêu cầu TKV nhưng ở mức “nhẹ” hơn: Trong năm 2014, xây dựng phương án chấm dứt việc thuê các DN bên ngoài bốc xúc, vận chuyển đất đá.
Nếu không thuê các DN bên ngoài, ngành than sẽ phải đầu tư thêm một khoản tiền rất lớn.
Theo TKV, hiện tại, mỗi năm các đơn vị trong ngành than thuê bốc xúc đất đá khoảng 55 triệu mét khối, khoan nổ mìn 1,2 triệu mét; số lượng thiết bị (hầu hết là của các DN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh) gồm 15 máy khoan, 60 máy xúc và 960 ôtô vận chuyển, giải quyết việc làm tương đương với số thợ vận hành khoảng 3.200 người.
Điều đó có nghĩa rằng, nếu chấm dứt các HĐ thuê bên ngoài, TKV sẽ phải đầu tư toàn bộ số máy móc, thiết bị trên, cùng với việc tuyển dụng thêm 3.200 nhân công; trong khi đó, số máy móc, thiết bị đó của các DN bên ngoài khả năng sẽ phải bán… sắt vụn.
Trong công văn gửi Tỉnh ủy Quảng Ninh mới đây, TKV cho rằng, việc TKV sử dụng năng lực của các DN trên địa bàn Quảng Ninh, tham gia các công đoạn bốc xúc, vận chuyển đất đá là đúng quy định hiện hành, pháp luật không cấm. Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển sản xuất một cách hiệu quả.
Lâu nay, tỉnh Quảng Ninh cũng có chủ trương này, như trong Thông báo số 112/TB-UBND, ngày 1.7.2008, của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, trong đó đồng ý với việc TKV ký hợp đồng thuê các đơn vị bên ngoài làm thuê cho TKV, nhằm phát huy đầu tư xã hội, tránh xáo trộn và cũng là phương thức giảm đầu tư trang thiết bị của TKV.
Liệu pháp sốc
Từ đầu năm đến nay, các lực lượng chức năng liên tục bắt được các tàu chở than không rõ nguồn gốc với số lượng rất lớn trên vùng biển Quảng Ninh. Nguồn than đó từ đâu và tại sao lại có số than đó vẫn đang được cơ quan công an tiếp tục làm rõ. Tuy nhiên, hằng ngày, vẫn tấp nập những đoàn xe bịt kín thùng từ các mỏ than đi ra, mà theo giới trong nghề, nếu không có lực lượng nào chặn lại để kiểm tra, thì cùng lắm, đó cũng chỉ là xe chở đất, đá có màu… đen, chứ ai dám khẳng định là than.
Đã có không ít ý kiến đề xuất dừng đột xuất các xe trên và kiểm tra thì sẽ rõ: Đất, đá có màu đen hay là than thực sự?
Thường xuyên làm như vậy một cách nghiêm minh và công bố công khai kết quả, sẽ không còn những xì xầm về chuyện xe chở đất, đá nhưng lại chở… “nhầm” than.
Tuy nhiên, nếu kiểm soát chặt ngay tại khai trường, thì cũng chẳng đến nỗi như “thả gà ra đuổi”. Việc đó hoàn toàn nằm trong tay chính quyền địa phương và ngành than.
Đề xuất của tỉnh Quảng Ninh về việc ngành than chấm dứt thuê DN bên ngoài bốc xúc, vận chuyển đất đá được ví như “liệu pháp sốc” – có thể hạn chế khá hiệu quả tình trạng than lậu, nhưng sẽ tổn hại rất lớn cho các DN làm ăn chân chính và bản thân ngành than.
Đảm bảo an ninh, an toàn trong việc khai thác, tiêu thụ than, rõ ràng cần thế chân kiềng: Chính quyền – TKV – doanh nghiệp vững vàng, nhưng hiện chưa đến mức đó, khiến than lậu vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái diễn. Tuy nhiên, việc Quảng Ninh yêu cầu ngành than chấm dứt thuê các DN bên ngoài lại mang nặng tính hành chính áp đặt.
Nguồn : laodong.com.vn
10 chương trình khoa học công nghệ trọng điểm giai đoạn 2011-2015
1. Chương trình cơ giới hóa, hiện đại hóa các mỏ than và khoáng sản
Tập trung nghiên cứu và phát triển áp dụng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ khấu than trong các lò chợ dài, lò chợ ngắn ở hầu hết các mỏ than hầm lò, với mục tiêu tăng gấp hơn 2 lần năng suất lao động và sản lượng lò chợ đã đạt được hiện nay bằng công nghệ nổ mìn, chống lò bằng các loại giá thủy lực di động trong cùng một điều kiện. Phát triển áp dụng rộng rãi các đồng bộ thiết bị đào lò bằng dàn khoan, máy bốc xúc hoặc máy liên hợp đào lò với đồng bộ dây chuyền vận tải phù hợp để tăng tốc độ đào lò đá trên 100 mét/tháng. Áp dụng rộng rãi các loại vì neo bê tông cốt thép, neo dẻo cốt thếp, bê tông phun ở các đường lò; giải quyết hiệu quả, an toàn vấn đề vận tải, đổ thải, thoát nước cũng như mối quan hệ khai thác hầm lò – lộ thiên đối với các mỏ lộ thiên xuống sâu và khai thác hầm lò dưới đáy các mỏ lộ thiên.

2. Chương trình phát triển công nghệ tuyển, chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sử dụng than và các loại khoáng sản
Tiếp tục phát triển áp dụng công nghệ tuyển huyền phù tự sinh, huyền phù manhetit, bàn đãi khí, máy lắng lưới chuyển động… để tận thu than trong bã sàng và than nguyên khai chất lượng thấp; tăng cường nghiên cứu và đưa vào áp dụng các thiết bị tiên tiến thu hồi cấp hạt mịn như máy tuyển đa trọng lực để tận thu triệt để cấp hạt mịn trong quặng nguyên khai và các bãi thải trước đây; tập trung nghiên cứu lựa chọn công nghệ tiên tiến phù hợp để tuyển sâu các loại quặng bauxit, sắt, titan.
3. Chương trình thiết kế, chế tạo nội địa hóa các sản phẩm cơ khí, chế tạo máy, thiết bị điện, điện tự động hóa
Tập trung nghiên cứu, đầu tư đổi mới, hiện đại hóa công nghệ sửa chữa và chế tạo ở các nhà máy cơ khí, đặc biệt ở các khâu kiểm soát chất lượng vật liệu và sản phẩm, khâu đúc, hàn…; đầu tư nghiên cứu thiết kế dây chuyền công nghệ sản xuất chính ở các mỏ lộ thiên, hầm lò…
4. Chương trình giảm thiểu và phòng chống ảnh hưởng bất lợi của điều kiện tự nhiên vào quá trình khai thác mỏ, đảm bảo sản xuất an toàn
Tăng cường nghiên cứu các giải pháp ổn định bờ moong lộ thiên sâu, nghiên cứu dịch động đá mỏ và bề mặt đất đá do ảnh hưởng của khai thác hầm lò, ứng dụng công nghệ kiểm soát nước mỏ, ngăn ngừa nguy cơ bục nước, kiểm soát khí mỏ, cháy mỏ trong quá trình khai thác các mỏ hầm lò.
5. Chương trình khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên than – khoáng sản
Nghiên cứu công nghệ thu hồi và sử dụng khí mê tan trong quá trình khai thác mỏ, nghiên cứu sử dụng đá xít từ quá trình sàng tuyển than ở các mỏ và nhà máy tuyển để sản xuất điện; nghiên cứu sử dụng xỉ thải các nhà máy điện làm gạch không nung, phụ gia xi măng; nghiên cứu tái sử dụng bùn đỏ từ các nhà máy Alumin Tân Rai (Lâm Đồng)…
6. Chương trình phát triển năng lượng thay thế và vật liệu mới
Nghiên cứu công nghệ khí hóa than để sản xuất methanol và dầu DME; nghiên cứu phát triển công nghệ than đóng bánh thay thế than cục; nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu huyền phù than thay thế dầu, khí đốt cho các nồi hơi công nghiệp…
7. Chương trình tiết kiệm năng lượng và phát triển công nghệ thông tin
Thực hiện kiểm toán năng lượng và các giải pháp tiết kiệm năng lượng ở tất cả các doanh nghiệp, xây dựng mô hình doanh nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành và kiểm soát các quá trình sản xuất, ứng dụng các phần mềm quản lý phục vụ quản trị doanh nghiệp và kinh doanh…
8. Chương trình nghiên cứu công nghệ khai thác trong điều kiện đặc biệt
Tập trung nghiên cứu công nghệ khai thác than dưới các moong mỏ lộ thiên, dưới các bãi thải mỏ, công trình công nghiệp ở Quảng Ninh và bể than Đồng bằng Sông Hồng; nghiên cứu công nghệ và các giải pháp kỹ thuật đảm bảo khai thác an toàn và hiệu quả mỏ sắt Thạch Khê, các mỏ Bauxit ở Lâm Đồng, Đắc Nông.
9. Chương trình phát triển mô hình sản xuất sạch hơn, an toàn hơn
Thực hiện kiểm toán môi trường và kiểm toán an toàn ở các doanh nghiệp trong Tập đoàn, áp dụng các giải pháp tổng thể ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và nguy cơ xảy ra mất an toàn ngay từ khâu sản xuất và quản lý.
10. Chương trình nâng cao năng lực quản lý và tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ
Đánh giá trình độ công nghệ ở các doanh nghiệp và toàn Tập đoàn, đào tạo cán bộ khoa học, quản lý, xây dựng các phòng thí nghiệm, hình thành hệ thống quản lý chất lượng, sở hữu công nghiệp, năng lực thông tin.
Tác giả bài viết: P.V
Nguồn : Vinacomin.vn
Khai mạc Hội diễn Nghệ thuật quần chúng TKV năm 2014
Hội diễn Nghệ thuật quần chúng TKV năm 2014 chào mừng 20 năm thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) 10/10 (1994 – 2014) đã khai mạc tối qua 22/9 tại Cung Văn hóa Lao động Việt – Nhật, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Tới dự có đồng chí Vũ Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ban ngành tỉnh Quảng Ninh; lãnh đạo thành phố Hạ Long; đồng chí Lê Minh Chuẩn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc và các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn; lãnh đạo các đơn vị thành viên, các diễn viên và đông đảo khán giả vùng Mỏ.
Phát biểu khai mạc, đồng chí Ngô Hoàng Ngân, Phó TGĐ Tập đoàn, Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh, Trưởng Ban Tổ chức Hội diễn đã chào mừng 36 đoàn NTQC với gần 1000 nam, nữ diễn viên đến từ các Tổng Công ty/Công ty, đơn vị trực thuộc Tập đoàn ở khắp các vùng miền trong cả nước đã về tham dự, đồng thời nhấn mạnh Hội diễn là một hoạt động lớn nằm trong chuỗi các hoạt động của TKV chào mừng kỷ niệm 20 năm thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn TKV), thông qua Hội diễn nhằm đẩy mạnh phong trào văn hóa văn nghệ, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của CNVC trong Tập đoàn, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua lao động sản xuất, hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ năm 2014 của các đơn vị và toàn Tập đoàn.
Thành phần Ban giám khảo Hội diễn năm nay có sự tham gia của các nhạc sỹ, nghệ sỹ có tên tuổi như Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội nhạc sỹ Việt Nam; NSND Quang Thọ…
Mở đầu Hội diễn là tiết mục hợp ca nam nữ với bài hát “Đất mỏ anh hùng” của cố nhạc sỹ Xuân Giao do nam, nữ diễn viên Cơ quan Văn phòng Tập đoàn biểu diễn, có sự tham gia của Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc Lê Minh Chuẩn và các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn, tiếp theo là các chương trình nghệ thuật hoành tráng của các đoàn Tổng Công ty Khoáng sản – Vinacomin, Công ty Tuyển than Cửa Ông và Công ty Than Hòn Gai với các tiết mục đặc sắc ca ngợi Đảng, Bác Hồ, đất nước, biển đảo quê hương và đặc biệt là các tiết mục phản ánh, khắc họa hình ảnh lao động sản xuất của các đơn vị, ca ngợi ngành Than – Khoáng sản, chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển của Tập đoàn TKV, ca ngợi người công nhân lao động…, như các tiết mục: hát múa “20 mùa xuân Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam” của Công ty Tuyển than Cửa Ông; múa “Bước chân người thợ mỏ” của Công ty Than Hòn Gai; màn hát múa “Chúng tôi người công nhân khoáng sản” của Tổng Công ty Khoáng sản…
Hội diễn được tổ chức từ 22/9-27/9/2014, công diễn và trao giải vào tối 28/9/2014 tại Quảng trường 12/11, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, chương trình được truyền hình trực tiếp trên sóng Truyền hình Quảng Ninh.
Một số hình ảnh:

Nguồn : Vinacomin.vn



















